Mộc hương cuối mùa thu – Truyện của Nguyễn Hải Yến – Kỳ 1

Vanvn- Nhà tôi ở lưng chừng đồi. Ngôi nhà nhỏ như tổ chim ghé vai dựa vào vách sỏi cách mặt đường ba chục bậc cấp ấy có một cây mộc hương bốn mùa lặng lẽ buông từ nách lá những nhánh bông li ti màu vàng ngà điểm đôi chấm ngả sang trắng sữa và một khoảnh sân bé xíu lát bằng những viên gạch gốm, màu men đất thâm trầm lấp lánh ánh đen. Đứng ở đấy, nhìn về phía trước sẽ thấy trọn vẹn một hồ nước mênh mông thấu cả đáy sỏi vàng – Hồ Bến Tắm. Giữa hồ có một hòn đảo rất lớn, tách biệt hẳn với đất liền vì con đường độc đạo dẫn vào đó bao giờ cũng chìm sâu trong nước.

Mẹ tôi gọi đảo ấy là Đảo Mộc Hương…

 ***

 “Sao nhà mình lại ở tận trong đây? Mọi người ngoài kia hết mà mẹ?”.

Tôi hỏi câu ấy vào một buổi sáng mùa thu hanh hao nắng, khi mẹ gượng ngồi dậy để cho tôi chải tóc trước hiên nhà.

Năm ấy tôi tròn 8 tuổi nhưng mới lần đầu tiên theo chú Vinh ra Trúc Ổ, gặp một người để làm thủ tục để đến trường như lời chú nói. Hồ Bến Tắm nằm cuối Trúc Thôn, cách nơi ấy vài giờ đi bộ. Chỗ này ngày xưa là đất hoang, là ranh giới ngăn phần đất linh của rừng Ngũ Nhạc, cửa Hàm Long, đỉnh Phượng Hoàng với làng mạc, xóm thôn.

“Sao nhà mình lại ở tận trong đây?”…

Trong trí nhớ của tôi, bao giờ mẹ cũng hệt như một cô bé, mắt sáng, hai má bầu bầu, tóc ngắn, nhẹ và bồng lên như sóng, rất hay cười, sáng nào cũng ngồi bên hiên, cạnh cây mộc trà, nhìn mông lung sang đảo mãi rồi mới quay lại, cùng tôi vuốt gốm trên chiếc bàn xoay bằng đôi bàn tay có những ngón tay biến dạng, dính vào nhau bởi những mảng da nhăn nhúm, từ khuỷu trở xuống dọc ngang chằng chịt những vệt sẹo dài.

Nhà văn Nguyễn Hải Yến ở Hải Dương

Nhưng đến nửa tháng nay thì không…

Nắm đất sét hoa đào nằm im nhạt màu trên khay gỗ. Chú Vinh đứng cuối hiên, bên giàn giá phơi, tần ngần nâng trên tay những bình gốm mộc đã khô, màu hoa sim đã chuyển sang ánh trắng, chạm vào từng nét khắc. Rất lâu, rồi mới buông tay thả xuống dưới chân mình.

Tôi quay đi, không nhìn nhưng vẫn đếm đủ từng tiếng đất vỡ. Những âm thanh trầm nhưng gọn và vang. Còn một lần rơi cuối cùng. Còn chiếc bình ở giữa, lớn nhất trong số đống hàng phơ chú Vinh vừa đập bỏ, dáng tì bà, cao chừng 60cm, có bức tranh ngôi nhà nhỏ nhìn ra hồ nước mênh mông. Trong số những bình gốm mộc chạm nổi, nó được mẹ tôi chuốt sau cùng. Làm một mình. Không biết từ bao giờ.  Khi đất se, tôi tỉ mẩn ngồi hàng giờ vuốt từng cánh hoa đất bé xíu, hỏi chú Vinh làm được những màu gì cho bức tranh của cháu. Chú có làm được men Mộc Hương không?

Hồ nước…

Đảo xanh…

Ngôi nhà và cây mộc hương hoa vàng trước cửa…

Chú Vinh chỉ cần buông tay là trọn vẹn tiếng vỡ cuối cùng…

 ***

Nửa tháng sau buổi sáng mùa thu ấy, một lần nữa chú Vinh đưa tôi ra ngoài Trúc Ổ. Qua khúc ngoặt cuối cùng âm u bóng cây tất cả khuất dạng sau rừng thông cao vượt hẳn lên như cánh cửa xanh che khuất lối vào. Mẹ ở lại ngoài đảo cạnh bố. Trong mặt nước hồ xanh. Trong đồi đất sét màu sim. Trong hai nấm mộ gió nằm bên nhau quay mặt về chiếc lò gốm cũ, sạt một nửa, dây bìm bìm hoa tím leo gần kín nóc. Và trong cả hai chiếc bình gốm nhỏ đựng cốt tro tôi mang bên mình. Tuổi thơ tôi khóa lại trong căn nhà lưng đồi. Cây mộc hương bị phạt ngang gốc héo rũ trong heo may. Chú Vinh bảo phải chặt, nếu nó khỏe mầm sẽ nảy lại chứ để cao thế này xòa xuống không khác gì cành leo, nặng mái. Tôi lặng im theo chú, cố không hỏi bao giờ quay lại vì mẹ dặn cứ đi theo chú là có gia đình.

Qua ngã tư có lối rẽ về thị trấn là một con đường đất xuyên cánh đồng đi tít  về phía xa. Phía ấy không xanh mà bàng bạc màu trời. Chú Vinh dừng lại nhìn hàng dấu chân tôi in trên con đường đầy bụi đỏ. Thi mỏi chân, lên chú cõng. Tôi lắc đầu. Tay nải của tôi thấm gì với cái hòm nặng trĩu chú đang vác trên vai.

Cây mộc hương cắt gốc, hòn đảo mang tên hoa, lò gốm đổ bên hai nấm mộ tròn mỗi bước một xa… Chân trời gần lại mang theo hơi gió nước. Phía trước là bến đò. Đón chúng tôi là người đàn ông chú Vinh và tôi gặp ngoài Trúc Ổ hôm nào. Ánh mắt sượt qua tôi: “Chu đáo hết cả chưa?”. Tôi giật mình ngẩng lên, nhìn thẳng, mồ hôi lạnh toát dọc sống lưng. Người đàn ông này tôi mới gặp lần hai nhưng giọng nói thì nhớ từ bao nhiêu năm trước. Chú Vinh khẽ nhắc: “Thi chào bác cả, anh trai bố… – rồi chỉ tay về phía trước – Thấy chân trời không? Hết dòng sông này là đến nhà…”.

Con đò dọc đưa chúng tôi qua tận xế chiều. Nơi tôi đến là một ngôi làng hệt như ốc đảo, lưng tựa vào dãy đồi núi thấp đang sẫm lại dưới hoàng hôn. Con đường trục chính trên tầng tầng gốm vỡ chạy dài theo mép sóng vuông góc với chi chít nhánh ngõ sâu hun hút dẫn vào những ngôi nhà quây giữa bốn bề tường bao cũng được ghép bằng gốm. Ngõ hẹp, nhà chật, tất cả đều om om tối trừ một ngôi nhà cổ dựng trên nền đất cao, phía trước là khoảng sân rộng lát gạch nung, đằng sau có rất nhiều nhà xưởng và một lò gốm đang lên khói trắng.

Đó là nhà ông nội tôi.

Chú Vinh từ chối lời bà  mời ở lại, bảo trở ra ngay mới kịp chuyến đò rồi vuốt tóc tôi: “Thi ở với bác, với ông bà nội. Bao giờ lớn nhớ về thăm bố mẹ nghe chưa? Đồ của bố mẹ nhớ giữ cẩn thận…”. “Chú có về đón cháu?”. “Không biết lúc nào. Nhưng chắc chắn sẽ về…”.

Tính từ buổi chiều ấy, chú Vinh đi liền một mạch hơn hai mươi năm…

 ***

“Quê chú Vinh ở đâu bà có biết không? Khi nào lớn con đi tìm chú…”.

Bà tôi ngồi dậy, gục đầu xuống gối, im lặng rất lâu rồi mới vén lá màn đôi, bước xuống giường đi về phía cái thồi gỗ mít. Chỗ tôi và bà đang nằm đây là một gian nhà ngói mũi, tường ghép bằng những chiếc tiểu sành tím đen màu men đất, tách hẳn ra khỏi nhà chính, khuất giữa vườn cây, chẳng mấy khi có người nhà trên ghé xuống. Giang sơn của hai bà cháu bốn mùa chỉ nghe tiếng vườn và nghe gốm thở – tiếng thở lúc mát ngọt, nhẹ và trong veo như hương cây mộc trà cổ thụ bên hiên trong những buổi chiều thu, có lúc lại ấm sực và nồng nàn như hương bạch trầm mỗi năm bà đốt một lần, đêm giao thừa, trong lư gốm, khói xanh lên cao vươn thành sợi dài như tơ chỉ.

Có tiếng hỉ mũi. Bà đang khóc. Lần thứ hai tôi thấy bà khóc kể từ cái chiều một mình chờ trước cổng đón tôi từ Trúc Thôn, Trúc Ổ trở về. Tôi nghe tiếng rì rầm. Bà như đang nói với ai đứng lẫn trong bóng tối: “Đến mẹ mày còn không biết… Ngày về đây làm thuê đã thấy dắt theo, bảo là em nuôi, cưu mang từ bé. Bồ côi bồ cút nương tựa vào nhau. Mà toàn những đứa tài…”. “Con biết rồi. Mẹ con vẽ. Mẫu khó chỉ cần đóng cửa vài ngày luyện bút là y hệt. Chú Vinh chuốt gốm bén như diễn. Còn bố con chuyên men gốm cổ. Nâu mật. Hoàng lưu ly. Xanh lưu ly. Men Lý – Trần bà ạ…”. “Sao con biết?”. “Mẹ con kể! Bảo bố giỏi nhất nhà…”.

Hơn hai mươi năm trước, vào một buổi sáng cuối mùa thu, mẹ tôi dắt chú Vinh rời bến, lên một con đò dọc xuôi dòng sông Sặt vào cửa Thái Bình rồi ngược Lục Đầu Giang men hữu ngạn sông Cầu tìm đến đất gốm xin làm thuê. Hai ngày lênh đênh gần gần trăm cây số, mái chèo dừng lại lúc lưng lửng chiều, người đàn ông chân sào chỉ tay về phía dãy thuyền buôn đang chờ cập bờ bảo phía ấy là bến gốm Nguyệt Đức, ngày xưa cả bốn mùa mặt nước rợp bóng thuyền. Bến đò ngang vì thế phải lui xuống tận cuối làng. Nhà tôi quãng đó. Lò gốm hai chị em cô tìm phải đi hết con đường dọc bến đến tận đầu kia. Cứ hỏi ông chủ họ Mai thì ai cũng biết.

Chiều mùa thu ấy trong veo. Chờ hai chị em cuối con đường gốm vỡ là một góc bãi sông những giá hàng phơ, màu đất se rời rợi hắt ngược lên trong nắng. Chú Vinh kéo tay mẹ tôi bảo gốm kìa chị. Em chưa bao giờ nhìn thấy nhiều hàng mộc thế này. Nhà mình tìm kia phải không? Khói gốm! Lâu lắm rồi em mới ngửi thấy mùi gốm chín. Mẹ tôi gật đầu: “Ấm và bắt đầu đanh. Nhưng chuẩn bị rút lửa thôi. Quá thêm là xé…”.

Ông chủ lò – người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, yên lặng nhìn hai chị em rất lâu rồi mới mở lá thư mẹ tôi vừa lấy từ cái túi cói ôm trước ngực suốt dọc hành trình, lật đi lật lại, săm soi từng chữ, mãi mới ngẩng lên, mặt vẫn thản nhiên không nét động: “Cháu cụ Tâm làng Cậy? Cứ biết thế đã. Cháu ai cũng phải thử nghề. Tháng trước nhóm thợ Bát Tràng xuống, không trụ được cũng bạt sới. Lò này không phải ai cũng nhận…”. Mẹ tôi bảo cháu biết. Ông cháu cũng dặn rồi. Đất nghề thợ xứ, người xa đến không giỏi không trụ được. Bác cứ cho chị em cháu thử việc. Không được chúng cháu đi nơi khác…

Cất lá thư trở lại túi, mẹ tôi nắm tay chú Vinh – lúc ấy đang nhìn hút mắt như bị thôi miên về phía sau vườn: “Lúc vào, chúng cháu ngửi thấy mùi gốm chín. Nếu cháu đúng thì lò phía trước chỉ tầm mười phút nữa bác sẽ cho dồn củi thúc rồi bít lỗ giòi để om. Lò này bác dùng củi nhãn. Lửa chắc và quyện. Mùi gốm chín ấm và đằm. Lò sau mùi gốm tươi ngái hơn bác ạ …”.

Người đàn ông trước sau vẫn không đổi nét mặt, chằm chằm nhìn hai chị em thêm vài lượt nữa rồi quay sang bảo người thanh niên nãy giờ đứng cạnh: “Chuẩn bị thúc lò!”.

Người chủ lò gốm ấy sau này là ông nội tôi…

 ***

Vào một ngày không nắng cuối mùa thu, có một cô gái trẻ dẫn em trai ngược dòng hàng trăm cây số tìm đến đất gốm xin làm thuê.

Lúc ấy khoảng ba giờ chiều. Mảnh sân rộng trước sân nhà lớn ngập gió từ triền đê xoài xuống. Những cơn gió vuốt những vệt dài mướt như lụa nõn, gặp dãy xưởng dài liền lật chiều ngược lại kéo nhau chạy tít xuống cuối rặng ô rô xanh thẫm mới dừng. “Gió ở đây cũng thơm mùi gốm.  Không như gió sông Sặt quê cháu. Đậm phù sa…”. “Ông cụ gốm Cậy mất lâu chưa?”. “Hai hôm trước là tròn trăm ngày bác ạ. Ông cháu dặn lửa gốm làng mình lụi, các con phải đi nơi khác, làm thuê làm mướn cũng được. Để giữ nghề. Có thế ông mới nhắm mắt.  Ông cháu bảo phải đi ngay cơ. Nhưng đi như này chưa biết ngày nào về nên cháu phải cúng cơm tròn trăm ngày, cúng tốt khốc tiễn ông qua đủ tám cửa âm xong mới yên tâm lên đường… Chúng cháu không cần nghỉ. Bác cứ cho thử việc. Ông cháu dạy chúng cháu làm đất, chuốt, vào men và nung nhưng cháu chuyên hơn về vẽ. Em cháu chuốt… Bác muốn chúng cháu tạo mẫu hay làm theo mẫu? ”. “Làm theo mẫu! Cháu cụ gốm Cậy chắc cũng không phải thường. Góc cao lanh kia cô chọn lấy một cái vẽ cho tôi hoa văn này! ”. “Bác muốn cháu vẽ trên men hay dưới men?”. “Ý cô thế nào?”. “Mẫu này giả Ngũ Thái. Vẽ dưới men bác ạ!”. “Sao cô biết là Ngũ Thái? Nhỡ Đấu Thái thì sao?”. “Không nhầm được bác ạ. Một cái sứ nhà Minh. Một cái sứ nhà Thanh. Chủ đạo là cùng màu lam nhưng Đấu Thái nhạt, hoa văn có đường viền, Ngũ Thái đậm buông bút tự do hơn. Mẫu này hôm nay cháu làm không dám đảm bảo giống tuyệt đối. Muốn y hệt cần luyện bút vài ngày… Cháu sẽ cố căn cho chuẩn nhưng sau khi vào men, qua lửa có thể hỏa biến. Cái này cháu chưa học được nhiều vì gốm Cậy của ông cháu chủ yếu tự tiết men không tráng men bác ạ!”…

Ngoài kia nắng bất chợt bừng lên. Dãy nhà xưởng hướng tây đón trọn cả một miền trong veo nắng. Người con gái mở túi lấy chiếc ống tre đựng bút vẽ rồi ngồi bó gối ngay trước ngưỡng cửa, trong thênh thang gió, lặng im nhìn mẫu. Rất lâu sau mới bắt đầu đặt nét bút đầu tiên…

Bên cạnh, cậu em trai dừng bàn xoay, kết thúc vệt chuốt cuối cùng chiếc bình giọt lệ. Dáng đất mềm như nốt son lấp lánh mặt trời.

… Bao nhiêu đêm rồi trong ngôi nhà gốm cổ giữa vườn cây tôi đều nghe tiếng bà rì rầm lẫn trong mùi mộc hương đằm và mát như mùi mật ong mùa nhãn vừa lướt trên da thiếu nữ rồi lững thững qua thềm như một dải mây. Cây hoa này mẹ mày trồng ngày về đây. Cái túi mang theo có vài bộ quần áo. Hộp bút vẽ. Cái bầu đất nhỏ giâm mầm cây gầy như que củi, bảo bà là bác cho con đặt nhờ vào cái bình gốm vỡ, nếu ông chủ không ưng con mang ra sau vườn. Cây này con ươm từ nhà cũ. Ông con trồng trước hiên… Bốn mùa hoa…

Cây mộc hương bên hiên ngôi nhà trên sườn đồi nhìn sang đảo của tôi cũng đủ bốn mùa hoa.

Tôi ngồi trên bậc thềm vun đầy cái ang sành trước mặt những chùm mộc hương khô. Màu vàng sẫm thoáng nghiêng sang nâu ánh tím. Lửa loang tròn quanh miệng ang theo gió. Khói lên quẩn bốn bề ngọt như mùi sữa lúa rồi tụ về đậu xuống đám tàn tro mịn như bột qua rây.

“Đủ hết cả chưa ông?”.

“Tro tứ thiết. Bột vôi. Bột sỏi. Bùn sa… Cả rồi đây. Chỉ chờ  mộc hương tro”.

“ Mẻ hoa này mình lấy cuối mùa thu nên màu tro đằm hơn thì phải? Không xám bạc mà ngả nâu hoàng thổ. Ông thấy thế không?”.

Cái bóng gầy râu tóc bạc phơ nghiêng xuống chạm nhẹ đầu ngón tay vào lớp bột  mềm, rất lâu rồi mới ngẩng lên, nhìn thẳng, ánh mắt không cười hiền như mọi bận.

“ Lần này cô định thế nào?”.

“Con mạo hiểm chút. Những mẻ trước hỏng cả, lần này con sẽ thêm hai phần mộc hương… Con dành hẳn một bầu để vào men này. Thế mới rõ sự biến nhiệt chuyển màu men…”.

“Tôi không hỏi điều đó. Ý tôi là cô lấy đâu ra tiền để làm lò mới? Đừng nói hàng tháng nay cô đóng cửa chỉ để chuẩn bị cái ang này…”.

Tôi lặng im ngồi bó gối nhìn sang đảo. Mãi lâu sau mới bảo ông nhìn kìa, mấy chục năm đảo giờ chỉ thấy toàn cây dại. Lùm cao nhất là lò gốm cũ còn cái vòm bìm bìm hoa tím là chỗ mộ gió bà với bố mẹ con nằm… Con cũng biết làm thế là không được. Bà và bố mẹ con cũng không ai đồng ý. Họ bỏ quê đi gửi tàn tro xứ người cũng bởi thế… Nhưng không còn cách… Ông giúp con lần này… Có tiền, con về đây dựng lại lò, làm gốm men hoa…

“Nhưng tôi hỏi cô làm bằng cách nào? Có mẫu còn chưa ai làm nổi. Đằng này…”.

“Con có mẫu…”.

Tôi đứng dậy, bước về phía chái nhà ngày xưa là phòng ngủ. Nắng lưng lửng chiều rọi qua song cửa ẩn hiện trên nền gốm sẫm màu. Lật viên gạch giáp tường ngay dưới chân cửa sổ, tôi lấy từ cái hốc ăn lan vào nền đá móng chiếc hòm gỗ, cẩn trọng mở ra. Trên nền lụa lót, chiếc bình sứ men lam đón vạt nắng chiều, hắt trả lại luồng ánh sáng trong suốt như bảo thạch. Cái bóng gầy run run quỳ xuống, những ngón tay chạm khẽ vào lớp men sứ trong veo.

“Làm sao cô có được thứ này?”.

“Mẹ con giữ cho con ông ạ! Nếu mẹ không giữ kiểu ấy con mất nó lâu rồi!”.

    ***

Ngày ấy, về với bà, gia tài tôi mang theo chỉ là tay nải đựng hai bộ quần áo cũ và cái hòm gỗ nặng trịch chú Vinh vác trên vai. Bà tôi bảo con mang xuống nhà gốm. Hai bà con mình ở đấy. Bác Phú ngăn lại, để xem bố mẹ nó để lại cho nó cái gì. Nắp mở ra. Bên cạnh ống bút vẽ quấn trong cái áo của mẹ tôi có lá thư viết tay  của cụ gốm Cậy đã nhòe hết mực, cuốn sách ghi công thức màu men của bố và một hộp gỗ bốn bề lót vải đựng cái bình gốm phơ vẽ ngôi nhà có cây mộc hương trước cửa. Tôi bảo cái bình này trước khi mất mẹ dạy cháu học đắp nổi. Cháu giữ. Bác Phú quay sang bà: “ Đẻ sáng mắt ra chưa? Cứ bênh đi! Chúng nó bán mất rồi. May còn cuốn sách…”. Đêm ấy bà bảo tôi con đừng buồn, sẽ có lúc bà tìm cách lấy lại cho con. Tôi thì thầm con thuộc hết rồi bà ạ. Mẹ con dạy… Bà kiếm cho con giấy bút… Ừ thế chép lại. Giấu trong ruột bình phơ. Sau này có lúc cần… Bác Phú mày không làm được men gốm cổ đâu. Nghề này mà tâm không sáng thì gốm làm ra không ấm, chạm vào sẽ không thấy mạch gốm đập trên đầu ngón tay, lửa lò cũng không bền… Giời không thương bà bắt bố mẹ mày đi sớm quá. Gốm cổ mình khéo thất truyền… Bà không giữ được nghề tổ tiên, chết không nhắm mắt…”.

Bà hay nói với tôi điều đó – bao nhiêu lần trong những đêm nằm trong căn nhà giữa vườn cây. Bà bảo ngày xưa Nguyệt Đức mình sầm uất lắm. Thuyền ăn gốm bốn mùa về chật cửa sông. Đất này phía đông thắt eo giống hình con rồng quay về chầu chốn Tổ. Phía tây cong như lưng hổ ngồi. Còn phía nam, đỉnh núi con vẫn nhìn thấy là đỉnh Nguyệt Sơn. Dễ chừng ngàn năm tuổi. Thế đất làm nên làng nghề. Ngày ấy, gốm quê mình đi khắp nơi. Chum, vại, ang, bình, tĩn, vò… đủ cả. Nhất là tiểu sành thì không đâu sánh được. Để trong lòng đất mấy chục năm mà khi lên gõ vẫn coong coong như thép… Tôi bảo bà mẹ con kể gốm quê mình được như thế là nhờ kĩ từ hàng năm trời ủ đất, kĩ đến phơi phải xoay trở bốn bên cho tròn nắng gió, kĩ đến nung bằng củi phải canh lửa lên hơn ngàn độ rồi điều chỉnh theo chu trình sin mới cho gốm tím đanh, óng như dội mật. Không bao giờ thấm nước. Ngàn năm không mất màu… Ngày ấy lâu lắm rồi hả bà?

“Ừ, lâu lắm… Mấy chục năm… Ngày mẹ mày dẫn chú Vinh về đất này tìm gốm, lửa nghề làng đã phập phù… Gốm cổ làng mình lụi từ ngày ấy…”.

 ***

… “Cô nói đúng. Gốm cổ làng mình lụi từ ngày ấy. Trừ lò gốm nhà họ Mai. Ông nội cô bỏ gốm truyền thống chuyển sang hàng giả cổ. Ngày mẹ cô về, tôi đã là thợ đứng lò chính ở đấy ngót hai mươi năm…”

“Vâng. Ông sau này còn chuyên men cổ đời Minh – Thanh. Bố con gốm Việt, dòng Lý – Trần. Mẹ con vẽ. Bà con và chú Vinh thì chuốt… – ngũ quái “cơm dương gian – nghề âm phủ” làm nên tên tuổi gốm họ Mai lẫy lừng danh tiếng một thời…”.

Tôi đặt chiếc bình sứ lên mặt bàn tre, giữa những đốm nắng nhảy nhót xôn xao theo chiều lá. Dưới kia, mặt hồ hắt những luồng ánh sáng lấp loáng ẩm hơi nước lên tận trên này rồi tụ vào lấp lánh trong đáy mắt ông lão đang ngồi trước mặt tôi.

“Nghề âm phủ là do bà con gọi… Bà là con nhà nòi, bị đất bỏ bùa từ trong bụng mẹ, lớn lên thành phù thủy chuốt gốm nổi tiếng khắp vùng, bà bảo gọi thế là bởi gốm do mình làm ra nhưng tốt xấu thế nào không biết trước chỉ đến khi ra lò, nâng trên tay mới biết dở hay. Tổ cho nghề nhưng hồn gốm lại do tâm. Tâm không sáng, gốm làm ra không ấm, chạm vào không thấy thở, không thấy mạch gốm thì sớm muộn lửa cũng tàn… Và con còn biết điều này nữa. Điều này bà không nói nhưng mẹ con kể. Mẹ con bảo ông thương bà con hơn thương gốm”…

Cái bóng gầy trước mặt tôi thoáng giật mình. Những ngón tay khô như củi và sậm màu men đất run run chạm vào lớp vải lót bên thành hộp gỗ. Nắng cuối thu trong suốt, tĩnh như gương nhưng hình như có gió từ đảo thổi về vì tôi ngửi thấy mùi gốm cũ lẫn trong mùi hoa bìm bìm cánh mỏng như sương tím.

“ Mẹ nói chắc tại ông nghĩ mình nghèo, chỉ là dân thợ xứ đến làm thuê nên thương bà mà không dám ngỏ. Đến khi bà con có nơi có chốn vẫn không lấy ai, vẫn ở lại làm kiếp thợ nghèo, quẩn quanh buồn vui mừng vọng… Bảo bố con sau này thành thợ men giỏi cũng nhờ ông… Mà ông có biết ai chỉ cho con tìm ông không… Bà con đấy… Bà nói với con điều đó trước khi mất. Một đêm cuối mùa thu… Mười năm rồi nhưng con còn nhớ lúc bà bảo mở cửa cho hương mộc vào ủ trong tường gốm, sương cũng vào theo. Nhưng sương nặng lắm. Nhìn qua vườn không thấy nhà trên…”.

NGUYỄN HẢI YẾN

(Còn tiếp)

___________

Truyện đã in trong tạp chí “Nhà văn và tác phẩm” với nhan đề “Lửa hoàn nguyên”, số 44 (tháng 11-12, 2020)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *