Lê Hải Kỳ – Trăng hạ huyền đã cháy

Vanvn- Trăng hạ huyền đã cháy là tập thơ đầu tay của Lê Hải Kỳ dù còn ít nhiều hoa mĩ, làm duyên, đôi chỗ lắm lời, nông thô… Nhưng đã cho chúng ta thấy một miền trăng, và điều quan trọng là: miền trăng ấy đã cháy!

Hạ huyền vừa cháy một miền trăng”

Bìa tập thơ “Trăng hạ huyền đã cháy” của Lê Hải Kỳ

Lê Hải Kỳ đến với thơ khi vừa đủ độ say, anh ta say cái nồng nàn của đất, của trăng và hoa. Ở tuổi “tam thập nhi lập”, dù chưa sống lâu nhưng khi đọc thơ anh, tôi biết, anh sống nhiều. Điều này được minh chứng bởi những vần thơ rất đầy cảm xúc. Trong thơ, Lê Hải Kỳ sống riết róng và yêu hết mình như anh từng thổ lộ: phải chăng mỗi người đàn bà đều là quán rượu (Miền mĩ tửu)

Nên:

những nụ hôn đốt màn đêm rực lửa:

tôi – em.

(Nhớ vùi nhớ)

Tập thơ Trăng hạ huyền đã cháy đã đưa tôi trôi từ đồng bằng sông nước đến cao nguyên đá núi, nơi đâu cũng đậm nét; nét của thơ Lê Hải Kỳ là nét chắt từ cái bụng thẳng ngay (Những bức thư viết tay), mặc dù anh có rón rén, có suy tư… Và cũng vồ vập, rên siết: phố núi đi lên còn tôi đi xuống// quanh co xẻ thành hai nửa (Phố núi), núi và rất nhiều ngọn núi mọc hoang trong thơ và trong lòng anh. Những ngọn núi ám tượng, chập chờn, đôi lúc thảng thốt đi, thảng thốt về… nên khi đọc thơ anh những bài về núi, dù có đoạn vui: thương thương người ngủ muộn/ cho nương dứa chín vàng/ nhánh lan rừng em trồng đã bắt đầu nẩy nụ/ bên ổ rơm, gà cục tác trứng tròn (Thương người ngủ muộn), nhưng đâu đó vẫn phảng phất buồn, cái buồn của núi trầm tư ngàn năm trơ trọi:

buổi chiều đông neo mình bên vách đá

con sói lạc bầy đứng nhìn bóng mình chảy dài xuống vực thẳm

những tiếng hú vọng về miền hoang dại. 

(Chênh vênh)

Và đồng bằng với anh cũng không ngoại lệ buồn. Cái dư ba của đầu bãi cuối ghềnh tự bao đời nay chưa lúc nào mất đi, nó chỉ ẩn hiện đâu đó quanh tâm hồn thi sĩ, để rồi vỡ òa nhạt nhòa châu thổ bằng màu tím biếc lung lay ru lòng ta bảng lảng khói sương, khi cần… những câu kinh không biết bơi/ con thuyền thủng dìm đắm cảm xúc trong mùa nước cạn/ chẳng có ai gian dối nhặt nước mắt về gói ghém niềm riêng (Lời thương còn bỏ ngỏ).

Tôi biết cái anh khao khát là: Sự tận cùng. Như bao thi nhân khác, luôn mong đi đến tận cùng dù là khổ đau hay hạnh phúc. Với anh, không chấp nhận sự nửa vời:

cơn cớ gì,

con bói cá đâm vào vách đá

dập nát nghĩ suy. (Em trả lời tôi đi)

Và:

xin cho tôi được chết

chết, chết, chết… ngàn vạn lần cũng cam lòng

để khởi đầu ngày tháng lưu vong. 

(Miền mĩ tửu)

Cũng như bao con sông đều chảy ra biển cả theo quy luật, phận sông thì phải chảy, nhưng ra đến biển rồi sông sẽ đi đâu, về đâu… Và tất nhiên, có hay không tồn tại sự tận cùng? Những thắc mắc của anh cũng không ngoại lệ, khi ta đều hướng mắt về chân trời và thở trong sự nuối tiếc của lòng mình, của thơ. Nên đôi khi, tôi thấy thơ anh bất lực với chính mình, vì ngôn ngữ này không tận cùng để khao khát của anh còn khắc khoải như nhành hoa trắng ám ảnh phía trăng trôi:

đêm qua

có kẻ lang thang tìm nhặt những làn hương ảo vọng

hoa trắng tàn úa mất rồi. 

(Hương)

Sự trầm tư của anh về nỗi nhân sinh, về sự sống, cái chết, sự khởi đầu và kết thúc. Chân ta đặt trên đá núi này, tay ta khỏa nước mặt sông này và thứ gì đó mường tượng trôi chảy vào ta. Đó là mạch nguồn không khơi tạo, không đoán định: Mạch nguồn tổ tiên. Áng mây chìm nổi này, hơi thở này được bắt nguồn từ ông cha khi vết trần truồng hằn vào hiện sinh// ta và em/ và triệu triệu người trên trái đất/ tồn tại là có thật (Phiến thời gian). Tôi biết Lê Hải Kỳ đã chiêm nghiệm và tự vấn lòng mình về những điều như thế. Những cảm xúc không thể ước chừng hay phân định rạch ròi nhưng nó cứ thế mà xanh, cứ thế mà lớn lên trong thơ anh từng ngày. Nên trong Trăng hạ huyền đã cháy, ngoài nỗi buồn, còn có sự hồn nhiên tươi như cây cỏ: em là hoa thiên sứ/ cứu rỗi hỗn mang theo một trật tự tinh khôi (Hoa thiên sứ).

Nhà thơ Lê Hải Kỳ ở Đà Nẵng

Trăng hạ huyền đã cháy là một tập thơ tự do theo luật thơ. Hải Kỳ không chuộng vần điệu, những câu dài ngắn đan xen (câu dài nhất 31 chữ và ngắn nhất 01 chữ), cắt xuống đột ngột và cả những dấu câu, những dấu câu cũng bất quy tắc. Cũng phải, vì lòng anh đã âm ỉ một miền trăng như thế thì thể thơ vần điệu sao thỏa được lòng anh. Anh phải tung tẩy, phải bày miền trăng ấy ra đến một biên độ nào đó. Tuy nhiên, theo luật lòng của tác giả thì chưa hẳn là tự do. Như trên, chúng ta vẫn đang trên hành trình đi đến sự tận cùng. Nhưng nơi tận cùng ấy có hay không, nó ra sao, đẹp hoặc buồn như thế nào, là tiên cảnh hoặc khổ đau, có thể… chẳng ai biết, và thời gian đang trôi chảy… nhưng miền thơ chúng ta đang bước, luôn tâm niệm trong mỗi bước chân hành hương rằng: Cứ đi, sẽ đến! – và Lê Hải Kỳ đang như thế: tôi nguyện yêu thơ đến khi nào trời thôi thiên thanh, hải lưu thôi nóng lạnh (Cầu hôn thơ).

Trăng hạ huyền đã cháy là tập thơ đầu tay của Lê Hải Kỳ dù còn ít nhiều hoa mĩ, làm duyên, đôi chỗ lắm lời, nông thô… Nhưng đã cho chúng ta thấy một miền trăng, và điều quan trọng là: miền trăng ấy đã cháy! – Đây là một khởi đầu đáng mừng của anh, của chúng ta. Còn cháy ra sao, đến độ nào còn phải tùy vào thời gian và bước chân của tác giả dấn thân ra sao với thơ, để những vần thơ được ở lại trong lòng chúng ta, về sau.

Trên con đường độc đạo này, điều cốt lõi, người viết phải biết tự làm mới mình, với sự nhiệt thành trong thơ mà Hải Kỳ đang mang, tôi nghĩ anh ta sẽ làm tốt điều đó, như anh từng nhủ:

Sau mỗi vụ mùa, đời lúa tái sinh…

(Lúa bấc)

TRẦN ĐỨC TÍN 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.