Mộc hương cuối mùa thu – Truyện của Nguyễn Hải Yến – Kỳ 2

Vanvn- Đã thành lệ, từ ngày tôi về với bà, cứ mỗi mùa thu, những đêm mộc hương nở rộ, bà lại bảo tôi mở cửa để đón mùi hoa vào ủ cho gốm thở, thâu đêm. Bà bảo làng mình xưa nhà với tường toàn xây bằng gốm vỡ. Chỉ cần cát vôi và mật mía rồi khéo tay đan gác là thành khối nên hình. Căn nhà bà con mình đang ở đây cụ ngoại kén từng cái tiểu sành. Mấy trăm cái, cái nào cũng là hàng quá lửa. Dẫu bị co, lún hay bị xé đều lên mã mật, nắng chiếu vào đổi ánh xanh như ánh thép. Kiểu nhà này tường rỗng, khi hương mộc đựng đầy trong đó sẽ cả bốn mùa thơm. Bà không biết điều này, đến tận khi mẹ con đem cây về trồng, qua mấy mùa hoa mới phát hiện ra. Mùi mộc hương ngọt sâu quẩn trong mùi gốm ấm mỗi năm một đằm. Mùi hoa đất đấy con… Cơ nghiệp tổ tiên để lại bà chẳng còn giữ được gì ngoài căn nhà và khoảnh vườn này. Ông nội con và bác Phú bảy lượt dăm lần đòi phá nên bà đã di chúc, giấy tờ  đủ cả… Giờ chỉ trông vào con. Nhờ con sau này…

Nhà văn Nguyễn Hải Yến

>> Mộc hương cuối mùa thu – Kỳ 1

Tôi nâng đôi bàn tay bà lên trước ánh đèn. Đôi bàn tay phù thủy gốm với những ngón dài héo quắt nằm im trong tay tôi – đôi bàn tay hơn mười năm dạy tôi chuốt gốm bằng bàn xoay trong góc xưởng của riêng mình. Tôi bảo bà cười một lần cho con xem. Từ ngày về chẳng khi nào con thấy bà vui… Con biết bà khổ tâm. Bên chồng, bên con, bên cơ nghiệp tổ tiên, xô phía nào cũng vỡ. Ông nội con là người giỏi. Lại thức thời, đầu tư cho hai con theo nghề chứ không chỉ loanh quanh cha truyền con nối… Bố con tốt nghiệp chuyên ngành gốm Mĩ thuật Công nghiệp. Bác cả  được gửi sang tận Cảnh Đức Trấn  học… Mới đầu ông nhà mình cũng chỉ là mê chỗ đồ cổ bố vợ để lại, sau đi khắp nơi lùng tìm thêm gốm cổ của Việt Nam và Trung Quốc. Rồi cho nghiên cứu. Từ kiểu dáng, hoa văn đến chất liệu xương gốm, tuổi men. Cả độ nung… Thử nghiệm kì đến khi thành công mới tung ra hàng loạt. Cả một vùng chỉ duy nhất lò gốm họ Mai làm được hàng giả cổ cao cấp thế… Trừ chi phí ban đầu, vốn bỏ ra ít mà thu lời cao… Ông nội con tài. Cả vùng ai cũng phục…

Bà nhắm mắt. Tôi lặng im nghe. Ngoài kia gió nổi đưa sương đêm theo hương mộc tràn vào lẫn với ánh đèn nhập nhòa quầng đục. Bóng bà sẫm, ẩn trên màu tường gốm, chảy xuôi xuống, loang như vệt gốm thở dài.

“Chỉ tiếc sau này ông ấy chuyển sang làm đồ cổ giả. Cái đấy là lừa người. Tiền nhiều lắm nhưng cái tâm nghề gốm không còn… Bố mẹ  mày bỏ đi cũng là vì thế”.

“ Đêm ấy bà cũng biết nhưng không cản phải không bà?”.

“Bà biết… Kể cả chuyện chúng nó mang theo một chiếc trong  đôi bình “Vĩnh kết đồng tâm”…

 ***

 “Đúng rồi cô! Trong số những món đồ cổ cụ ngoại cô để lại có đôi bình sứ Khang Hi cực kì đặc biệt. Trước sau chưa từng thấy bao giờ…”.

Ông lão đỡ chiếc bình đặt vào vạt nắng bên cửa sổ. Một dải mắt hoa gạo bé xíu rỗng mờ trên thân bình bắt nắng sáng rực lên, nối tiếp nhau chuyển động thành một dòng sông trong suốt, chảy không ngừng.

“Đây là chiếc bình sứ Thanh Hoa Ngũ Thái. Nhìn bằng mắt thường cũng thấy, chỉ một màu xanh cobalt nhưng tùy bút lông người vẽ đẫm hay lướt mà thành năm màu hoa văn đậm nhạt khác nhau trên nền trắng phủ men trong. Loại sứ này còn được gọi là Thanh Bạch Từ Khí. Được làm giữa đời Khang Hi…”.

“Con chỉ nhìn bên ngoài, chuốt theo dáng và vẽ theo mẫu. Còn đời nào thì chưa rõ lắm…”.

“Thế mới nói. Ngày xưa chúng tôi làm đồ giả cổ cũng mỗi người một khâu. Ai chuyên việc nấy. Loại bảo vật này một người làm không nổi cô ạ. Cô nhìn đây, cái bình này là đồ sứ cao cấp lò quan, sử dụng Minh Châu Liệu, một màu men của tỉnh Vân Nam nên hoa văn tươi, trong suốt, sáng nhưng êm chứ không chóe mắt như đồ sứ mới. Thai thổ tinh luyện không lẫn tạp chất nên đáy bình vẫn nguyên màu trắng ngọc, không biến đỏ như sứ thời Minh. Thai thể mỏng như giấy, gõ nghe đanh, ngân nét dài và mảnh như chuông… Còn nữa, hiệu đề “Đại Thanh Khang Hi niên chế” dưới đáy này được viết tự do chứ không đậm nét như thời kì đầu cũng không khuôn thước như giai đoạn cuối… Nhưng tất cả những cái đó không tạo nên giá trị đặc biệt của chiếc bình này…”.

“Con biết. Đặc biệt ở chỗ nó có một đôi. Nếu đặt cạnh nhau sẽ thành một bức tranh…”.

“Cũng cùng đề tài “Vĩnh kết đồng tâm” nhưng cực kì phóng khoáng, không theo bất cứ một mẫu nào. Chiếc bình kia vẽ xuôi từ trên xuống. Núi rừng, đầu nguồn, gốc cổ thụ… Còn chiếc này vẽ ngược lên, tiếp tán cây, dòng sông, ruộng đồng… Đặt chúng cạnh nhau, nhìn từ phía nào cũng thấy cây chung gốc, núi liền núi, sông liền sông”.

“Vâng ông! Còn kĩ thuật chạm rỗng men thủy tinh cả một dòng sông. Nếu bắt sáng sẽ chuyển động không ngừng … Sứ Linh Lung và Thanh Hoa Ngũ Thái  Cảnh Đức Trấn Trung Hoa kết hợp đến đỉnh cao. Độc bản. Gần như còn mới nguyên. Mấy mươi năm trước nó đã có giá tính bằng vàng. Mười cây cho cả bộ… Ấy là giá lúc đầu ông ạ. Sau đó còn được đẩy cao gấp nhiều lần… Không chỉ vì nó đẹp mà còn bởi có truyền thuyết rằng ai sở hữu đôi bình này thì làm gì cũng thuận. Việc lớn việc nhỏ, nội gia ngoại quốc chỉ cần hô một câu là trên dưới đồng lòng, rồi mát mái xuôi chèo thuận dòng, êm như nước… Giới cổ vật săn đôi này ghê lắm… Vì thế ông con mới quyết tâm làm giả… Gia đình con li tán cũng bắt đầu từ đây… ”.

 ***

Tôi ngồi xuống, đối diện với ông lão. Giữa chúng tôi, trên chiếc bình Thanh Hoa Ngũ Thái, dòng sông ánh sáng vẫn chảy không ngừng.

“ Thực ra từ trước đó chúng tôi đã làm nhiều món đồ giả theo ý ông nội cô. Nhưng đến đôi bình này thì có chuyện. Bố cô phản đối. Bảo với tôi rằng thầy con bắt mọi người đem gà tráo phụng như thế đủ rồi. Người ta mê cổ vật, bỏ cả đống tiền, có khi khuynh gia bại sản mà chỉ rước về đồ giả, lừa nhau thất đức thế này con không làm nữa. Con mê gốm, chú biết rồi. Chú cũng biết con ước có một lò gốm của riêng con, nhỏ  cũng được, nhưng chuyên gốm Việt. Gốm ấy chuốt từ đất mình, men tro men hoa biến màu theo ý thích, nồng hơi lửa và biết thở trên tay người, chứ cứ làm giả theo mẫu mãi như thế này chúng con chỉ thành thợ chép… Bố cô nói điều này vào một buổi chiều cuối mùa thu. Lúc ấy, xưởng gốm ngập hoàng hôn. Mẹ cô và cậu Vinh đang dọn đồ chuẩn bị nghỉ. Vẫn giống bao nhiêu ngày khác. Thản nhiên như không. Thế mà đến đêm, chúng nó trốn đi lúc nào không biết… Ông nội cô giận lắm. Thuê cả người đi tìm. Còn bảo nếu thấy cứ đánh nát hai tay trước rồi dẫn về sau. Cô bảo ông ấy ác? Đúng thế. Chung quy tất cả cũng vì tiền. Ba thợ giỏi nhất bỏ đi, lửa lò thành lom rom, làm việc gì cũng khó. Lại thêm cái bình Vĩnh Kết Đồng Tâm… Tôi hiểu bố cô mang theo không phải vì tiền mà chính là chặn cơ hội làm giả nhưng ông cô thì không nghĩ thế… Cả chuyện mẹ cô…”.

“Con biết… Ông muốn mẹ con lấy bác Phú… Ông đánh tiếng lâu rồi nhưng mẹ con không đồng ý…”.

“Khi vỡ lẽ, cậu Phú hận lắm. Cũng thuê lùng đông kiếm tây. Ba bề bốn bên cứ nơi nào có đất gốm là tìm. Thế mà mấy đứa giỏi, bặt tích dễ đến bảy năm. Mãi sau này tôi mới biết, ông cụ gốm Cậy trước khi mất có kể cho cháu nghe về một vùng đồi hoang vu sâu trong rừng Ngũ Nhạc. Là Trúc Thôn, Trúc Ổ bây giờ. Ở đó có mỏ đất sét nạc, lại đủ cả hai màu hoa đào và hoa sim. Ông cụ phát hiện ra trong một lần ngược dòng Thái Bình lên Chí Linh tìm đất, cũng chưa từng nói với ai nên ông nội cô mới không tìm thấy. Sau này bố mẹ cô xảy ra chuyện, tôi cũng đến nhưng muộn mất rồi. Nói thật với cô, tôi cố nún nán mãi ở nhà họ Mai cũng chỉ vì thương bà lão. Nhưng sau đận ấy, tôi đi. Tiền và hận thù biến người ta thành ác, không nhìn mặt nhau được nữa…”.

“Đêm ấy lạnh và mưa phùn… Bố con ở lại bên xưởng. Chú Vinh không có nhà. Con còn nhớ mẹ bảo chú về gốm Cậy thắp hương cho cụ. Sắp tết rồi. Giờ con ngủ đi. Tí mẹ cũng sang bên đảo. Phải chuẩn bị nhiều thứ lắm. Nhà mình sẽ đốt lò vào đúng ba mươi. Lửa gốm sẽ cháy qua giao thừa sang năm mới. Con sẽ có đồ chơi bằng gốm do chính tay mình làm. Cửa sổ cứ để mở thế này, mưa mờ nhưng vẫn thấy đảo. Bố mẹ ở chỗ quầng đèn vàng kia. Giờ sang đấy phải chèo thuyền nhưng đến khi con lớn mẹ sẽ có một con đường nối đôi bờ bằng gốm vỡ. Lúc ấy, mẹ sẽ trồng hai bên đường chỉ một loài hoa để ủ hương cho gốm… Thế rồi mẹ con đi ông ạ… Mưa nặng hạt. Con không thấy ánh đèn mà chỉ nghe tiếng sóng… Cả tiếng mưa trên mặt hồ… Đêm ấy, con cũng ngồi đây, đúng chỗ cửa sổ này, lắng theo tiếng mẹ. Bờ bên kia không mưa vì con thấy vệt đèn trôi về phía xưởng. Rồi bất chợt con nghe tiếng người… Lúc đầu nhỏ. Sau ồn ào mãi lên thành quát tháo… Tiếng đập phá… Rồi lửa bùng lên từ chỗ bố con đang ngồi. Tiếng mẹ con gào khóc… Lúc ấy, con mở cửa định chạy xuống nhưng chợt nhớ lời mẹ dặn, lại quay vào… Vâng! Mẹ con dặn khi có chuyện chỉ cần lật viên gạch gốm này lên, chui xuống, nằm im bên hòm gỗ. Nếu ngoan không khóc thì mẹ sẽ về… Đêm ấy con không khóc. Kể cả lúc có tiếng chân người lạ vào nhà, lục tìm gì đó, soi đến từng ngách nhỏ. Rồi tiếng người… Giọng nói ấy con không bao giờ quên… Sau này gặp, nghe là nhận ra ngay ông ạ…”.

“Xưởng bốn bề là củi. Lối ra còn bị chặn. Kẻ ấy cố tình thiêu bố cô cùng gốm. Mẹ cô không cứu nổi chồng. Lửa ăn gần hết đôi bàn tay chuyên cầm bút vẽ… Khi biết tin, tôi đến, đã muộn rồi…”.

“Sau chuyến ấy ông cũng bỏ đi. Không còn thợ giỏi làm hàng cao cấp, lò gốm nhà họ Mai đành quay về hàng chợ, rót khuôn hàng loạt, chập chờn lửa lò tháng có tháng không. Ngày con về bà đã xuống ở hẳn nhà gốm giữa vườn cây. Một xưởng nhỏ và một lò gốm nhỏ, con quẩn quanh với bà ở đó học nghề… Người làng đồn con là thần đồng. Là con của Tổ gốm. Muốn làm cái gì cứ đặt tay vào là được… Nhưng con không nghĩ thế. Con nên nghề là bởi được học bà và mẹ. Nhưng hai người ấy chỉ giỏi chuốt, giỏi vẽ mà không giỏi về men. Và bà nói đúng, một mình con không làm nổi gốm. Con kể ông nghe, ngày bà mất để lại cho con khoảnh vườn có ngôi nhà và lò gốm, con bảo bác Phú tất cả gia tài của bà giờ là của cháu, sơ đồ đất đây, bác nhìn đi, nếu cháu xây tường bao cái sân sẽ chia đôi và lối vào xưởng gốm của bác sẽ không còn. Bác đừng dọa. Bà là chủ sở hữu đất này, giấy tờ công chứng đủ cả, bác không kiện cháu được đâu. Giờ cháu chưa dùng đến, tạm thời cho bác mượn, nhưng cháu đòi lúc nào nên lúc bấy giờ. Còn nữa, nếu bác vẫn muốn thuê cháu làm thợ chính phải đồng ý với cháu hai điều. Thứ nhất, lương tháng của cháu sẽ gấp đôi thợ thường. Thứ hai, cháu không thích chỉ làm hàng rót khuôn, men công nghiệp, đốt lò gas, bác phải khôi phục một lò truyền thống. Lò nhà bác sẽ bắt đầu làm lại gốm cổ. Hàng chuốt, vẽ tay, men đất, men hoa, mỗi cái một thần thái do hỏa biến sẽ được giá hơn hàng trăm cái một khuôn. Và mỗi lần vào lò củi bác phải dành riêng cho cháu một bầu. Cháu làm hàng của cháu…”.

“Thế bác cô đồng ý ngay à?”.

“ Không ông ạ. Bác ấy bảo cháu hợm tài, chỉ biết đến tiền, bắt ép người nhà quá đáng. Bảo mày được thế là từ đâu mà ra. Còn cháu chỉ bảo bác nghĩ kĩ đi. Thời buổi này thợ như cháu không sẵn. Nếu thuê cháu bác được nhiều hơn mất…”.

Ông lão trước mặt tôi gật đầu cười. Ánh mắt hiền và lấp lánh vui,  hệt như ánh mắt bà tôi trong buổi chiều ngồi nghe tôi nói sau này con dành tiền rồi mở lò gốm của riêng mình. Lò gốm ấy ở giữa hồ, trên đảo Mộc Hương. Sẽ chỉ làm gốm Việt từ đất, từ nước, từ lửa của mình như bà, như bố mẹ và chú Vinh con. Bà bảo ừ, ngày bố mẹ mày bỏ đi tìm đất gốm mới bà đã định đi theo nhưng giời buộc chân bắt ở. Sau này nhớ lấy nắm đất trên mộ bà đem về bên bố mẹ. Nếu giời thương, còn nhen lại được lửa gốm cổ, cả nhà mình sẽ cùng làm… Mày chuốt gốm giờ giỏi hơn bà lại giống mẹ giời cho tay vẽ nhưng đơn thương độc mã. Muốn thành phải tìm người giúp… Người ấy ở lò gốm cổ ở chân đồi Ngũ Nhạc, cách Trúc Ổ chừng hơn chục cây số đường đèo… Bà con nói điều đó trước khi mất. Năm ấy con tròn hai mươi tuổi…

“Thế mà bảy năm sau cô mới về Ngũ Nhạc tìm tôi. Cô bảo muốn quay về đảo, tất cả làm lại từ đầu phải có tiền. Côở lại làm thuê cho bác cả cũng vì tiền… Nhưng tôi biết đấy chỉ là cái cớ. Còn điều này quan trọng hơn. Mấy năm cuối đời ông cô nằm liệt. Cô đón ông ấy xuống nhà gốm giữa vườn cây…”.

“Vâng ông. Có lần con kể cho ông con nghe về  giọng nói của người đàn ông trong cái đêm xưởng cháy. Bảo sau này khi gặp bác Phú ở bến đò con nhận ra ngay. Bác ấy nợ con nhiều thứ lắm. Bây giờ con chỉ còn ông. Ông đừng lo. Con không bỏ đi đâu.  Bao giờ ông mất con mới về đảo gốm… Mà nhanh ông nhỉ. Loáng cái hơn hai mươi năm…”.

 ***

Hơn hai mươi năm, ngôi nhà gốm lưng chừng dồi đón tôi trở về vẫn nguyên màu cũ. Bây giờ là cuối mùa thu, cây mộc hương vẫn  lặng lẽ buông từ nách lá những nhánh bông li ti màu vàng ngà điểm đôi chấm ngả sang trắng sữa. Đứng ở bất cứ đâu trong ngôi nhà này, bên hiên mộc hương, trên khoảnh sân bé xíu lát bằng những viên gạch gốm trầm trầm màu men đất  hay sau khung cửa sổ song tiện nhìn về phía trước vẫn thấy trọn vẹn một hồ nước mênh mông thấu cả đáy sỏi vàng. Hòn đảo giữa hồ vẫn thế, tách biệt hẳn với đất liền vì con đường độc đạo bằng gốm vỡ dẫn từ đó ra hơn hai mươi năm vẫn chìm sâu trong nước. Tôi bảo mẹ con gọi đảo ấy là Đảo Mộc Hương… Con cám ơn ông vì mấy mươi năm ông vẫn đi lại quẩn quanh dọn dẹp chờ ngày con trở về.  Nhưng ông vẫn ngạc nhiên về cái bình Vĩnh Kết? Con không biết có nó cho đến tận cái đêm trước khi bà mất. Bà bảo con mở nắp hòm gỗ, cầm tay con đặt lên từng cánh mộc hương trên thân bình rồi bảo con có cả một gia tài. Lúc đầu con chỉ nghĩ đó là tập công thức men gốm cổ ngày xưa con chép lại. Nhưng sau này mới phát hiện ra chiếc bình ấy dày và nặng hơn bình thường. Hóa ra mẹ con chuốt bình mộc hương bao quanh nó. Bác Phú không biết cứ tưởng đấy chỉ là chiếc bình phơ bình thường. Thế con mới còn ông ạ. Tiền tỉ đấy ông. Nếu nguyên đôi giá còn gấp nhiều lần. Bác Phú đinh ninh bố mẹ con bán nó đi rồi. Giới cổ vật bao năm nay vẫn săn nhưng biệt tích. Giờ con sẽ nhờ ông dùng nó đòi bác Phú những gì đã mất… Vâng, con biết không đơn giản. Làm giả được loại bảo vật này phải hạng kì nhân… Con không biết mình có là kì nhân không nhưng mấy tuần nay con đóng cửa để chuốt và vẽ. Cái khó là mình chỉ có một chiếc, phải tưởng tượng họa tiết bên kia đối xứng thế nào cho chuẩn không sai một li. Nhưng ổn rồi ông ạ. Còn đất và men thì có lẽ ông phải sang bên kia một chuyến hộ con. … Men phải từ Vân Nam. Và cao lanh phải từ Cảnh Đức Trấn. Đất ấy có thành phần hóa học đặc biệt khác hẳn những nơi khác mới tạo nên xương gốm màu này. Ông bảo từng xử lí loại men này rồi. Chỉ là ông chưa từng làm sứ Linh Lung?”.

“Đúng thế! Ở Cảnh Đức Trấn mà cô vẫn gọi là kinh đô gốm sứ thế giới ấy, trong bốn loại đồ sứ truyền thống trứ danh là sứ Thanh Hoa, sứ Men Hồng, sứ Men Màu thì huyền ảo hơn cả phải kể đến sứ Linh Lung. Muốn làm được nó phải hiểu về nguồn gốc của nó. Cô nói tôi nghe!”.

“Dòng sứ này khởi đầu từ một sản phẩm bị lỗi trong quá trình tráng men ông ạ! Thời Tống, sứ Cảnh Đức Trấn có một loại sản phẩm gọi là lò xông. Nắp lò chạm rỗng. Trong quá trình nung, men nóng chảy tràn vào lấp đầy lỗ chạm thành các vệt sáng mờ trong bóng tối và trong suốt khi ra ánh sáng. Cảm hứng về loại đồ sứ chạm rỗng dát thủy tinh ra đời”.

“Đúng đấy! Bây giờ cô nhìn nhé! Mỗi mắt linh lung hoa gạo trên chiếc bình này tưởng chỉ đơn giản hợp thành dòng sông chảy. Nhưng kì thực là có quy luật và cực kì đối xứng. Mắt linh lung có nhiều dạng. Hình tròn. Hình lưỡi liềm. Hình thoi. Đa giác… Nhưng ở đây họ chọn dạng truyền thống hình hạt gạo – dạng muốt hai đầu đều nhau chằn chặn như này là khó nhất đấy cô!”.

“Cái này con làm được. Khó nhất phải là men thủy tinh. Làm thế nào để khi nóng chảy, nó không chỉ kết dính vào bề mặt xương thành lớp men như lớp kính mà còn phải chảy tràn lấp đầy hoa gạo. Bình kín nhưng thoạt nhìn tưởng rỗng, kĩ thuật lừa cả mắt người. Muốn được như thế ta phải kiểm soát được từ độ ẩm của gốm mộc đến cả lực khắc, nhiệt độ, thời gian nung và độ dày của men. Đặc biệt phải kết hợp với họa tiết hoa lam thì mới thành chiếc bình sứ Linh Lung chạm rỗng men xanh Vĩnh Kết Đồng Tâm giá hàng tỉ đồng đang lưu lạc dân gian trong truyền thuyết của dân chơi đồ cổ”.

“Đồ giả mà ngược giá như thế cô sẽ bán cho ai?”.

“Bác Phú con ông ạ! Bác ấy đang giữ chiếc bình kia. Giờ nếu có một đôi, giá sẽ đội lên bao nhiêu lần là tùy bác ấy. Cái này con hiểu bác ấy hơn ông…”.

Ông lão lặng im đứng dậy, đặt chiếc bình trở về chỗ cũ, rồi cúi xuống bưng chiếc ang đựng đầy tro hoa mộc cẩn trọng trút vào chiếc hũ sành.

“ Bây giờ ta về đồi Ngũ Nhạc…

Nếu cô đã nghĩ ra cách lừa được bác cô…”.

 ***

 Đi theo ông hôm ấy tôi đem theo cả bình tro mộc hương cuối mùa. Mộc hương hiền nhưng men mộc hương đỏng đảnh, hỏa biến đủ màu chưa ra nổi sắc hoa. Tôi bảo ông nói đúng, có những màu men chỉ kĩ thuật thôi chưa đủ. Phải chờ duyên… Con nhớ ngày xưa chú Vinh hứa sẽ làm men mộc hương cho chiếc bình phơ. Mấy chục năm rồi, không biết còn nhớ hay không. Ông bảo có tài thì có tật. Nếu còn sống mà không về chắc chắn phải có nguyên nhân. Con cũng nghĩ thế. Giờ con quay về, dựng xưởng. Cả nhà mình lại làm gốm cổ. Ông tin con đi. Còn sống hay đã chết chú ấy cũng sẽ về …

Ông lão ngồi trước mặt tôi nãy giờ vẫn lặng im nhìn về phía đảo. Dưới đáy hồ trong suốt như nền trời không mây giữa mùa thu, lớp sỏi vàng hắt lên màu cầu vồng lấp lánh. Con đường gốm vỡ vẫn chìm trong nước cũng lấp lánh theo.

“Nhưng cô có chắc bác cả cô không bao giờ nhận ra cái bình Vĩnh Kết vừa mua bằng cả gia tài là giả không?”.

“Chắc ông ạ. Ông con mình đã kĩ đến thế rồi. Nhận được ra thì phải là cao thủ. Mà nó qua được ải lão trùm thì chẳng ngại gì nữa…”.

“Ờ… Lại nói… Sao cô biết cửa này mà lách?”.

“Từ năm ngoái cơ ông. Ngày ông con chưa mất. Hôm ấy tối rồi nhưng con vẫn đang dở việc ngoài bể lọc đất phía sau xưởng, chưa về. Bác Phú nói chuyện điện thoại với ai đó về cái bình Vĩnh Kết. Bảo nó trả 800 cho một cái bình đơn? Nếu tìm được đủ đôi thì ít nhất cũng phải là đôi tỉ? Ca này hơi khó. Tôi cũng không biết chúng nó bán cho ai mà biệt tích mấy chục năm. Có lẽ tôi phải nghe ông nhờ trùm Nguyễn.  Thấy bảo thằng này đánh hơi đồ cổ thính hơn chó nghiệp vụ. Biết đâu tìm ra thì hay… Lúc ấy mà mua được thì giá bao nhiêu là ở tay mình. Ông nhắn cho tôi số điện thoại của nó… Được rồi… Để tôi gọi luôn… Bác Phú dùng mạng Viettel. Con nhờ một người bạn làm ở tổng đài tra hộ số thuê bao bác ấy liên lạc vào thời điểm đấy, lưu lại, chờ đến lúc cần… Mà ông đừng lo. Con tính kĩ rồi. Con trước giờ ẩn danh, mọi giao dịch, kể cả giao hàng đều là ông qua trung gian. Bên kia kiểm tra, giám định đủ kiểu, không phát hiện giả, đồng ý chuyển tiền rồi bán sang tay cho bác Phú. Thế là xong. Tiền bác Phú giờ là của mình. Lò gốm đã xây xong. Mẻ này con lại thử một bầu men mộc hương. Nhưng bên trùm Nguyễn sang tay lãi của bác Phú hơn trăm triệu cái bình mà lại chuyển hết vào tài khoản của con thì họ nhầm ông ạ. Ông gọi cho họ hộ con. Bảo đưa tài khoản tôi nhờ người chuyển trả. Bây giờ con sang đảo. Ông vẫn neo thuyền chỗ gốc sim cổ thụ phải không ông?”.

Mùa thu rải cánh mộc hương vàng như chấm sao xuống khoảng sân sẫm bóng trước hiên nhà và trên những bậc cấp đầu tiên, nơi tôi dừng chân hơn hai mươi năm trước ngẩng nhìn lên, thấy giữa ngổn ngang gốm vỡ những nhánh mộc hương héo nhàu. Đêm trước khi đưa tôi đi, chú Vinh đập bỏ hết tất cả những chiếc bình phơ nham nhở bụi khói mang từ đảo về sau vụ cháy, xếp thành đống trong lán bên hiên. Tôi nghe tiếng chú khóc lẫn trong tiếng gốm. Tiếng rì rầm kể về một chuyến đi xa…

… “Điện thoại của cô chuông nãy giờ…”. “Con khóa máy lâu, mới mở lại nên không để ý. Số lạ như này…”. “Họ vừa gọi tôi. Bảo đưa máy cho cô. Tôi nói không biết”. “Ai hả ông?”. “Trùm Nguyễn… Gọi đích danh. Còn bảo biết cô đang ngoài đảo gốm. Cứ cẩn thận. Tốt nhất không nghe…”. “Không biết có chuyện gì… Con nghĩ không phải liên quan đến tiền vì nếu nhầm họ sẽ làm việc với ngân hàng. Chỉ còn khả năng…”. “Cái bình Vĩnh Kết?”. “Có khi phải nghe ông ạ. Xem họ nói cái gì…”.

Tôi ngồi trên bậc cấp đầu tiên, ngay dưới chân mộc hương. Chiều mùa thu nắng bắt đầu mang hơi lạnh hong những cánh hoa khô sẫm lại lác đác buông quanh dấu người. Phía bên kia, giọng đàn ông trầm và vang như tiếng chuông gốm gõ trong lòng đất.

“Chào cô!”…

 ***

 “Ông gọi tôi? Chúng ta chưa gặp nhau và chẳng có việc gì liên quan đến nhau thì phải!”.

“Có đấy. Có món tiền gần một tỉ đồng. Chưa kể lần chuyển sau. Hơn trăm triệu. Cô đừng bảo tôi nhầm người. Cô là Thi, chủ nhân của chiếc bình Vĩnh Kết Đồng Tâm vừa được tôi bán sang tay cho chính bác ruột của cô. Cô giỏi lắm. Suýt nữa lừa được cả tôi”.

“Tôi không hiểu ông đang nói gì”.

“Cô hiểu. Chiếc bình ấy là đồ giả… Tôi có căn cứ. Không nói bừa. Nguyên bản của nó là hàng cao cấp, lại được bảo quản theo kiểu quý tộc, chưa hề lưu lạc dân gian, gần như còn mới nguyên nên không thể dùng các phương pháp thông thường như quan sát đáy, ngửi mùi đất hay kiểm tra ngấn nước. Nó cũng kĩ đến nỗi, khi dùng kính hiển vi để phân tích bọt khí, tôi cũng không phát hiện ra vì nó cũng được nung thủ công theo kiểu lò cổ xếp sản phẩm theo phương thẳng đứng, bọt khí hướng lên trên, kích thước bọt khí cũng không đều. Hoa văn vẽ trên thân bình cũng được làm từ khoáng chất tự nhiên. Cũng áp dụng họa pháp “tuyển nhiễm” – dùng bút lông thấm đẫm màu cobalt, tô nhiều lần trên thai cốt rồi mới phủ Minh Châu Liệu. Cũng chỉ nung một lần – 1.350℃… Khi hai cái bình đặt cạnh nhau nó thành cặp đôi hoàn hảo, không tì vết. Cô nên nhớ, bác cô là một tay sành sỏi. Tất cả các phương pháp tôi giám định, bác cô cũng làm. Kể cả đòi phân tích quang phổ và công nghệ đo Carbon14… Cô hiểu gì về phương pháp này?”.

“Là cách giám định tuổi cổ vật chính xác nhất hiện nay. C14 là chất phóng xạ có trong đồ vật. Sẽ mất dần khối lượng theo thời gian. Vật càng cổ, càng ít các nguyên tử này… Nhưng hạn chế của nó là phải tách mẫu cổ vật…  Ông sẽ không làm như thế”.

“Cô nói đúng. Tôi thuyết phục bác cô như thế”.

“Còn phân tích quang phổ? Ông lừa bác tôi bằng cách nào?”.

“Cô thẳng thắn rồi đấy. Tôi thích cô thêm ở điểm này. Tất nhiên là cho đính những dấu hiệu giả. Kết quả cho ra chính xác, chinh phục bác cô hoàn toàn. Và giao dịch thành công. Cô phải cảm ơn tôi về điều đó”.

“Nói như thế có nghĩa ông nhận ra nó là đồ giả từ khi mua. Bằng cách nào?”.

“Bằng những dấu hiệu cô cố ý để lại. Ngoài tôi khó có người thứ hai phát hiện ra. Nó ở dưới đáy bình. Kính lúp soi thật kĩ mới nhìn ra được. Những chấm Hắc Thung Nhan rất mờ viết tắt tên cô…”.

Tôi im lặng ngồi nguyên trong quầng gió heo may cuối mùa sóng sánh mùi mộc hương. Bên kia cũng lặng yên như thế. Rất lâu sau tôi mới đứng dậy, bước xuống đường. Mộc hương quẩn theo chân.

“Những bậc cấp cô đang bước xuống đều ghép bằng gốm vỡ. Bên kia đường, cạnh hồ nước có một gốc sim già. Dưới đáy nước, chỗ cô neo thuyền, còn một con thuyền nữa. Nó bị đánh chìm đã hơn hai mươi năm nhưng không hỏng đâu vì gỗ kiền kiền càng ngâm nước càng chắc. Ngày xưa mẹ cô sang đảo bằng con thuyền ấy… Cô đừng hỏi tôi biết điều đó vì sao”.

Nắng từ đảo bất chợt bừng lên. Qua hồ nước về đến chỗ tôi hóa màu men thủy tinh chảy tràn trên mặt gốm. Gió vẫn quẩn dưới chân. Mùi hoa đất nồng nàn.

“Tôi không cần hỏi. Xin cảm ơn ông vì tất cả. Giờ tôi ngắt máy. Không mong gặp lại ông. Nhưng tôi biết ông sẽ phải tìm về trả cho tôi món nợ màu men…”.

***

Nhà tôi ở lưng chừng đồi. Ngôi nhà nhỏ như tổ chim ghé vai dựa vào vách sỏi cách mặt đường ba chục bậc cấp ấy có một cây mộc hương bốn mùa lặng lẽ buông từ nách lá những nhánh bông li ti màu vàng ngà điểm đôi chấm ngả sang trắng sữa và một khoảnh sân bé xíu lát bằng những viên gạch gốm, màu men đất thâm trầm lấp lánh ánh đen. Đứng ở đấy, nhìn về phía trước sẽ thấy trọn vẹn một hồ nước mênh mông thấu cả đáy sỏi vàng – Hồ Bến Tắm. Giữa hồ có một hòn đảo rất lớn nối với đất liền bằng con đường lát đầy gốm vỡ.

Người đàn ông cao lớn tóc điểm nhiều sợi bạc vẫn đang lúi húi vun đất vào những gốc mộc hương trồng dọc hai bên đường, nghe tôi hỏi quay lại, giọng nói trầm và vang như tiếng chuông gốm gõ trong lòng đất.

“Em hỏi vì sao bao nhiêu năm tôi không trở về? Cũng là do mẹ em dặn nghề gốm bạc, nếu bỏ được thì bỏ đừng tiếc làm gì. Đất, nước, lửa, mồ hôi và nước mắt… bao nhiêu thứ quyện vào mới làm nên gốm mà nung xong còn nặng hơn lúc ướt. Đấy là nặng ở tình. Nhọc nhằn thế mà sẩy tay là tan nát hết. Sau này nếu không làm nữa thì cũng đừng về để cháu nó quên dần chuyện cũ… Thế là tôi đi. Không làm gốm nhưng vẫn dính vào gốm thành tay buôn đồ cổ. Lừng lẫy gầm trời nhưng nói thực có lúc nhớ phát khóc cái màu men đất, cứ hình dung từ sắc nâu trầm rồi hỏa biến xôn xao. Cho tận đến khi…”

“Giờ men Mộc Hương thành công. Con đường đã nối. Gốm Việt đã có người làm. Chú lại đi phải không?”.

“Thế em không nhớ tôi nói điều gì trước khi trở về?”.

“Em nhớ. Chú bảo nếu tôi làm được men Mộc Hương chúng ta chuyển sang mối quan hệ khác. Sẽ thành một gia đình…”.

Người đàn ông nhìn tôi cười giữa heo may chiều lộng gió, giữa những cánh hoa vàng trong nắng lấp lánh như sao rồi đưa cho tôi chiếc bình sứ. Trên thân bình, dòng sông vẫn đang chảy xuôi trong nắng, lung linh.

“Bác Phú thua toàn cục trong phiên đấu giá bán đôi bình Vĩnh Kết là do chú phải không? Giá đẩy lên chục tỉ, đã chốt, chuẩn bị trao tay cho khách thì bị chỉ ra là hàng giả. Bảo sao không sốc. Nghe nói bác ấy đập tan cái bình ấy trước mặt mọi người. Em cũng tiếc. Kì công lắm mới làm được nó…”

“Còn cái này em nghĩ kĩ chưa?”.

Tôi gật đầu, ôm vào lòng chiếc bình sứ hoa lam lần cuối rồi buông tay, lặng im nghe tiếng vỡ. Người đàn ông cúi xuống nhặt từng mảnh sứ ghép nốt con đường gốm nối hòn đảo ngập hoa vàng.

Hòn đảo ấy mẹ tôi gọi là Đảo Mộc Hương.

NGUYỄN HẢI YẾN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.