Lý Văn Sâm từ nhà văn đường rừng đến nhà văn hiện thực và cách mạng

Vanvn- Hình như bình dị với ông đã trở thành bản chất, từ những năm trước 1945, những năm hoạt động ở Sài Gòn vùng tạm chiếm, trong nhà tù Tân Hiệp và trong khu kháng chiến, sau 1975 khi “về thành” với những nhiệm vụ mới sự bình dị đó vẫn như không thay đổi. Đó là một phẩm chất mà anh em trong giới văn nghệ sĩ và cả những người không phải văn nghệ sĩ khi tiếp xúc với ông đều cảm nhận như vậy.

Nhà văn Lý Văn Sâm thời trẻ.

 

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Chuyên trang Chi hội Nhà văn Việt Nam – Đồng Nai trên Văn Nghệ Đồng Nai

>> Trao giải Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II

>> Phác thảo về Nguyễn Trí

>> Người viết bền bỉ nhất Đồng Nai: Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải

>> Mưa trên rừng chồi – Truyện ngắn Lê Đăng Kháng

>> Nhà văn Lý Văn Sâm: Người kể chuyện một mình

>> Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Đồng Nai: Một miền văn chương trù phú

>> Nhà văn Hoàng Văn Bổn: Người lực điền trên cánh đồng chữ

>> Văn học Nam Bộ 1932-1945: Một cái nhìn toàn cảnh

>> Diện mạo của văn học Đông Nam Bộ từ 1975 đến nay

>> Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II trao 12 giải thưởng

 

1. Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17.2.1921, quê ngoại ở ấp Ông Lình, làng Tân Nhuận[1], quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa cũ (nay thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Quê nội của ông, làng Bình Long[2], huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Bình Lợi huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Ông mất ngày 14-9-2000; được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Quê ngoại ông, khu vực rừng Tân Uyên năm 1946 trở thành một phần của Chiến khu Đ anh hùng của miền Đông Nam bộ, một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Quê ngoại của ông cũng là quê của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, một trong những nhà văn chiến sĩ anh hùng, hào hoa của đất miền Đông.

Lịch sử lại có những trùng hợp thú vị: Chỉ một khúc sông Đồng Nai hiền hòa, ở hai bờ lại có đến bốn nhà văn nổi tiếng, trong đó có đến ba nhà văn được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Đó là Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc (Tô Văn Trước), Hoàng Văn Bổn và Lý Văn Sâm. Mỗi nhà văn một hoàn cảnh, hai người tập kết ra Bắc, hai người ở lại miền Nam (Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm) sống bằng nghề sáng tác văn chương, nghệ thuật, nghiên cứu ngôn ngữ, dân tộc, quản lý văn nghệ… Cả bốn nhà văn đều có những tác phẩm để đời.

Lý Văn Sậm thuở nhỏ học tại trường làng, trường tổng đậu Tiểu học Pháp Việt rồi xuống Sài Gòn thi đậu vào bán trú tại trường Pétrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong). Sau khi bị buộc thôi học ở trường Pétrus Ký vì “vi phạm kỷ luật”, ông xin vào học trường tư thục Lê Bá Cang, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì nghỉ học. Sau đó ra Huế học trường tư thục Hồ Đắc Hàm, năm 18 tuổi đậu bằng Thành Chung rồi về quê theo cha lên rừng Trị An (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cai quản lò than gia đình.

Lý Văn Sâm tham gia phong trào Dân chủ Đông Dương từ 1936. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tham gia công tác tuyên truyền ở quận Châu Thành Biên Hòa, bị địch bắt tù rồi về Sài Gòn tham gia viết văn và làm nhiệm vụ cách mạng do Thành ủy giao cho. Sau cuộc vượt 2/12/1956, ông thoát ly hẵn về công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam lần lượt đảm nhận các nhiệm vụ: chính trị viên đoàn Văn công Giải phóng, Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật (Bộ Văn hóa Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Năm 1962, Hội Văn nghệ giải phóng thành lập, Lý Văn Sâm được cử làm Tổng thư ký. Sau 1975, Lý Văn Sâm là Phó tổng thư ký Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội (khóa 6) và nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai (từ 1979).

2. Là người phóng khoáng thích giao du bè bạn, từ năm 1936, khi phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, ông được sự dẫn dắt của những đảng viên Hồ Văn Đại, Nguyễn Văn Ký…ở Biên Hòa tham gia phong trào đang diễn ra sôi nỗi ở địa phương và Nam bộ. Ông đã cùng với Hồ Văn Đại trong Ủy ban hành động của tỉnh, trên chiến xe traction của Nguyễn Văn Lành xuống Long Thành, lên Xuân Lộc để đưa báo chí tiến bộ về cơ sở tuyên truyền về dân chủ, vận động quần chúng nhất là nông dân đứng lên đòi quyền lợi, chống áp bức cường quyền của địa chủ phong kiến và thực dân. Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ (tháng 9/1939), thực dân Pháp tiến hành khủng bố, Ủy ban hành động bị giải thể, theo chỉ thị của Đảng, nhiều đảng viên Cộng sản ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu, Tân Uyên phải lẫn tránh sự truy lùng của thực dân. Cũng là lúc Lý Văn Sâm về quản lý trại than của gia đình ở Trị An.

Tuy chưa phải là người cộng sản, nhưng những ngày sống trong không khí sôi động của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông dương với “những anh lớn” (lời của Lý Văn Sâm), tiếp xúc với tầng lớp dưới xã hội, cảm nhận được những nguyện vọng, khát vọng của nhân dân về dân chủ, công bằng, về một xã hội tốt đẹp, chống bất công trong xã hội thuộc địa, chắc hẵn đã có những tác động không nhỏ trong những sáng tác của ông sau này. Đặc biệt ông cảm thấy trống vắng khi không còn gần được “những anh lớn”, phải quay về rừng Trị An với lò làm than của gia đình; cũng là một cách tránh né sự truy lùng của chính quyền thực dân bấy giờ.

Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ, khát vọng tự do, nghĩa tình của đồng bào trong phong trào Dân chủ những năm 1936-1939 được thể hiện rõ trong những sáng tác của ông, nhất là những sáng tác trước 1945. Sự cô đơn trong rừng thẳm (với bạn bè từng giao du, xa phố thị), khát vọng tự do (như một hồi vọng) cùng với khung cảnh hùng vĩ của núi rừng, thác nguồn Trị An chính là chất liệu cho những sáng tác đầu tay của ông, sau này thường được gọi là “Tuyện đường rừng”. Trong những sáng tác này, ông thường xây dựng các kiểu nhân vật như Kòn Trô (Kòn Trô), Châu Phiên (Rồng bay trên núi Gia Nhang)… Những nhân vật này đáp ứng khát vọng về tự do, nhân nghĩa, về sự công bằng trong xã hội của người dân trước Cách mạng tháng Tám.

Ông tự viết: Mãi đến lúc thấy (theo?) ba tôi cai quản lò than “Cái thác nước” ở Trị An, tôi rất thiếu bạn bè. Quanh tôi chỉ có rừng và thác. Trước mặt tôi bút giấy là bạn. Tự nhiên tôi cần phải viết để quên buồn, chớ không phải để gởi đăng báo. Truyện thứ nhất hồi ấy là “Kòn Trô”. Trong ấy tôi tả nỗi “xa đời” của một nhân vật bị “đời xa”. Viết rồi cất đó, để đọc chơi

Hoặc: Bọn thủ hạ tôi hơn một trăm người đều sống chung với nhau trong những căn trại ấy… Tôi bảo chết họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính trọng như cha. Bà nghĩ còn lòng thương nào khắn khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thế và cuộc đời gần giống nhau. Không cần cắn máu ăn thề mà họ cũng ăn ở với nhau một niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng trường niên nó gây cho họ cái dây đoàn thể bền bĩ, không ai có thể cắt đứt được. Ở đây không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ vì nhau. Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cỏ cây hoang dại. (Kòn Trô).

Trong những sáng tác sau này, kể cả những sáng tác trong vùng đô thị tạm chiếm Sài Gòn (từ 1947-1955), thiên nhiên núi rừng vẫn là một bối cảnh để ông gắn những hình tượng, nhân vật và gửi gắm vào đó những nổi niềm trăn trở về khát vọng tự do, độc lập, sự hi sinh…lấy ngòi bút của chính mình để động viên cho mình và lên án chế độ tay sai, cổ vũ thức tỉnh nhân dân với cuộc chiến đấu chính nghĩa.

3. Sau Hiệp định Genève được ký kết (tháng 7-1954), ông ở lại Sài Gòn hoạt động báo chí vùng tạm chiếm và hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ vạch trần bản chất của chế độ Sài Gòn và đấu tranh cho dân sinh, dân chủ với nhiều bút danh Huyền Sâm, Văn Sâm, Mộc Tử Lang, Bách Thảo Sương, Ánh Minh, Đào Lê Nhân…Trong vòng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, cuộc sống nhà văn hết sức vất vã về vật chất, lại phải thường xuyên đối phó với bọn mật vụ rình rập và chế độ kiểm duyệt gắt gao của cơ quan quản lý báo chí, văn nghệ, để có thể sáng tác nhà văn cần không chỉ tài năng mà còn sự khôn ngoan khéo léo trong thể hiện những hình tượng, những cảm xúc và tư tưởng yêu nước, đấu tranh mà địch không thể bắt bẽ được; nhưng lại khơi gợi cho người đọc cảm nhận được cái bất công, nguyên nhân của những khổ ải mà con người chịu dựng trong chế độ Sài Gòn.

Những mảng truyện viết về đề tài kháng chiến của ông giữa lòng Sài Gòn phố thị tạm chiếm như: Đường vào đất Thục, Hồn Do Thái, Ngày ra đi, Qua bến lạnh, Sa mù, Lau lách đìu hiu, Chuông rung trên tháp đổ, Khi rừng thay lá, Nắng bên kia làng …có tác động lớn đến tinh thần yêu nước của nhân dân miền Nam bấy giờ. Bởi không chỉ mô tả đời sống bết tắc của tầng lớp tiểu tư sản trí thức, người dân nghèo thành thị, Lý Văn Sâm còn đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người, hoài vọng về những điều tốt đẹp. Ông lên án chế độ thối nát ở Sài Gòn chính là nguyên nhân của nghèo đói, đau khổ trong xã hội. Hãy đọc suy nghĩ của ông trong truyện Rửa hờn trong tập truyện Nắng bên kia làng:

– Khâu áo ai đó?

– Cho em Bê, kia!

Trần đưa mắt nhìn theo ngón tay trỏ của vợ: Một cậu bé xanh xao ngồi trong một góc nhà tối.

Cậu ấy là hình ảnh của bọn nhi đồng Việt Nam. Nghèo khổ, bịnh hoạn, rách rưới!

Cha mẹ chúng làm không đủ ăn thì làm sao nuôi cho đầy đủ được?

…Em xin nói: Sự dốt nát của dân tộc ta bởi đâu mà ra? Vì sự dốt nát nên kém giáo dục…lỗi không phải ở những người phu xích lô đã đánh đập anh, mà lỗi của một chế độ, một xã hội.

Trong Mười năm thương nhớ (Ban mai, Sài Gòn, 1955), Lý Văn Sâm mô tả hình ảnh người cán bộ kháng chiến gần mười năm xa quê, người thân, tưởng rằng đoàn tụ sau hòa bình (1954), thế nhưng rồi lại phải gạt tình riêng bước tiếp đường tranh đấu của dân tộc vì âm mưu chia cắt đất nước. Cảm xúc thật của người viết, tạo cảm xúc cho người đọc.

Với Bút danh Bách Thảo Sương, tháng 11.1955, Lý Văn Sâm viết truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ đăng trong tập san Xuân Dân tộc. Bằng cách viết hình tượng, bóng gió, ông phê phán chế độ bù nhìn của Ngô Đình Diệm một cách gay gắt. Và kết quả là bọn mật vụ Sài Gòn đã bắt giam ông ở bót Catinat rồi chuyển về giam ở Trung tâm huấn chính ở Biên Hòa (Nhà lao Tân Hiệp). Bạn viết, bạn tranh đấu trên văn đàn vì dân chủ tự do, phê phán chế độ tay sai giữa Sài Gòn, cổ vũ cho chính nghĩa, Lý Văn Sâm lại cùng nhà văn Dương Tử Giang hội ngộ trong trại giam ở Biên Hòa, lại trở thành cặp đôi văn nghệ đấu tranh với địch bằng hình thức thơ văn, kịch nghệ trong nhà tù đế quốc; củng cố tinh thần đấu tranh cho đồng đội, đồng chí, trước khi tham gia vượt ngụ về với chiến khu.

4. Hoàn thành nhiệm cách mạng giao tập hợp đội ngũ trí thức văn nghệ, bằng ngòi bút cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân kháng chiến, vạch trần bản chất xâm lược, tay sai của chính quyền bù nhìn Sài Gòn, Lý Văn Sâm lại trở về Sài Gòn với những trọng trách trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Năm 1979 ông về Đồng Nai với chức vụ Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật. Hình như bình dị với ông đã trở thành bản chất, từ những năm trước 1945, những năm hoạt động ở Sài Gòn vùng tạm chiếm, trong nhà tù Tân Hiệp và trong khu kháng chiến, sau 1975 khi “về thành” với những nhiệm vụ mới sự bình dị đó vẫn như không thay đổi. Đó là một phẩm chất mà anh em trong giới văn nghệ sĩ và cả những người không phải văn nghệ sĩ khi tiếp xúc với ông đều cảm nhận như vậy.

Trong kháng chiến chống Mỹ và trong thời bình sau 1975, ông viết không nhiều, nhưng những sáng tác của ông từ 1941 đến 1955 với những trang viết đề cao con người nghĩa hiệp, khẳng khái, biết đấu tranh, yêu chuộng tự do, hòa mình cùng thiên nhiên; những trang viết cho chính nghĩa và vì chính nghĩa của dân tộc, mãi còn giá trị cả về lịch sử và văn chương. Đặc biệt nhân cách sống của ông là nhân tố tập hợp các nhà văn ở địa phương, kinh nghiệm sáng tác của ông góp phần đào tạo những thế hệ nhà văn, văn nghệ sĩ Đồng Nai tiếp bước trong sự nghiệp cầm bút vì một cuộc sống tốt đẹp, vì hạnh phúc của con người và xã hội.

Ths TRẦN QUANG TOẠI

(Chủ tịch Hội Sử học Đồng Nai)

_________________________________

[1] Xã Tân Nhuận thuộc tổng Chánh Mỹ Hạ, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa thành lập từ triều Minh Mạng. Đầu thời Pháp chiếm đóng thuộc hạt thanh tra Biên Hòa. Từ 5-1-1876 gọi là làng Tân Nhuận thuộc tiểu khu Biên Hòa, tỉnh Biên Hòa (1-1-1900). Từ năm 1928 thuộc quận Tân Uyên. Sau năm 1956 gọi là xã vẫn huyện, tỉnh cũ. Ngày 10-10-1957 nhập vào xã Uyên Hưng, từ ngày 23-1-1959 đến 6-7-1965 thuộc quận Tân Uyên, tỉnh Phước Thành (do chính quyền Sài Gòn lậ). Tháng 7-1965 giải thể tỉnh Phước Thành.

[2] Làng Bình Long thuộc tổng Phước Vinh Hạ, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa lập từ 1-1-1928 do sáp nhập 2 làng Bình Ninh, Long Lộc. Từ 23-1-1959 gọi là xã Bình Long thuộc quận Tân Uyên tỉnh Phước Thành (lập mới). Từ ngày 25-7-1961 chuyển thuộc tỉnh Biên Hòa. Ngày 22-3-1963 thuộc tổng Thanh Quan, quận Công Thanh cùng tỉnh. Sau 30-4-1975 thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa. Từ tháng 1-1976 thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 23-12-1985 thuộc thị xã Vĩnh An, cùng tỉnh. Ngày 12-2-1987 đến nay sáp nhập xã Lợi Hòa thành xã Bình Lợi.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.