Mã Thế Vinh, mộc mạc một hồn thơ

Vanvn- Nhà thơ Mã Thế Vinh, dân tộc Nùng, quê Tràng Ðịnh (Lạng Sơn). Từ một cán bộ văn hóa làm công tác tuyên truyền cổ động, cán bộ biên tập thơ ca quần chúng của tỉnh và khu Việt Bắc, ông bước vào hoạt động sáng tác thơ ca, viết kịch tuyên truyền cổ động và trở thành một nhà thơ nổi tiếng của xứ Lạng.

Nhà thơ Mã Thế Vinh (1932 – 2022)

>> Nhà thơ Mã Thế Vinh qua đời ở tuổi 91

>> Nhà thơ Mã Thế Vinh: Cái riêng trong cái chung

 

Không phải người làm thơ nào cũng có được cái may mắn như ông, bắt đầu sự nghiệp sáng tác đã để lại dấu ấn riêng, đã ghi được tên tuổi của mình trong làng văn cả nước. Hiến pháp ban hành như mùa xuân là dấu ấn đặc sắc, là mốc lớn trong cuộc đời sáng tác của ông. Bài thơ được ông sáng tác đêm 1.1.1960, ngay sau khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản hiến pháp mới, thay cho hiến pháp đầu tiên ban hành năm 1946. Bài thơ mở ra với những từ ngữ rất mộc mạc đúng như lối kể chuyện có đầu có cuối, cách nói có ví von, hình ảnh của người miền núi, trong đó có cả tấm lòng hân hoan chào đón hiến pháp mới của người dân Việt Nam miền xuôi cũng như miền ngược thật nô nức: Hiến pháp ban hành như mưa sớm/ Mưa sớm vườn hoa lá lá tươi/ Hoa đỏ hoa đào đang khoe sắc/ Như lòng người dân tộc Việt Nam.

Câu chữ mộc mạc, giản dị, hình ảnh thơ cũng thật gần gũi, đọc lên ai cũng hiểu và cảm nhận được ngay. Những lời thơ chỉ có thể hát lên bằng làn điệu sli, lượn của dân tộc mới cảm hết được cái tình thật của tác giả.

Bài thơ Vẽ bản đồ quê tôi là thành công tiếp theo của ông ở giai đoạn sáng tác đầu tiên. Bài này ông sáng tác năm 1961, một thời kỳ có nhiều thành tựu sau khi đất nước được giải phóng, miền bắc đi vào khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế… Thời kỳ mà nhà thơ Tố Hữu gọi là “Ðỉnh cao muôn trượng” (Chào xuân 61). Quê hương được giải phóng, nhân dân hân hoan đón chào ngày mới do Ðảng và Bác Hồ đem lại. Quê hương như đẹp hơn, giàu có hơn. Ðó là nhờ ánh sáng của Ðảng soi rọi, xua tan những tăm tối của đêm dài nô lệ, mở ra ngày mới mà trước đây chưa hề thấy. Câu thơ của Mã Thế Vinh thật hình tượng và độc đáo khi phản ánh về thời kỳ trước cách mạng: Bởi trước kia bóng tối đã ăn mòn.

Chính là chính sách ngu dân của thực dân – phong kiến khiến dân ta có mắt mà như mù. Nó không chỉ “ăn mòn” đôi mắt dân ta mà còn “ăn mòn” cuộc đời bao thế hệ người Việt Nam ở miền xuôi cũng như miền ngược, “ăn mòn” quê hương, đất nước ta! Bóng tối trước kia đã bị ánh sáng mặt trời – Ðảng ta chiếu rọi, xua tan! Quê hương hiện ra muôn màu, muôn sắc: những nét đẹp lộng lẫy của Mẫu Sơn hùng vĩ, của Ðồng Ðăng kết nối ngược xuôi, của bản làng ấm no, hạnh phúc. Bản đồ quê hương phải vẽ cho giống, tô cho đẹp, với ông – đó là chức phận của nhà thơ!

Ý tưởng tô đẹp quê hương còn được ông nhắc đến không chỉ một lần. Trong bài thơ Ðẹp, ông ước mình có cái “tài pha mầu thổ cẩm”, có tài: … được tay cô gái Dao khéo léo/ Thêu dãy Cai Kinh muôn sắc hài hòa/ In ngọn Phia Giang vào khăn áo mới/ Với Kỳ Cùng núi sóng reo ca… và có cả cái tài: … như cô gái Tày dệt núi dệt hoa/ Bắt ánh trăng non in mặt chăn cưới hoặc: … như cô gái Nùng hai tay nhuộm giỏi/ Gói các vì sao vào tấm vải/ Ngâm nước chàm làm khăn đỏ ngân hà.

Thơ ông là niềm tự hào vô bờ bến về quê hương xứ Lạng yêu thương, mảnh đất có truyền thống lịch sử vẻ vang, oai hùng; có núi sông hùng vĩ; có những người con tài năng, chí lớn, dũng cảm và cần cù; có các dân tộc đoàn kết chung sức xây dựng cuộc đời, xây dựng quê hương…

Một quê hương như thế đã cho ông một vị thế mới để làm thơ. Ðó là “một chỗ đứng trên cao” để quan sát, để tự hào, để ngợi ca quê hương mình: Trên núi mẹ nhìn trời nhìn biển/ Biển xa xa – sóng núi đang dâng/ Nhìn Lộc Bình đất đồi lộng gió/ Ðây Nà Dương, Tú Ðoạn, Lục Thôn/ Kia Chi Lăng, Như Khê, Nhượng Bạn/ Có Lăng Xê, Ðồng Bục nêu tên…

Ðứng trên cao, ông nhìn thấy nhiều vẻ đẹp của quê hương đang dựng xây, đang đổi mới. Tất nhiên, đứng trên cao cũng không thể nhìn thấy hết mọi góc khuất của cuộc đời; vì vậy, tôi thích nhất câu thơ “Nghe trâu lạc đàn “nghé ọ” trong mây”! Câu thơ tươi tắn và thật hơn rất nhiều những gì tác giả nhìn thấy. Làm thơ, có lẽ cái thật không ở chỗ ta nhìn thấy gì mà quan trọng hơn là ta cảm thấy gì, nghe thấy gì từ cuộc sống dội vào trái tim mình.

Nói thế không có ý chê gì cách tiếp cận cuộc sống của nhà thơ Mã Thế Vinh. Thời đại sáng tác của ông khác bây giờ. Thời của ông cái gì cũng cao cả hoặc ít nhất hướng tới cái cao cả: Mẹ ở núi lòng cao hơn núi/ Tình dạt dào trăm suối ngàn khe! (Lòng người mẹ Việt Bắc).

Cuộc sống tràn đầy lý tưởng lúc bấy giờ đòi hỏi nhà thơ phải đặt mình lên cao, có khi cao hơn nhiều hiện thực cuộc sống. Ðó là tâm thế và tư tưởng của không ít nhà thơ lúc bấy giờ. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: Chào sáu mốt (1961) đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau/ Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu… (Chào xuân 61).

Nhà thơ Chế Lan Viên trong những năm tháng đánh Mỹ ác liệt cũng đòi hỏi “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy“, thì làm sao một nhà thơ miền núi như ông không “lên cao trên núi mà trông” quê hương đang đổi mới, đang vào trận tuyến mới?!

Thơ ca bây giờ không mấy người còn viết được như thời của trưởng lão Mã Thế Vinh đây. Các nhà thơ hiện nay hướng tới sự giải thiêng, hướng tới cái tôi cái cá nhân đơn lẻ nhiều hơn cái ta, cái cộng đồng, để nhiều khi sa vào vị kỷ. Cũng phải thấy rằng, xã hội bây giờ nhiều cái không còn được như trước. Ngày trước con người sống với nhau, sống cho đời không ích kỷ, cá nhân như bây giờ. Xã hội ngày nay là xã hội thông tin kết nối cả thế giới làm một, người ta có thể nhìn “thấy vết bùn trên tận chín tầng cao” (Cửa mở – Việt Phương) thì nhà thơ hiện tại sao không đau đớn, không phẫn nộ trước hiện thực bị tha hóa và xã hội còn nhiều bất công, nhân phẩm con người có nơi còn bị chà đạp. Ðề cao cái tôi cũng là cách nhà thơ bày tỏ thái độ sống vì con người với tư cách là tế bào của xã hội.

Nhà thơ Mã Thế Vinh thật hạnh phúc với thời đại ông sống và sáng tác! Thơ ông, thời của ông hướng tới cộng đồng. Nhà thơ Bàn Tài Ðoàn cả đời làm thơ cho người Dao hát về cuộc đổi đời chưa từng có trong lịch sử người Dao. Thơ Mã Thế Vinh phần nhiều là những bài sli người Nùng có thể hát lên bất cứ nơi đâu! Tôi nghĩ đóng góp của ông trong sáng tác hẳn là ở mảng thơ – sli Nùng – những bài thơ, truyện thơ sáng tác bằng tiếng Nùng… Và như thế, ông không chỉ có cả triệu người nói tiếng Tày – Nùng hiểu ông, yêu mến ông nếu như việc xuất bản tiếng dân tộc làm được tốt hơn bây giờ.

Nhân dịp nhà thơ bước qua tuổi tám mươi, xin có đôi lời về thơ của một trưởng lão đáng kính. Rất mong nhà thơ khỏe, vui, hào sảng như một đời thơ của ông vậy!

Ngày 06.12.2012

MAI LIỄU

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.