“Miền sau cánh cửa” của Trần Nhật Minh – Ký ức và thân phận

Vanvn- Gần 30 năm đọc, đi, nghĩ và viết… nhà báo Trần Nhật Minh đã ra mắt độc giả cuốn sách đầu tiên với nhan đề “Miền sau cánh cửa”. Một bản du văn đầy cảm xúc với 38 ô cửa. Mỗi ô cửa là “miền sau” của một cánh cửa lớn, cất giữ vô vàn trở trăn của một nhà báo bản lĩnh và lãng tử.

252 trang viết đưa người đọc từ phố về làng, lên núi xuống biển, ngao du đồng bằng châu thổ, nhìn ra nước bạn qua những chuyến đi xa. Từng thước phim tìm tới độc giả bằng giọng văn thủ thỉ, trầm ấm; ngôn ngữ gạn gùng, chắt lọc. “Làng. Phố. Núi. Biển.” Bộ tứ hồn cốt, thành lũy của dân tộc Việt hiện lên với hình hài cụ thể, chạm tới miền nhớ của những ai đã một thời gắn bó.

1. Nói đến phố, những gì tinh túy nhất của Hà Nội được anh đọc vị tường tận.

Uống “bia đầu ô”, một thói quen khó bỏ. Xa Hà Nội, xa cái cốc vại méo xệch vành như vẻ mếu máo của một gã thất tình chợt thấy uể oải, liêu xiêu. Những ai trong đời được một lần thưởng thức bia “cắt tiết” cùng cái cốc vại “bảo tàng” sẽ hiểu được cảm giác rưng rưng… run mà sướng, lạnh tái tê mà yêu bất chấp.

Hai bạn văn Trần Nhật Minh và Trang Thụy

Có một thứ phong vị quyến rũ, tước đi lý trí của bất cứ ai mang tên là “Phở”. Không chỉ “đích thực”, “biến tướng” phở còn gợi tình, bí ẩn và có danh phận. Ai cũng có thể “chén” mà không bị phán xét. Viết về phở mà không phải phở, không phải phở mà lại là phở. Anh bóc tách phở dưới mọi góc độ, yêu phở với thân phận người Hà Nội, không ngần ngại để cảm xúc tuột bung ra mà vẫn hết sức ý nhị, tinh tế.

“… Niềm xốn xang của những nỗi uẩn ức có dịp là bung ra hỉ hả, riết róng, hôi hổi… Nóng chén kiểu nóng, lạnh xơi kiểu lạnh. “Lạnh thì cuống quýt bỏng môi/ Nóng thì hể hả mồ hôi ròng ròng”. Tê người vì đã chén được phở. Mà đã là phở thì cứ phải Sướng, sướng xong là Vui, vui rồi càng Nhớ…” (Phở Hà Nội).

Điều gì đã khiến anh nhớ thì sẽ rất khó xóa bỏ, lu mờ. Một Hà Nội bình dị với mùa sen thinh lặng, những ngôi nhà cũ càng theo năm tháng, một thời nghèo khó nhiều dư vị… hiện lên thật bồi hồi.

“Những con phố hiu hắt ngang dọc như đường gân tay xanh gày. Nhà thấp, mái ngói âm dương, tường rêu, cửa gỗ, gió lọt qua rin rít. Cha phải lấy ít báo cũ chèn vào để che lạnh. Những hôm mưa dầm gió bấc… Từng giọt nước mưa đọng trên vì kèo tí tách nhỏ xuống, tong tỏng gõ nhịp vào chiếc xô thủng. Cả nhà quây quần bên chiếc đèn dầu mong manh…” (Mùa đông thương nhớ).
Một bản nhạc bình thản phát ra từ cái đĩa quay đều, êm ỉ và khắc khoải. Những nhớ tiếc về một thời xưa cũ thổi dịu đi những ngày hoai mục, chống chếnh. Đi qua cái ồn ã, xa lạ những dương xỉ rêu phong dường như vẫn đâu đây. Một sớm mù sương thèm quay quắt bát riêu cua, thổn thức nhớ một Hà Nội rộng thênh, lất phất mưa phùn. Ai đã lựa chọn đi hay ở đều thấy yêu Hà Nội hơn qua những trải lòng từ tốn, mộc mạc.

2. Viết về làng, anh giải phẫu “khói” bằng mọi giác quan, giác vị mà ít ai có thể viết thấm tháp, sống động và tinh tươm đến thế.

Con người bỏ quên khói ở một nơi nào đó rồi bỗng một ngày thấy đói khát cái vị mang mang cay, ướt nhèm mắt. Những giá trị xưa cũ rời bỏ ta mà đi hay chính chúng ta đã khiến mình lạc lõng, vô vị giữa những bức tường chật chội, bí ngốt. Khói ở phố hay làng đều có thần khí, linh hồn. Khói gắn với loài người từ buổi hoang sơ. Khói theo về dưới vạn kiếp nhà. Khói là tiến hoá, văn hoá, là sống còn. Thế nhưng, bây giờ khói lại “bay đâu rồi…?”

Làng là một bản thể độc lập. Nếp làng giờ “loãng” đi nhiều. “Mồ hôi làng” đua nhau lăn trên hè phố nhưng “làng vẫn cất tiếng riêng mình từ ngàn đời trong từng khóm tre ngà, trên những con đường gạch cũ…” (Làng). Những gì hồn vía nhất của làng vẫn luôn tự “sàng sảy” để đối diện với đổi thay, tiêm nhiễm.

Ký ức đồng thời là tiếng lòng anh dành cho những giá trị tốt đẹp đang ngày càng mai một, biến thể lệch lạc. Đánh rơi một giá trị căn cốt nào đó sẽ là bất lực, vô cảm và mất mát. Văn chương xét đến cùng là thân phận và cảm xúc. Trong ký ức và những rong ruổi cuộc đời ta bắt gặp một người đàn ông nhạy cảm và hay ngẫm ngợi. Mỗi trang viết của anh chất chứa ưu tư, đau đáu về những cảnh đời, kiếp người; về số phận của những thứ ngỡ vô tri, vô giác.

Tới Thổ Tang nghe tiếng chợ búa dập dìu, ngắm những người phụ nữ lầm lũi mót từng đồng bạc lẻ, “ăn với chồng một bữa, ngủ với chồng nửa canh”. Chợ là nơi huyên náo, no đủ nhưng cũng là chốn cùng cực, lênh đênh. Câu chuyện về số phận của căn “nhà lang” trở thành nỗi ám ảnh, một trong những hiện thân trong trẻo đầy day dứt của “Tình Mường”. Cái chết trắng tràn về. Chiềng Ơn nằm lọt trong vùng nóng. Những người lái đò nhí ngược sông Đà, những cô bé làm mẹ trẻ con ở Mường Toong khi vào độ trăng tròn… Tất cả cồn lên một câu hỏi, rồi cái “bản bên bờ sóng” đó sẽ thế nào?

3. Rời núi cao, những câu văn tiếp tục mài, miết về cái gọi là đời.

Đời là thân thế, số phận; là bắt đầu và kết thúc. “Khi ta thả xuống nước một con thuyền, ta đã tạo cho nó một cuộc sống, nó cũng có thân phận riêng…” (Lênh đênh). Người đàn ông “ngồi im một góc quán, ngẫm nghĩ về con phà neo mấy chục năm ở cái xóm nghèo… hướng mắt tới cây cầu thẳng căng qua sông như một nét vẽ mới. Soi kỹ vào hốc mắt già thấy những buồn vui lẫn lộn” (Đời phà). Đôi cà kheo sinh ra với số mệnh mưu sinh giữa “sóng vồ, gió cản” để rồi trở thành một nét văn hóa làng biển chắt chiu, còm cõm từ bao đời. (Đời ven bể). Những người đàn ông neo cả cuộc đời với biển đảo, mắc nợ với gia đình một giấc mơ đoàn tụ. Biển sống trong họ, họ hồi sinh giữa biển. (Những người đàn ông canh biển).

Tác phẩm “Miền sau cánh cửa” của Trần Nhật Minh – NXB Văn học, 2020.

Nói đến thân phận là đồng cảm với những trớ trêu ở đời, cái tréo ngoe của nhân tình thế thái. “Con đường ba khía”, tản văn viết như truyện ngắn có cái kết buồn như số phận của loài cua sống ở bãi bùn ngập mặn. Đời ba khía nhọc nhằn, sắt son để rồi nhận lấy cô đơn, khổ ải. Đàn ông đa đoan vì một chữ tình. “Chưa bao giờ tôi thấy một gã giang hồ như hắn lại sụp đổ thảm thương vì… đàn bà như vậy! Ở đời thiếu chi đàn bà. Nhưng cũng nghĩ lại: Người ta đã rửa tay gác kiếm về dọn quán trông xe dưới trướng một người đàn bà thì rõ là cái tình phải lớn đến thế nào” (Con đường ba khía).

Không có yếu tố tưởng tượng, hư cấu… câu chuyện khép lại bằng cơn say và những chén chua cay. Hai người đàn ông cùng sụp đổ. Họ rơi tự do vì một người đàn bà. Người đàn bà đó đã cảm hóa một thằng lưu manh, cho hắn đường về mang tên ba khía. Ả đã rót vào lòng “gã anh lưu lạc” một hi vọng ấm cúng rằng: thằng em xăm trổ “tồng tộc, hồn hậu” đã có một nguồn vui bình dị. Thế nhưng, cũng chính ả đã tước đoạt tất cả bằng một cuộc trốn chạy. Hạnh phúc vốn dĩ mong manh và khoảnh khắc. Người phụ người, người nguyện chờ người… đó là tính cách và số phận.

Loạt bài về chốn cù lao, phù sa gọi tên những mảnh đời già cỗi, thực thà; những nụ cười thênh thang, hào sảng. Ai đã từng đặt chân tới đất châu thổ hẳn đều đồng ý với anh: “Mỗi số phận, mỗi cuộc đời có một gương mặt riêng. Điều đó tạo nên những bất ngờ khi mà cuộc sống luôn chảy hoài không nghỉ. Nhưng sẽ mất đi những thi vị nếu mỗi chuyến xe cứ trôi thật nhanh mà không neo lại chút gì đó bâng khuâng” (Những chuyến xe đò).

4. Về với phố, gặp lại những câu văn nhám khói, tiết ra thứ “enzym” hoài niệm, rút kiệt cảm xúc của người đọc.

Ký ức nào, thân phận nào cũng gần gụi, chất chứa nỗi đời. “Hà Nội ngày ấy giấu những nỗi u hoài trong từng ngôi nhà từng số phận, ấp iu những điều bí ẩn… Những chiếc áo sờn kể về sự nghèo khó trên chiếc dây phơi, mùi khói bếp kể về nỗi nhọc nhằn mùa giáp hạt…” (Mùa Đông thương nhớ).

Những gì gắn bó máu thịt tự thân nó luôn thở, luôn mang trong mình những câu chuyện, những lý do để tồn tại. Cái roi tre của cha đứng lặng ở góc nhà, một công cụ răn đe bất đắc dĩ. Cha già đi, roi mốc meo rồi một ngày đi đâu không rõ. Chỉ những chuyện phải – trái cha từng rủ rỉ là vẫn “lằn” như roi. Câu Kinh, chiếc roi, lời của cha… trở thành di sản tinh thần để các thế hệ nương vào trong hành trình làm người. Con người sống cần có đức tin, có đức tin để không lạc lối và mù loà.

Tôi không thấy sự hời hợt nào trong lối viết chặt như nêm, nhẵn như bào. Anh thuyết phục tôi với hành văn nhẹ nhõm, khí khái… cả những lời kết ngắn, đặc tả tới nhức nhối. Tôi muốn nói tới “Phố hướng về sông”. Anh hiểu sông như chính mình là một hạt cát, một lọn gió, một vỏ ốc… ngày nối ngày trôi giữa bãi bờ.

“Ngoài kia, sông Hồng tháng Chạp hanh hao gió. Dỏng tai nghe kỹ có thể thấy tiếng nước bỏ đi, sông khô héo gày gò. Những vệt phù sa nhìn tựa những vệt máu nhói lòng. Ven bờ, cụm cây bắt đầu trổ vầng lá xanh non. Xanh đến nhức mắt…” (Phố hướng về sông).

Cho đến những câu chuyện cuối cùng để khép lại một áng du văn, anh vẫn nói về ký ức và thân phận. Chiều cuối năm, nhớ nhà cồn cào… nhớ những đêm thắp lửa trong gian bếp ẩm mốc, đầy bồ hóng. “Củi lửa xua mùa đông đi nhanh hơn trong cái mùi hăng hắc cay xè mắt mũi… Nồi lá thơm, lá mùi tắm tất niên sẽ nao nao tỏa vào không gian hương vị thật dễ chịu…” (Mùi của Tết).

Nỗi nhớ là dịu đi trống trải nhưng lại dấy lên những khao khát về ngọn lửa sum vầy. Viết về đất, về người để rồi tự họa lên bức chân dung của chính mình. Một gương mặt nhuốm đỏ phù sa, đa mang như một dòng sông. Hành trình của một lãng nhân tạm ngơi nghỉ. Vô số tình tiết, ngàn lẻ sự đời sẽ tiếp tục được anh ghim vào nỗi nhớ, đợi khi lòng thao thiết sẽ hiện rõ hình hài.
Một chiều lá trút, nắng hanh. Tôi thấy mưa và gió mùa tìm gặp nhau ở một con ngõ. Trà vơi, khói vãn. Họ toả ra các triền phố, gieo vào lòng người cái lao xao rét đầu mùa. Tôi thư thả tìm một lát gừng để làm ấm mình và “Miền sau cánh cửa” chính là lát gừng đó.

TRANG THỤY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *