Lê Lợi mài gươm – Trường ca của Nguyễn Minh Khiêm – Kỳ 3

Vanvn- Tháng Giêng, năm Bính Thân 1416/ Trong thung nhỏ Lũng Nhai/ Trời trong xanh/ Ngào ngạt hoa rừng/ Nước sông Lương trong vắt/ Mười tám người tâm phúc về đây/ Đặt bàn dâng cỗ/ Thắp hương khấn thần linh trời đất/ Thề diệt giặc Ngô/ Mười tám người / Mười tám ngọn lửa/ Mười tám ngôi sao/ Mười tám cánh buồm/ Không cùng họ cùng tên/ Không cùng năm sinh tháng đẻ/ Không cùng cha mẹ/ Nhưng cùng chí hướng…

Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm

>> Lê Lợi mài gươm – Kỳ 1

>> Lê Lợi mài gươm – Kỳ 2

 

Chương 4: Bàn thề Lũng Nhai

 

Làng Như Áng

Xanh biếc thung My

Bốn bề rừng Lam bọc

Sông Lường soi gương sáng

Trùng điệp núi dựng gươm

Dưới nắng vàng như một đoá hoa sen

Lộng lẫy bày công múa

Dập dìu trĩ kết đôi

Hoẵng tác gọi bạn đời

Nai tìm cây đập gạc

Vượn hót chim ca

Vang làng Cham, làng Chủa

Trăn phơi mình tắm nắng

Hổ trắng bước oai linh

 

Hổ trắng như thần rừng

Ngài không bắt người ăn thịt

Bước chân ngài rất êm

Gầm lên khi làng mở hội

Bốn mùa ngợp màu hoa

Bốn mùa hương thơm ngát

Hương thơm mắt con trai

Hoa đẹp lời con gái

Mật ong đầy ống giang ống nứa

Vít nắp dựng quanh nhà

Lúa trĩu nương trĩu rẫy

Cá bơi đặc suối khe

Không kể hết cây lim cây lát

Cây dâu da, cây trám cây bùi

Trò chỉ vàng tâm chót vót chọc trời

Cây ngát cây ngơn mấy người ôm không xuể

Cây lớn dựng nhà sàn

Cầu thang lên chín bậc

Cây đục làm máng to

Tưng bừng đêm khua luống

Quả chín nhiều chim thú ăn không hết

Cỏ non mượt lòng thung

Mùa xuân hát sắc bùa

Đêm xường vang tình ca trai gái

Cồng chiêng rộn Mường Trời

Hội cù rung Mường Đất

Con cháu bà Dạ Dần

Thi nhau làm bánh ngọt

Thi nhau ủ rượu ngon

Con cháu Lang Cun Khương, Lang cun Cần

Thi làm nỏ tốt

 

Đang say tiếng hát tưng bừng

Bỗng mây đen đến bặt ngừng tiếng reo

Giặc thù ác quá hùm beo

Gươm đâm trăm ngõ, lửa thiêu trăm nhà

Máu xương chồng chất gần xa

Chỉ còn nước mắt chảy nhòa thung Lam

Núi đồi sôi sục hờn căm

Suối khe rên xiết thác gầm đau thương

Đầu rơi máu đỏ sông Lường

Chúng đem cái chết trăm đường bủa vây

Lửa than đổ xuống đất này

Muối xót vào ruột, ớt cay vào lòng

Giặc Minh bắt bớ, sục lùng

Cháu con ly tán, vợ chồng lìa xa

Chỉ còn có tiếng rên la

Chỉ còn nước mắt chảy nhoà nơi nơi

Lê Lợi hành đạo thay trời

Anh hùng tụ nghĩa, mười tám người về đây

Bàn thề đặt giữa thung mây

Cùng nhau cắt máu ngón tay ăn thề

Giờ thành tên ruộng Bàn Thề

Cháu con lần dấu tìm về Tổ Tiên

Nghe năm nghe tháng vọng lên

Từng lời xưa hiện tuổi tên anh hùng

*

Tháng Giêng, năm Bính Thân 1416

Trong thung nhỏ Lũng Nhai

Trời trong xanh

Ngào ngạt hoa rừng

Nước sông Lương trong vắt

Mười tám người tâm phúc về đây

Đặt bàn dâng cỗ

Thắp hương khấn thần linh trời đất

Thề diệt giặc Ngô

Mười tám người

Mười tám ngọn lửa

Mười tám ngôi sao

Mười tám cánh buồm

Không cùng họ cùng tên

Không cùng năm sinh tháng đẻ

Không cùng cha mẹ

Nhưng cùng chí hướng

Cùng nỗi căm hờn

Cùng một niềm tin

Nhập vào nhau làm một

Như mười tám con khe đổ về một suối

Mười tám con suối đổ về một sông

Mười tám dòng sông đổ về một biển

Thề cùng nhau làm nên biển lớn

Thề cùng nhau làm nên núi cao

Lời thề rằng:

“ Nam quốc Thanh Hoá Phủ, Khả Lam Lộ,

Phụ đạo Lê Lợi cùng Lê Lai, Đinh Liệt, Nguyễn Thận,

Lê Ngân, Lê Liễu, Trịnh Khả, Lê Sát, Đinh Lễ,

Lê Văn An, Nguyễn Lý, Trương Lôi, Lê Văn Linh,

Vũ Uy, Lê Hiểm, Trần Lựu, Lê Bồi, Trương Chiến

hiện diện mười tám người, Đinh Bồ, Lưu Nhân Chú,

Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Như Lãm đi côn vụ

chưa kịp về, tổng cộng 22 người kính dâng trầu, rượu,

hương đăng, sinh huyết và  22 trái tim thành kính tâu với :

“Hiệu thiên kim khuyết chí tôn Ngọc Hoàng bệ hạ!

Thừa thiên hiệu phán, hậu thổ hoàng kỳ Ngọc bệ hạ!

Sơn hà xã tắc thượng trung hạ đẳng chư vị tối linh Tôn thần!

Chúng tôi từ Lê Lợi, Lê Lai Đinh Liệt, Nguyễn Thận

đến Trương Chiến tuy không cùng họ tên quê quán, bốn

phương hội nghĩa, nguyện suốt đời kết thành nghĩa hữu,

kiên trung như chim liền cánh, như cây liền cành, đồng cam

cộng khổ vì sự nghiệp bình Ngô, không đội trời chung với

kẻ thù, quyết đưa sự nghiệp đến thắng lợi!

Cúi mong Trời- Đất- Thần linh chứng giám, phù hộ bản thân,

con cháu gia quyến được khoẻ mạnh, cùng hưởng lộc trời,

phúc đất. Kẻ nào dám cầu ơn hiện tại, núp bóng kẻ thù,

không đồng tâm hiệp lực, quên bỏ lời thề, nhụt chí phản trắc,

thì bị trời chu đất diệt, di hoạ lại cho cháu con ngàn năm

muôn thuở, theo luật thiên hình.

Chúng tôi tuyên thệ!

Cẩn cáo”.

Mười tám thanh gươm chĩa thẳng lên trời

Nhất loạt hô thề cùng kề vai sát cánh

Rừng âm vang chuyển rền sấm mạnh

Đất âm vang chớp giật lũ gầm

Rượu huyết nâng ly mười tám tay cầm

Cùng nâng lên ngang mày, cùng cạn

 

Rồi Lê Lợi bước lên

Thưa các chư huynh!

Từ trước đến nay chúng ta là bầu bạn

Trong đời thường chúng ta gọi anh em

Trong trang ấp chúng ta là chủ tớ

Trong gia tộc chúng ta là chi tôn thúc bá

Có chén rượu ngon chúng ta gọi mời nhau

Có việc mời nhau điếu thuốc, miếng trầu

Có nắm xôi chúng ta cùng chia sẻ

Có thể dưới trên không phân thứ bậc

Như cha con, như huynh đệ một nhà

Người dưới dạ người trên, người trẻ dạ người già

Nhưng đã thề làm đại sự quốc gia

Không tránh khỏi phải phân chia ngôi thứ

Không phải chỉ mười tám người hôm nay uống máu

Rồi sẽ có thêm lớp lớp tầng tầng

Từ cách xưng hô đến thưởng phạt trong quân

Lê Lợi sợ rằng giọt máu tổn thương

Tình huynh đệ sẽ vô vàn tội lỗi »…

 

 

 

Trương Chiến thưa:

« Điều đó không tránh khỏi

Nhưng nay đà phân biệt tính danh

Những ngày thường tình chư đệ chư huynh

Nay trước Bàn thề Người đã thành Chủ soái

Việc nhỏ việc to mỗi lời Người nói

Đã là lời của bậc tối cao

Dù tình cha con bè bạn thâm giao

Tất cả bề tôi phải đều tuân lệnh ».

 

Lê Văn Linh thưa : « Mọi điều phải tính

Vua có việc vua, quân có việc quân

Từ quan đến dân mỗi người một bậc

Đâu phải chỉ những ngày đánh giặc

Mà cả khi đất nước thanh bình

Dẫu là vua cũng có gia đình

Dẫu là dân cũng có bang giao muôn mối

Muốn trách phạt phải biết lầm biết lỗi

Muốn phong quan phải biết có công

 

Căn cứ vào đâu để phân biệt đục trong

Căn cứ vào đâu để tìm ra phải trái

Không phải tức giận thì hoá thành trọng tội

Không phải yêu thì công trạng lớn lên

Người lắm mưu mô thì được tuổi được tên

Người thật thà thì không được tấn phong cất nhấc

Tất cả mọi người cùng phải làm theo phép tắc

Ta phải định ra trên giấy trắng mực đen

Không phân sang hèn huynh đệ thân quen

Dõi vào đấy mà điều hành đất nước

Có như thế mới vẹn toàn sau trước

Mới vững lòng tin bình đẳng muôn dân

Luật lệ là công lý cán cân

Không ai sợ cửa quyền, thiên vị »

Đinh Liệt, Lê Lai, Đinh Lễ, Lên Văn An,

Trương Lôi, Nguyễn Lý

Mỗi người một câu đóng góp lời bàn

Khởi nghĩa nổ ra có trăm vạn việc cần

Bao nhiêu luật lệ chúng ta phải định

Luật giữ kỷ cương, luật phong tướng lĩnh

Luật quân lương, luật thưởng đất đai

Luật của hôm nay, luật của ngày mai

Một mình Chúa Công không nghĩ tròn vẹn được

Đây là buổi sơ khai lo bàn cứu nước

Người phải lập ra một Bộ cơ mưu

Phải chọn cho mình được những quân sư

Như Chu Du giúp Tôn Quyền, Khổng Minh phò Lưu Bị

Người nào giỏi tinh thông đường thuỷ

 

 

Thì giao cho thống lĩnh thuỷ quân

Người nào tinh thông đồng bằng địa hình địa vật núi non

Thì giao cho thống lĩnh nghĩa quân trên bộ

Người nào giỏi tinh thông voi ngựa

Thì giao cho thống lĩnh kỵ binh

Trên bộ dưới thuyền cung kiếm phải tinh

Có như thế mới mưu thành nghiệp lớn! »

 

Lê Lợi mừng như lòng mình toả nắng

Hình dung ra tướng mạnh binh hùng

Ánh mắt tường đáy bể lạch sông

Chưa dựng cờ mà lòng bay phấp phới.

 

Chim phượng, chim công lượn về rợp suối

Từng đôi say sưa nhảy múa dưới rừng cây

Chồn sóc quây quần cùng vượn khỉ hươu nai

Chim hót chim ca tưng bừng náo nhiệt

Hổ trắng đến quỳ trước anh hùng hào kiệt

Rồi gầm lên vang động cả rừng cây

Máu thiêng cùng uống Lũng Nhai

Đất trời chứng giám không sai Bàn Thề

 

 

Chương 5 :  Cờ nghĩa

 

Ngày Canh Thân, tháng Giêng, năm Mậu Tuất

(Tức là ngày mùng 2, tháng Giêng năm 1418)

Trong cánh rừng Khả Lam cờ nghĩa đã dựng lên

Lá cờ nghĩa mang tên Bình Định Vương Lê Lợi

Rực rỡ tung bay trước nắng xuân vời vợi

Ngào ngạt thơm trăm thứ hoa rừng

Rừng hiên ngang tấm ngực lớn của mình

Lồng lộng tung bay lá cờ ngũ sắc

Sau bao nhiêu năm dân mình tối tăm ngột ngạt

Như con lươn con chạch trong tro

Như con cá trong bùn

Nay tìm về lá cờ để thở

Tìm về lá cờ để được ngẩng cao đầu

Lá cờ là khoảng trời tự do độc lập đầu tiên

 

Vui như tìm thấy ruộng nương

Vui như tìm thấy gia đình đoàn tụ

Lòng reo ca hạnh phúc

Trăm họ tung hô Bình Định Vương vạn tuế

Tướng sĩ tung hô Bình Định Vương vạn tuế

Lá cờ như đỉnh Pù Dinh hút gió

Như Lường Giang, Lỗi Giang hút nước

Hảo hán muôn nơi ngưỡng mộ tìm về

Người trượng nghĩa muôn phương hướng tới

Người có ngựa tặng ngựa

Người có trâu tặng trâu

Người có lợn tặng lợn

Người có gà tặng gà

Người có gạo tặng gạo

Người có vải tặng vải

Người có sắt góp sắt

Người có thép góp thép

Người góp vàng góp vàng

Người có bạc góp bạc

Người có nỏ góp nỏ

Người có tên góp tên

Người góp rìu góp rựa

Lũ lượt

Lũ lượt

Làng thấp

Mường cao

Luồn rừng tới

Băng đèo tới

 

Vượt sông tới

Xuyên vòng vây tới

Người nói tiếng Kinh

Người nói tiếng Mường tiếng Mán

Người nói tiếng Tày tiếng Thổ

Người nói tiếng Thái tiếng Dao

Người nói tiếng Mèo, tiếng Rợ

Âm vang giọng nói của trăm miền

Đất thiêng đón được người hiền

Vòng tay muôn nẻo nối liền vòng tay

Chim hồng thêm mạnh cánh bay

Rồng thêm móng vuốt xuyên mây xé mù

Gió thêm sức gió phất cờ

Lửa mơ góp lửa, dầu mơ góp dầu

Rừng thành chiến luỹ chiến hào

Đường xuôi đường ngược đường vào đường ra

Rừng thành địa võng thiên la

Chỗ là cửa tử chỗ là cửa sinh

Rừng thành bốt gác chòi canh

Cỏ cây hoa lá biến thành cung tên

Rừng thành xưởng đúc xưởng rèn

Tiếng đe tiếng búa vang rền núi non

Thành nơi luyện tướng luyện quân

Rừng Lam mở hội vào xuân tưng bừng

Lắng trong giọt nắng giọt sương

Có hồn sông núi muôn phương nhập về

Lá cờ cháy bỏng lời thề

Đứng lên phá ách tái tê bao ngày

 

Rợp trời cờ xí tung bay

Muôn phương nhập một rừng cây điệp trùng

Ngực quân ngực núi kiên trung

Đầu tên mũi giáo vẫn không chuyển rời

Lòng như lộc biếc đâm chồi

Đất dôi sức đất, rừng dôi sức rừng

Giờ lạt bện chắc thêm thừng

Giờ muối thêm mặn, giờ gừng thêm cay

Muôn số phận dưới cờ này

Chung khi giông tố, chung ngày bão tan

Còn một chiếc lá rừng Lam

Còn lá cờ nghĩa thì còn mai sau

Trăm lời đọng lại một câu

Đánh tan lũ giặc, sáng bầu trời xanh

Muôn dân được sống thái bình

Muôn nơi trái ngọt quả lành đơm hương

Nhiễu điều mãi phủ giá gương

Bí bầu mãi nặng tình thương một giàn

Biển đem tình vỗ lên ngàn

Núi rừng trao biển muôn vàn sắc hoa

Nước non Đại Việt mở ra

Một trang sử mới bao la chân trời

Dưới cờ là sức vạn người

Bình Định Vương hóa mặt trời ban mai

*

 

Một ngày mới sang trang

Mạch đất rung nghìn vạn tiếng hô vang

Chiến thắng! Chiến thắng!

Quân Lam sơn chiến thắng!

Quân Lam sơn chiến thắng!

Trên mình voi Lê Lợi phất cờ

Tả hữu giáo gươm hô thề dậy đất

Lê Khang, Lê Nanh, Lê Luân, Lê Lễ, Lê Sao

Lê Nhữ Trì, Lê Cố, Lê Hiên, Lê Xá Lôi, Lê Lộng,

Trịnh Lỗi, Trịnh Hối, Lê Thỏ, Lê Bồi

Lê Lãng, Lê Khắc Phục, Lê Vấn, Lê Lan, Lê Định

Lê Cuống, Lê Trình, Lê Khiêm, Lê Đàm, Lê Lâm, Lê Nghiệm

Lê Văn Giao,Trần Vận, Lê Cảnh Thọ, Trần Xương

Phạm Quỳ, Trương Lôi, Lê Sát, Trịnh Khả, Phạm Lung

Lê Khả Lãng, Lê Liễu, Lê Nhữ Lẫm, Bùi Quốc Hưng, Lê Nỗ

Trần Hốt, Vũ Oai, Trịnh Vò, Lưu Hoạn, Nguyễn Thận,

Lê Văn An, Đỗ Bí, Lê Văn Linh…

Năm mươi tướng võ

Năm mươi tướng văn tề chỉnh oai nghiêm

Phía trước bộ binh

Phía sau kỵ mã

Các thiết đội uy nghi

San sát bên nhau cờ xí rợp trời

Cồng chiêng chuyển rền sông núi

Ngày xuân mới thiêng liêng

Mở sử thơm muôn thuở

Những choé rượu cần làng Cham, làng Chủa

Những choé rượu cần làng Như Áng, Thụ Mệnh,

Hướng Dương, Dao Xá, Đức Trai

Cùng những choé rượu cần Bỉ Ngũ, Nguyễn Xá,

Dựng Tú, Sơn Lạc, Mật Việt, Lũng Nhai

Thơm trong tiếng tù và vang dội

Rừng lồng lộng bóng Bình định Vương Lê Lợi

Giọng Người như sấm rền:

Hỡi tướng sĩ ba quân

Cờ nghĩa đã phất lên

Lá cờ này không bao giờ hạ xuống

Chỉ có một con đường chiến thắng

Chỉ có một con đường phía trước tiến công

Giết sạch giặc Minh giải phóng non sông

Dù có phải hy sinh tất cả máu xương

Chúng ta thề cùng nhau xốc tới!

Lá cờ đã tung bay từ bao đêm mất ngủ

Bao nhiêu mái đầu đã chụm vào nhau

Cắt máu ăn thề bí mật ở thung sâu

Vạt áo nhỏ giấu từng ánh lửa

E ấp sợ bọn diều hâu cú vọ

Sợ những cơn gió độc thổi vào

Chí lớn vừa nhen trong máu nóng cồn cào

Giấu những ngọn núi đang mọc trong lồng ngực

Giấu trái tim đang đập những con sóng lớn

Giấu những mái đầu góp nhiều câu hỏi

Lá cờ bay lên từ giây phút sợ bầy dơi ăn đêm

Sợ một người lạ mặt

Nhận ra ta đem những ngọn lửa trong lòng

Đi gặp những ngọn lửa để thành biển lửa!

Nhận ra ta mang những con thác

Đi gặp những con thác để thành muôn ngọn thác

Quét sạch kẻ thù khỏi giang sơn Đại Vịêt

Vùi chúng xuống bùn đen

Thịt da chúng tan rữa cùng sự ngông cuồng ác độc

*

 

Bên kia bờ Lỗi Giang

Thành Tây Đô mấy vạn quân Phương Chính

Luôn ném cái nhìn chết chóc về phía chúng ta

Luôn nghe bằng những cái tai đấy chết chóc về phía chúng ta

Phân tích màu nước sông Lỗi Giang, Lường Giang

từng ngày từ thượng lưu chảy xuống

Nhận ra rừng đang đổi thay qua màu nước bất thường

Rừng đang đổi thay qua dòng nước trôi về có nhiều vật lạ

Chúng lắng nghe từng tiếng lá rừng rơi

Chúng nghi ngờ từng người mò tôm đãi hến

Con đò nào mới đi

Con đò nào mới đến

Khách sang sông là trẻ hay già

Chúng xét từng ngón chân ngón tay xem có phải

canh mục ngư tiều

Hay đấy là anh hùng, kẻ sĩ

Chúng đã cảm nhận một cơn bão lớn

Đang ập xuống đầu

Từ những tiếng ve kêu cháy bỏng mùa hè

Từ những chiéc rễ si bật trắng

Từ những đàn kiến tha trứng ngược lên cao

Từ những đàn ong tìm bụi cây um tùm làm tổ

Lòng hờn căm đang âm thầm cuộn chảy

Đang âm thầm hợp lưu

Thành trùng trùng sóng dựng

Thành đại thuỷ đại phong

Sự ác độc từ tim óc chúng chảy ra

Đã thấm vào bao nhiêu mạch đất

Nên chúng không nghe được tiếng gọi trả thù

Từ phía nào quê hương ta bật dậy

Lá cờ này là tiếng thét đứng lên của một miền đất ấy

Miền đất bao năm trong miệng ngậm bồ hòn

Ngực nén những cơn đau

Không vỡ được biến thành vực thẳm

Không vỡ được biến thành đá nhọn

Không vỡ được biến thành gươm giáo

Vai kề vai sát cánh tiến lên

Quyết giành lại giang sơn Đại Việt

 

Sự ác độc của chúng làm sao hiểu được

Cỏ cây vẫn đọc hịch những nỗi niềm khuya khoắt

Hịch đã vang trong chiếc dây thừng chúng bắt phu phen

Hịch đã vang trên những nét chữ bị thích vào mặt tội đồ nô lệ

Quy tụ về đây thành lá cờ này

Với dòng chữ Bình Định Vương Lê Lợi

Đọc cho lũ giặc Minh nghe tên tuổi của mình

Đọc cho lũ giặc Minh nghe gia phả của mình

Đọc cho lũ giặc Minh nghe niềm kiêu hãnh của đất nước này

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ”!

*

 

Cờ nghĩa này ta phất cao lên

Để nối chí Bà Trưng, Bà triệu

Không phải chỉ để giết một tên Thái thú

Mà quyết tâm nhổ sạch giặc Ngô

Cờ nghĩa này ta phất cao lên

Để sống dậy tinh thần Lý Bí

Tự lực, tự cường quét sạch quân Nam Hán

Ngẩng cao đầu dựng nước Vạn Xuân

Cờ nghĩa này là ý chí của nghĩa quân

Là khát vọng độc lập tự do của nhân dân trăm họ

Hãy nhân lên mỗi cành cây ngọn cỏ

Mỗi cánh rừng, con suối con khe

Mỗi bản làng, mỗi cây nứa cây tre

Đều rực rỡ cờ xí bay phấp phới

Từ Lũng Nhai này tỏa đi trăm lối

Tiếng voi gầm rung núi

Tiếng ngựa hý vang thung

Tiếng quân đi như sóng trập trùng

Cờ rợp trời đại quân hùng mạnh

Ta sẽ giải phóng Mường Ca Da, Mường Bi, Mường Ảng,

Mường Sì Dồ, Mường Vó, Mường Vang

Giải phóng châu Hoan, châu Diễn, châu Trường

châu Lục, châu Giao, châu Ái

Tiến vào phía nam giải phóng miền kỳ Lân, Thuận Hóa

Đại quân ta sẽ tiến lên phía Bắc giả phóng

châu Lạng, châu Giang

Sẽ giải phóng Cao Bằng, Điện Biên, Sơn La, châu Mộc

Đánh đuổi kẻ thù ra khỏi Lâm Tây, Quan Hóa, An Nam

Phải lấy lại tên nước ta: Đại Việt!

 

Dưới cờ Đại nghĩa

Ai cũng là anh hùng, hào kiệt

Hãy xin thề tận hiến, tận trung

Với hồn thiêng sông núi tổ tông

Nghĩa quân Lam Sơn viết Bình Ngô đại cáo.

 

NGUYỄN MINH KHIÊM

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *