Lứa học trò đầu tay – Ký của Biên Linh  

Vanvn- Khi chiếc xe đò Phước Long – Bến xe miền Đông tới, tôi lên xe, học trò cứ đứng bên đường vẫy mãi, xe chạy một đon xa ri, trong mịt mù bụi đỏ tôi vẫn thấy những bàn tay vẫy vẫy. Nước mắt tôi rưng rưng. Bao nhiêu yêu thương, nhớ nhung, nuối tiếc và cả niềm hạnh phúc làm lòng tôi nghn li. Tôi đã giđúng lời hứa ngày ra đi rằng: “Cô sẽ trở về”.

Năm 1985, tôi phơi phới yêu đời và đầy khao khát trong ngần của tuổi 20. Thi tốt nghiệp xong, thầy Trần Chấn Quyên hiệu trưởng và thầy Tạ Sĩ Lục – Trưởng phòng tổ chức của trường CĐSP Sông Bé gọi tôi lên Văn phòng để trả lời về việc tôi có đồng ý ở lại làm cán bộ giảng dạy ở trường không, vẫn biết đó là mơ ước của bao sinh viên, nhưng tôi vẫn phải lễ phép từ chối vì từ lâu tôi đã nhủ lòng: Học xong sẽ về gần nhà, phụ giúp cha mẹ để các em tôi được tiếp tục học hành. Bởi gia đình tôi đang còn quá nhiều nỗi lo toan, vất vả.

Nghe tôi trình bày lí do không ở lại trường được, thầy hiệu trưởng vẻ ngạc nhiên pha chút buồn, thầy nhìn tôi thờ dài:

–  Em không muốn ở lại trường à? Thật rất tiếc!

Chia tay thầy ra về trong nỗi bâng khuâng, nuối tiếc, nhưng tôi không thể nghĩ khác đi trong hoàn cảnh thực tại.

Nhà văn Biên Linh ở Bình Phước

Thật nhanh, một tuần sau, Tôi nhận quyết định ra trường, Tôi về Phước Long công tác. Lần ấy có 17 sinh viên đủ các môn. Xe của phòng giáo dục Phước Long xuống tận trường đón. Chúng tôi lên xe, và ai đó bỗng “bắt nhịp” và tất cả cùng nhau hát vang hết bài này sang bài khác từ khi xuất phát cho đến lúc xuống xe.

Tưởng được về gần nhà sẽ có nhiều điều kiện giúp đỡ gia đình tốt hơn; Nhưng tôi lại bị phân công về trường cấp III Phước Long (Trường cũ của tôi từng học). Đây là trường lớn nhất huyện Phước Long hồi đó. Nhiều bạn đã nhờ người xin trước không được về, còn tôi thì bị giữ lại với lí do: “Để dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi cho ngành giáo dục huyện nhà”. Tôi là học sinh cũ lại là học sinh đầu tiên ở Phước Long thi học sinh giỏi quốc gia, rồi lại là học sinh có bài từng được in, giới thiệu trên các báo chí, là học trò của các nhà văn, nhà thơ tên tuổi trên đất nước, nên hồ sơ của tôi “đã được lãnh đạo nghiên cứu” kỹ.

Xin mãi không được về gần nhà, tôi chỉ còn biết khóc, nhớ đến cảnh bố mẹ vất vả mà mình chẳng giúp được gì. Như đoán được nỗi băn khoăn, day dứt của tôi, anh Phó phòng giáo dục nhỏ nhẹ bảo:

– Em về dạy ở cấp III Phước Long là tốt, cố gắng bồi dưỡng nhiều học sinh giỏi nhé!

Tôi “dạ…dạ…” mà nước mắt cứ rơm rớm, vì đó đâu phải là mong ước của tôi lúc ấy.

May quá! Hôm ấy, Phòng Giáo dục tổ chức bữa liên hoan đón tân sinh viên nên có mời bác Phó chủ tịch huyện sang dự. Tôi vui mừng nhận ra đó là bác Phú thông gia với bác tôi. Bác tôi hay khoe về tôi mỗi khi có bác Phú sang chơi. Tôi cũng đã vài lần được trò chuyện với bác ấy. Rất nhanh, ý nghĩ nhờ bác Phú xin giùm cho về trường cấp II Long Hưng gần nhà lóe lên trong óc. Tôi chạy lại chỗ bác Phú đang đứng nói chuyện với bác Trản Trưởng phòng giáo dục và chị Ngộ Trưởng Ban tổ chức. Nghe tôi trình bày xong, bác Phú quay sang nói với bác Trản và chị Ngộ:

–  Cháu nó đã có tâm nguyện vậy thì các đồng chí giải quyết cho về, khi nào cần ôn thi cho học sinh giỏi thì điều lên dạy. Nhà nó cũng còn khó khăn lắm!

Thế là được đổi lấy quyết định về gần nhà. Tôi vui sướng quá! Dù biết rõ trường cấp I, II Long Hưng khi ấy rất nhỏ và nghèo. Nhưng có hề gì! Nơi ấy, tôi có cha mẹ và các em tôi đang ngóng đợi. Về cùng tôi còn có Hương dạy Sử – Địa (Suốt thời sinh viên, nó luôn là chỗ dựa cho tôi). Hương cao lớn, da ngăm đen khỏe khoắn, nhanh nhẹn, còn tôi thì be bé trắng trẻo, chậm và vụng nên cứ mỗi lần về thăm nhà, Hương lại vác tất cả gạo, mít, chuối, mía… bố mẹ cho xuống trường của cả hai đứa còn tôi thì lẽo đẽo xách 2 túi quần áo. Giờ được về cùng trường thật thích.

Ngày đầu tiên đi nộp quyết định đầy hăm hở. Bác Hiệu trưởng khoảng gần năm tuổi tiếp chúng tôi ở Văn phòng của trường. Gọi là Văn phòng nhưng thực ra đó là một căn nhà vách lồ ô, mái lợp tranh đã cũ được ngăn thành từng phòng bằng những tấm cót đan bằng tre. Một phòng nhỏ làm nơi họp của giáo viên và làm việc của hiệu trưởng. Các phòng còn lại là chỗ ở của các giáo viên ở xa đến đây công tác. Trước cửa Văn phòng treo một cái kẻng bằng mảnh bom. Bác Hiệu trưởng xem giấy giới thiệu rồi hỏi:

–  Cô là con ông bà Phô chứ gì! Người làng cả, tôi phân công cô chủ nhiệm lớp 8A dạy Văn lớp 8 và lớp 6. Còn cô Hương thì chủ nhiệm lớp 6B, dạy Sử – Địa hết các khối.

Cả đêm ấy, tôi đã hồi hộp không ngủ được, háo hức mong chờ đến sáng mai ra nhận lớp, hướng dẫn học sinh lao động để chuẩn bị khai giảng.

Người ta bảo “Bụt chùa nhà không thiêng” nên dù đã từng được xếp loại xuất sắc về công tác chủ nhiệm và giảng dạy khi đi thực tập, tôi vẫn cứ lo. Không biết mình có dạy tốt được không hay lại làm mẹ cha xấu hổ với xóm làng.

Thế rồi sáng hôm sau cũng đến. Đứng trước mặt tôi là gần 30 em học sinh. Phần đông là cao lớn, đen nhẻm, đứa nào cũng đầu trần, chân đất. Mỗi đứa vác trên vai một cái cuốc hoặc một con dao quắm thành thạo như nông dân thực thụ. Ở vùng kinh tế mới này học sinh hầu hết là con nhà nghèo quen lao động nên đứa nào ngần ấy tuổi cũng thạo việc.

Nghe giới thiệu tôi sẽ chủ nhiệm lớp, khuôn mặt lũ trẻ vui hẳn lên. Chúng ngoan ngoãn theo tôi làm phần việc được phân công. Mấy chục cô trò chẳng mấy chốc đã hạ gục đám cỏ tranh cao ngút ngàn sau lớp học. Mấy tháng hè lại gặp mưa cỏ tranh tốt nhanh kinh khiếp. Dọn xung quanh trường rồi quay về dọn phòng. Chúng tôi lau bàn ghế dính toàn đất đỏ, vết chân chó vì phòng học không có khóa.

Lao động xong, tôi cũng đã biết tên cả lớp. Sau đó thì bầu Ban cán sự, Lớp Trưởng là Bùi Ngọc Long, lớp phó học tập là Nguyễn Văn Khải, lớp phó lao động: Bùi Tiến Thành, lớp Phó văn thể mỹ: Thiều Thị Tập, Đỗ Thị Gái.

Vừa bầu xong, ở cuối lớp một cánh tay đưa lên cao khỏi đầu.

–  Em thưa cô, cô cho em làm Thủ quỹ ạ!

Cả lớp lao nhao.

– Đúng đấy cô ạ! Cô cho thằng Kham làm Thủ quỹ đi cô. Nó giữ tiền cẩn thận cực!

Như để chứng minh cho lời các bạn, thằng bé tên Kham móc trong túi áo ra một xấp tiền khoảng hơn 10 tờ vừa 5 đồng, vừa 2 đồng được xếp lại và buộc bằng sợi dây chuối xé nhỏ rất cẩn thận.

– Dạ đây là tiền quỹ của lớp thừa năm ngoái ạ. Em nộp cô!

Tôi cười bảo:

– Em cất đi! Năm nay em lại được làm thủ quỹ nữa cơ mà! Phải không cả lớp?

Cả lớp vỗ tay.

Buổi gặp gỡ học trò đầu tiên của tôi như thế đấy.

Khai giảng xong là bắt đầu vào học. Tiết đầu tiên tôi dạy là ngữ pháp. Tôi đã soạn bài thật kỹ và dạy thật tận tình. Dạy xong hỏi lại, đứa nào cũng hớn hở và rất hiểu bài, thuộc bài ngay tại lớp.

Lúc đó và cả sau này, tôi nghiệm ra rằng: Với người giáo viên, cách chinh phục học trò nhanh nhất là phải dạy cho thật tốt, thật dễ hiểu, thật thoải mái nhẹ nhàng.

Ngày nối ngày qua đi, tôi được học trò vô cùng yêu quý. Nhà tôi cách trường chừng hơn 300m nên sáng nào chúng cũng đến tận ngõ chờ tôi rồi cô trò cùng tới lớp. Chúng tranh nhau xách cặp cho tôi.

Nhà đứa nào có món gì ngon cũng mang theo giấu dưới ngăn bàn, lúc tan trường lại chạy theo.

– Cô giáo ơi! Chúng em bảo cô này!

(Học trò thôn quê gốc miền Bắc có kiểu nói năng buồn cười thế đấy). Chúng dúi vào tay tôi khi thì bắp ngô luộc, khi thì cái bánh gói bằng bột củ sắn mài ra thêm tí mỡ hành….

Giờ sinh hoạt lớp rất ít khi tôi phải kiểm điểm vì đứa nào cũng ngoan. Cô trò chỉ dạy nhau học hát hoặc tôi kể chuyện cho chúng nghe, say sưa, hết giờ lâu mới chịu về. Học sinh các lớp khác tha hồ thèm. Phụ huynh cũng tin tưởng tôi nhiều lắm. Tôi không còn sợ “Bụt chùa nhà không thiêng” nữa. Bố mẹ tôi rất vui.

Dạy được một năm, dù chưa hết thời gian tập sự, tôi đã được bổ nhiệm chức quyền Hiệu phó phụ trách chuyên môn. Tôi ngỡ ngàng nhưng không lo lắng vì từ nhỏ đến khi học cấp III và cả khi là sinh viên, tôi luôn làm “cán bộ” nên việc quản lý chuyên môn của một trường cấp II với chưa đến 20 giáo viên cũng không quá khó.

Nhớ nhất là những đêm văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Vốn là người khởi xướng lại được đồng nghiệp nhiệt tình ủng hộ nên tôi luôn kiêm vai trò “tổng đạo diễn” và người dẫn chương trình. Cả công việc này cũng là sở trường của tôi nên tôi say mê lắm.

Hồi còn đi học, rồi khi là sinh viên, tôi cũng thường đảm nhận vai trò này. Những đêm văn nghệ làm cho mọi người vui tươi hơn, xích lại gần nhau hơn, học sinh thấy gắn bó với trường hơn. Dù sân khấu chỉ là vài cái bàn học được kê sát lại xung quanh giăng vài tấm ri đô (màn gió bằng vải) của các cô giáo trong khu tập thể, loa đài thì đi thuê (tiền thuê là tiền công của các thầy cô giáo trong chi đoàn giáo viên đi phát cỏ cao su thuê cho nông trường mà có). Người diễn, người xem đầy say mê.

Học trò vùng sâu, nhưng có nhiều em học rất giỏi. Năm đầu ra trường, tôi đã bồi dưỡng được 3 em dự thi học sinh giỏi vòng tỉnh, riêng em Nguyễn Văn Khải học sinh giỏi Quốc gia, bác Trưởng phòng giáo dục khen “Cô nào thì có trò ấy”. Cô trò tôi rất vui.

Tôi yêu ngôi trường bé nhỏ của tôi, yêu học trò của tôi đến mức ngày nào không có tiết ở trường, tôi cứ có cảm giác mình bị ốm. Học trò yêu quý tôi bằng một tình yêu ấm áp và trong trẻo tin cậy.

Nhà tôi làm nghề nông, nên ngoài giờ lên lớp, tôi vẫn cùng cha mẹ đi làm rẫy: Làm cỏ, tỉa lúa, gặt hái, trồng rau… Có hôm vừa vác cuốc ra ngõ đã thấy một nhóm học sinh vác cuốc đứng chờ. Biết chiều nào tôi cũng đi làm nên chúng rủ nhau làm giúp. Đám rẫy rộng, học trò dàn hàng ngang mỗi đứa một đường, chúng cuốc rất khỏe. Cô trò vừa làm vừa trò chuyện, mới quá nửa chiều đã xong. Mấy đứa con trai vác dao đi chặt chuối rừng, mít rừng về liên hoan. Tiếng cười rộn cả một vùng đồi vốn yên vắng.

Hết tập sự, tôi được bổ nhiệm chính thức là Hiệu phó chuyên môn và được cử đi học đào tạo cán bộ quản lý cho ngành giáo dục của tỉnh, toàn huyện chỉ có 5 người. Bốn là cán bộ phòng, nữ chỉ có mình tôi, lại là cán bộ cấp trường và trẻ nhất. Tôi khi đó chưa tròn 22 tuổi. Thấy tôi còn chần chừ vì mùa gặt sắp đến, bố mẹ tôi đều bảo:

– Con đi học đi! Ở nhà bố mẹ thu xếp được.

Thế là tôi từ giã gia đình, mái trường và đàn trò nhỏ lên đường học thêm để lấy tiếp văn bằng thứ hai.

Ngày chia tay bao nhiêu bịn rịn. Cái đêm trước ngày tôi lên đường, học trò từng tốp đến nhà, từ ngoài ngõ, trong sân, trong nhà… chỗ nào cùng trò. Trăng mùa khô sáng trong vằng vặc, con đường đất đỏ trước nhà tôi sáng lên, dịu dàng và như rộng thêm ra. Cô trò tôi quây quần trong sân. Ánh trăng trong ngần trên những gương mặt, đôi mắt đứa trò nào cũng rời rợi ánh trăng. Dù đã bao năm qua, tôi vẫn nhớ như in đêm trăng ấy.

Sáng hôm sau, tôi lên trường, học trò theo tiễn rất đông. Những đứa có xe đạp thì chở cho tôi tư trang, giỏ xách, còn tất cả cô trò cùng đi bộ gần 3 km, vượt qua con dốc dài cao đường đất đỏ. Khi chiếc xe đò Phước Long – Bến xe miền Đông tới, tôi lên xe, học trò cứ đứng bên đường vẫy mãi, xe chạy một đoạn xa rồi, trong mịt mù bụi đỏ tôi vẫn thấy những bàn tay vẫy vẫy. Nước mắt tôi rưng rưng. Bao nhiêu yêu thương, nhớ nhung, nuối tiếc và cả niềm hạnh phúc làm lòng tôi nghẹn lại. Tôi đã giữ đúng lời hứa ngày ra đi rằng: “Cô sẽ trở về”. Dù ngày về, lứa học trò ấy đã ra trường nhưng nhiều em thỉnh thoảng vẫn đến thăm cô.

Gần 30 năm đã qua, lứa học trò ngày ấy bây giờ đứa đã thành bố vợ, mẹ chồng, nhiều đứa tóc đã nhiều sợi bạc. Mấy cô gái, có đứa nhìn còn già hơn “cả thầy” vì phải chịu nhiều vất vả. Tôi nhớ, năm 2012 bố tôi mất, lớp chủ nhiệm của tôi năm nào các em từ nhiều nơi xa đã tìm về không thiếu một ai. Vòng hoa viếng, có dòng chữ “Học trò đầu tay của cô Biên Linh kính viếng”. Gia đình tôi là đại gia đình nhà giáo nên đồng nghiệp và học trò khắp nơi đến dự đám tang, nhiều người tò mò, thán phục.

Ân tình các em dành cho tôi ngọt lành và ấm áp biết bao! Cái lứa học trò đầu tay ấy!

BIÊN LINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *