Lão Bõm – Tiểu thuyết của Trần Quốc Tiến – Kỳ 3

Vanvn- Cũng vào thời điểm mà Binh đang định dùng quả đấm để giải quyết những vướng mắc trong tình yêu thì Nho ngồi một mình suy ngẫm. Cái đêm ở gốc đa đầu làng hôm ấy, chỉ chậm độ một phút, có lẽ cả ba thằng đều đi teo. Vào giấy phút quyết định không biết có thánh thần nào xúi bẩy mà Nho bỗng tỉnh ngộ. Làm thế nào để chặn cả ba con hổ định xông vào hạ nhau trong nháy mắt? Phải chết lúc này thì uổng quá!

Nhà văn Trần Quốc Tiến

CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC NAM ĐỊNH:

>> Bà chúa Cột Cờ – Truyện ký của Phạm Trọng Thanh

>> Nguyễn Bính – lạc chốn thị thành

>> Thơ Phạm Trường Thi: Làm vua chết chẳng được chôn đúng mồ…

>> Lão Bõm – Tiểu thuyết của Trần Quốc Tiến – Kỳ 2

>> Lão Bõm – Tiểu thuyết của Trần Quốc Tiến – Kỳ 1

>> Văn hiến đất Sơn Nam – hào sảng nhà văn Nam Định – Kỳ 3

>> Văn hiến đất Sơn Nam – hào sảng nhà văn Nam Định – Kỳ 2

>> Văn hiến đất Sơn Nam – hào sảng nhà văn Nam Định – Kỳ 1

 

Chương ba

 

Binh đạp vội xe về nhà thì cũng là lúc trời đã sáng hẳn, mặt trời đã nhô lên đỏ lòm lòm ở phía đông. Ông bố cũng đã dậy, sau khi điểm tâm bằng hai điếu thuốc lào, ông xách cái túi nhựa mầu nâu trong đó có đựng vô vàn công văn giấy tờ và mấy bản báo cáo thành tích dày cộp toàn những đại thắng, nhảy lên chiếc xe phượng hoàng đã trốc sơn đạp đi. Ra tới ngõ ông còn quay lại dặn Binh:

– Bảo mẹ mày trưa nay đừng thổi cơm tao nhé…

Binh mỉm cười hỏi lại:

– Lại liên hoan ban quản trị hả bố? Một tháng các bố liên hoan đủ ba mươi ngày à?

Ông bố giải thích:

– Chúng tao họp bàn về đại thắng, mày hiểu chứ?

Gã con trại mỉm cười:

– Ngày nào cũng đại thắng hả bố?

Ông bố không trả lời nữa, đạp xe vút ra lối ngõ. Gã con nhìn theo có vẻ ngán ngẩm. Mười năm trước, lúc gã còn ở nhà, bố gã đã là chủ nhiệm, sau mười năm trở về, vẫn thấy bố làm chủ nhiệm, chẳng có gì mới, người thì mỗi ngày một cũ như cái xe đã tróc sơn gần hết, vậy mà ngày nào cũng liên hoan ăn mừng đại thắng thì không biết đại thắng cái gì? Gã ngán ngẩm quay xuống nhà dưới lôi nồi cơm nguội và nồi thịt rang ra ăn liền một lúc ba bát rồi phóng xe đến nhà người yêu. Chuyện tình của gã thế mà lắm rắc rối. Thoạt kỳ thuỷ gã yêu nàng Nõn, để giành người yêu, gã đã phục trên cây đa đầu làng rồi nện cho thằng Bõm một trận thừa chết thiếu sống, thế rồi dang dở vì phải lên đường ra trận, lúc trở về lại định choảng nhau, nhưng thằng Nho cám hấp giữa lúc gã đã nắm sẵn quả tống xông lên quật ngã tình địch để giành người yêu thì nó công bố một tin giật gân là nàng Nõn đã trao con cua của nàng cho thằng Bõm rồi! Thế là hết, chả lẽ lại choảng nhau để giành giật con cua không còn gạch? Từ gốc đa đầu làng về nhà gã vấp ổ gà ổ chó ở đường ngã dúi dụi đến mấy lần. Gã nằm sóng sượt trên giường đốt liền một lúc hết bao Trường Sơn, tu hết nửa lít rượu cuốc lủi. Gã thẫn thờ suốt mấy ngày. Thấy vậy, bố gã bảo:

– Mày bí chưa tìm được ai để hỏi làm vợ hử? Con bí thư xã, được không nào? Đến đi…

Gã ngẩng lên ngớ người nhìn bố. Bố gã giục tiếp:

– Đến ngay đi, được đấy! Hồi mày ở nhà nó còn nhỏ xíu, còn bây giờ, tao cam đoan là mày mê tít. Nhưng tao nói trước để mày liệu là nó đanh đá thuộc loại nhất xã .

Nghe thế gã cười khoái trí:

– Con đang thích một con vợ đanh đá đây, thế này thì nhất rồi! Con sẽ đến ngay lập tức.

Nói xong gã nhảy từ giường xuống đất. Gã rửa mặt đánh răng rồi vào cái gương treo đầu cột soi. Gã nhìn cái đầu trọc và bộ ria con kiến lún phún hai bên mép rất vừa ý. Gã không mặc quần chùng áo dài mà mặc cái quần soóc đen và cái áo mai ô ba lỗ cũng mầu đen, chân lại đi dày vải cao cổ rồi đạp cái xe trâu cao to kềnh càng vút qua ngõ. Nhà ông bí thư không ở thôn Nông Bần mà ở thôn Tranh Đấu cũng sát bên thôn Nông Bần. Vào thời điểm này (1976) cán bộ chưa ai giầu. Ông lên đựơc chức bí thư là nhờ thành phần cố nông, hồi cải cách ông là cốt cán chứ còn văn hoá người ta đồn rằng ông mới lớp hai bình dân học vụ. Ông hiền và có phần đần nữa, lại xấu trai, nhưng trời lại gán cho ông một bà vợ vừa đẹp vừa chua ngoa. Cũng chẳng hiểu vì sao người đẹp lại chọn gã răng vổ, mặt choắt tai dơi làm chồng. Cưới được có mấy tháng thì bà đẻ, mà trước đó tịnh qua ông chưa mó đến bà. Nhìn đứa con gái không giống mình ông định hạch bà thì bà đã lừ mắt: Mày mù chứ cả họ mày cũng mù à? Khôn ngoan thì đậy lắp chuồng hôi vào, đừng mở mồn ra nữa, thối hoắc! ông ngậm mồn từ đấy. Ông đặt tên cho đứa con gái đầu lòng ấy là Được, nghĩa là nhặt được, cá ao ai vào ao ta, ta bắt. Bà thêm vào chữ Hoa nữa là Hoa Được. Con bé Hoa Được tất nhiên là không có một nét nào giống cha, tất cả là giống mẹ và giống ai đó chỉ có trời mới biết. Hoa Được càng lớn càng xinh và tỏ ra bướng bỉnh. Nàng chúa ghét con trai nhút nhát, nhút nhát theo nàng là đồng nghĩa vói đần độn. Nàng xuất hiện ở đâu là có ngay  những cặp mắt nhìn theo, điều bực nhất với nàng là nhìn trộm. Cái mà nàng cần là nhìn thật, nhìn như xoáy vào nàng và nàng có nhìn lại thì đừng quay đi, cứ để bốn mắt nhìn nhau, nếu thích thì nó dịu dàng không thích thì nảy lửa, thế mới đáng mặt con trai. Thanh niên thôn Bần, thôn Tranh Đấu giờ đây toàn một lũ nhát như cáy, buồn thật!

Hôm nay bố đi họp, mẹ đi chợ, chỉ có mình Hoa Được ở nhà. Nàng đang ngồi chỗ cửa băm bèo cho lợn, chỉ mặc áo đông xuân trắng , quần phíp đen sắn cao, tóc cặp sau lưng. Bỗng có tiếng động ngoài ngõ, rồi một cái xe đạp to kềnh càng mà người ta gọi là xe trâu lao vút vào sân, chở theo một gã đầu trọc, ria con kiến lún phún đầy hai bên mép. Hoa Được liếc ra rồi lại cúi xuống băm bèo, coi như không có chuyên gì. Gã đầu trọc đựa xe vào chỗ gốc mít phía trái nhà, rồi đến đứng giữa sân phóng tầm mắt về phía cửa bếp, nhìn cô gái băm bèo. Cô ta vẫn tảng lờ, tiếp tục băm bèo. Chờ mãi không thấy cô gái quay ra, gã từ từ đi đến. Gã đã đứng sát sau lưng mà cô gái vẫn không ngửng lên. Gã đành chào trước:

– Chào em…

Lúc này nàng mới quay ra nhìn hờ hững rồi trả lời:

– Chào anh…

– Lẽ ra em phải chào anh trước chứ? Binh vặn.

– Vì lẽ gì mà em phải chào anh trước? Nàng vặn lại.

– Vì anh là khách em là chủ! – Binh trả lời .

– Thế thì khách khi đến nhà phải hỏi chủ nhà trước chứ? – Nàng trả lời và tay vẫn vơ bèo đặt lên thớt băm.

– Nhưng anh hơn tuổi em? – Binh vặn.

– Nhưng em chưa thấy anh dán lên trán số tuổi? – Nàng vặn lại và mỉm cười – anh không dán số tuổi lên trán thì em biết sao được anh hơn hay kém tuổi em?

– Vậy em bao nhiêu tuổi rồi?

Nàng mỉm cười trả lời:

– Bằng số tuổi của anh cộng thêm 5…

– Nghĩa là em dương 5 so với anh? Binh trố mắt hỏi lại.

Hoa Được gật đầu:

– Đúng vậy .

– Thế căn cứ vào đâu em bảo rằng anh kém em những 5 tuổi? Binh vặn.

– Căn cứ vào tóc! Hoa Được thản nhiên trả lời .

– Nghĩa là thế nào? Binh lại vặn .

– Nghĩa là tóc anh ngắn mà tóc em dài! Anh có công nhận là thời gian làm cho tóc dài thêm không?

– Có công nhận! – Binh gật đầu.

– Thế tóc anh dài hay tóc em dài khi mà anh thì đầu trọc em đã chấm lưng?

Binh im lặng. Con bé này thế mà gớm thật. Binh lảng chuyện:

– Thế tại sao khách đến nhà mà em không ngừng tay mời khách lên nhà pha trà rót nước, theo phép lịch sự?

Hoa Được vẫn tiếp tục băm bèo, thư thả trả lời:

– Nhưng anh là khách không mời mà đến, lợn nhà em thì đang réo trong chuồng…

Binh trừng mắt:

– Vậy là em coi lợn hơn anh?

Hoa Được cười:

– Anh muốn hơn lợn thì anh phải chinh phục được em…

Binh bóp trán suy ngẫm rồi hỏi:

– Thành tích mười năm cầm súng của anh chả lẽ không đủ để em nể trọng?

Hoa Được lắc đầu:

– Không! Đừng đưa con áo ộp ấy ra chinh phục em.

– Thế em thích cái gì ở đàn ông? – Binh hỏi lại.

– Hãy nhìn thẳng vào em, thích cái gì thì nhìn cái ấy, đừng có mắt la mày lém nhìn trộm rồi khi em quay lại thì lại giả vờ quay đi, hèn lắm. Và nếu sau này em làm vợ ai thì người đó không được nhìn trộm lúc em thay quần, không được sờ mó trộm lúc em đang ngủ, mọi cái phải đường hoàng là đấng nam nhi…

Binh lắng nghe và trố mắt kinh ngạc. Gã chưa bao giờ gặp một người con gái như thế này, thật là nằm mơ cũng không thấy. Gã lắc đầu:

– Nghe em nói khiếp quá.

Hoa Được lườm gã:

– Khiếp à? Mới có thế mà đã khiếp à? Thử nhìn lại mình xem có đáng khiếp hơn không? Đầu thì trọc lếu, hai mép lại lún phún râu, trẻ con trông thấy anh thì cứ gọi là chạy từ xa. Vì sao anh lại lập dị như vậy?

Binh nháy mắt cười:

– Lập dị như vậy may ra vớ được cô vợ chanh chua đanh đá. Đó là câu trả lời vì sao lập dị. Có còn hỏi nữa không?

– Thế nhỡ chanh chua đanh đá ghét lập dị thì sao? – Hoa Được hỏi vặn.

– Anh hi vọng rằng sẽ không như thế!- Binh trả lời .

– Anh sẽ thất vọng! – Hoa Được lại nói – Anh nên nhớ rằng chanh chua đanh đá không phải là lập dị, mà là vũ khí để quật nát lập dị cơ mà?

– Vậy là em sẽ quật nát anh? – Binh vặn hỏi .

– Thế sao anh bảo em là chanh chua đanh đá? – Hoa Được hỏi lại. Binh cười:

– Em mà không chanh chua đanh đá thì thế giới này không còn ai xứng đáng cái danh hiệu ấy. Nếu anh là chủ tịch nước thì anh sẽ phong em danh hiệu anh hùng, thưởng em vài ba cái huân chương về kỳ tích chanh chua đanh đá!

Hoa Được cười:

– Huân chương và danh hiệu anh hùng chỉ có ai lập dị mới thích, còn em thì đến lạy em, em cũng chả thèm! Anh nghe rõ lời em nói chưa?

Binh đứng im không biết nói gì. Gã đang bị dồn đến chân tường. Mục đích gã đến đây là để thăm dò, tán tỉnh cô con gái ông bí thư xã, chứ không phải để đấu lý, cãi vã, thế mà cô này đã dẫn dắt gã vào mê hồn trận, không biết đằng nào mà lần.

Rồi gã ra về tay trắng. Bố gã đón đầu ngõ hỏi:

– Thế nào? Mày tán được nó chứ?

Gã lắc đầu:

– Con bé ấy lọt giời rơi xuống đấy bố ạ.

– Thì ai bảo nó hiền. Nó đanh đá vậy nhưng lao động giỏi và sống thẳng thắn lăm. Nó lại là con bí thư xã, của quý đấy, mày không tán được nó thì hèn.

Gã thở dài. Gã vốn là thằng con trai ngổ ngáo, trước lúc đi bộ đội, gã nóng mắt lên là đấm, đấm văng mạng. Sau mười năm đấm đá đâm chém ở chiến trường quá nhiều, gã cũng thấy chờn tay. Với bọn con gái thì gã….. không thể lấy quả đấm để giải quyết vấn đề. Nhất là về phương diện tình yêu. Càng không thể lấy quả đấm để tỏ tình. Cái gay cho gã là ở chỗ ấy. Tuy vậy, ngày hôm sau gã lại đến. Cô Hoa Được lúc này đang xách bình ô doa tưới cho mấy luống cải sau nhà. Gã vẫn đầu trọc quần soóc đen, áo mai ô ba lỗ cũng mầu đen, lại đeo thêm cái kính đen nữa thành thử trông gã thật gớm giếc. Khi thấy gã xuất hiện, cô Hoa Được dừng tay tưới rau bảo gã:

– Hôm nay bố em ở nhà, anh vào đấy chơi nói chuyện với bố em. Qua câu chuyện với bố em, em vừa làm ngoài này vừa nghe, lúc xong….anh nhìn qua cửa sổ hễ thấy em……gật đầu, có nghĩa là anh ở lại em sẽ nói chuyện với anh, còn nếu không thì anh về nghỉ ngơi cho đỡ mệt.…

Gã hiểu rằng đó là điều kiện để gã có được quyền ở lại để gặp gỡ với cô gái này hay không? Tức là qua câu chuyện giữa bố cô ta và mình, cô ta sẽ biết được mình là người thế nào, đáng trọng thì cô ta tiếp, đáng khinh thì cô ta đuổi cút. Được, ta sẽ không là thằng hèn.

Ông bí thư đang ngồi hút thuốc lào bằng cái điếu cày ở trong nhà. Nhà ông cũng còn nghèo như mọi nhà khác, tường đất, mái rạ, giường dải quạt, ghế ba đai tuềnh toàng, hợp với con người ông quần gụ áo nâu, da đen sạm, răng bàn cuốc mầu nước cải mả. Binh mở mành bước qua bậc cửa vào nhà.

– Cháu chào bác!

Ông đang hút dở điếu thuốc lào. Ông rít tiếp một hơi cho thuốc cháy hết rồi ngẩng lên nhìn kẻ vừa mở mành bước vào nhà chào ông. Phải một lúc lâu ông mới nhận ra:

– Binh hả? Gớm sao lớp này ăn mặc trông phát khiếp thế? Không thấy tư thế người chiến sĩ đâu nữa rồi.

Bị đòn tấn công phủ đầu, Binh cũng hơi choáng váng. Nhưng rồi lập tức gã phản công:

– Tư thế của người chiến sĩ là ở bàn tay cầm súng. Những năm ở chiến trường cháu chưa bao giờ buông súng đầu hàng.

– Ngày ấy các anh mặc quần áo gì? – ông bí thư hỏi trong khi vẫn chưa mời khách ngồi ghế.

Binh nhìn thẳng vào ông:

– Quần áo xanh lá cây. Cũng có khi cởi trần, mặc mỗi quần đùi. Còn đầu cháu thì bao giờ cũng trọc, còn ria con kiến thì biến thành ria cáo vì không có dao cạo. Như vậy có đủ tư thế người chiến sỹ không bác? Chắc rằng bác sẽ bảo là không đủ tư thế phải không thưa bác? Thế  mà 90% số lính Mỹ bị tiêu diệt là do những người không đủ tư thế quật ngã. Giờ đây bác trông cháu ngang tàng không khác gì một gã tướng cướp, một kẻ giang hồ, một tay anh chị… Thế mà hễ giặc đến thì cháu đi luôn, lại cầm súng xông lên….

Ông bí thư im lặng, trầm ngâm. Ngoài vườn nàng Hoa Được gật đầu mỉm cười. Ông bí thư vẫn để Binh đứng giữa nhà, chứ không chỉ ghế mời ngồi. Ông tiếp tục mồi điếu thuốc lào nữa và nói :

– Nhưng lúc này là ở quê, người chiến sỹ về làng phải có tác phong quần chúng…

– Thưa bác, tác phong quần chúng là thế nào ạ? – Binh hỏi lại

– Là đừng cạo trọc đầu, đừng để râu ria, đừng đeo kính đen của mật thám. Quần chúng mặc quần nâu áo gụ đi dép cao su, đầu đội nón lá hoặc mũ lá thì mình cũng thế. Đó là tác phong quần chúng – Ông bí thư giảng giải.

Bỗng Binh mỉm cười:

– Thưa bác, khi đã có tác phong quần chúng mà cái đầu lại đần độn ngu si thì thế nào ạ?

Ông bí thư bị hỏi một câu đột ngột như vậy, đành im lặng. Một lát sau ông hỏi lại:

– Anh nói như thế là thế nào?

– Là  ý cháu muốn hỏi rằng có tác phong quần chúng mà cái đầu lại đần độn thì sao ạ?

Ông bí thư cười:

– Chẳng sao cả. Cái đầu cù lì một tí thì có chết ai đâu? Như bố anh đấy, như tôi đây này, chúng tôi vẫn làm chủ nhiệm, bí thư từ ngày anh còn nhỏ cho đến bây giờ, chẳng có ai chết vì cái đầu dốt của chúng tôi anh hiểu chưa?

– Có đấy ạ! – Binh bác lại – Khối người nghe các bố xui bẩy đi đánh nhau rồi chết. Những người còn lại không chết trận thì chết đói! Đi xa mười năm quay lại thấy quê hương chỉ có nghèo đi! Giá mà các bố đừng có tác phong quần chúng mà có cái đầu sáng láng thì hay biết mấy!

Ông bí thư trừng mắt, chỉ tay ra ngõ quát:

– Cút thẳng! Tưởng đi rèn luyện nên người, ai ngờ ăn nói như đồ phản động! Bọn chúng tao mà chết đi để chúng mày thay thế thì không khéo chúng mày bắt tay với cả kẻ thù để có nhiều tiền mà đầu rồng ria cáo! Muốn làm giầu thì đi mà ôm chân đế quốc! Thằng Mỹ nó đang đưa tiền ra nhử đấy! Tiền đế quốc là tiền nhơ bẩn, chỉ có tiền xã hội chủ nghĩa mới tốt đẹp, mà muốn thế thì phải đấu tranh giai cấp và có tác phong quần chúng….Mày đã hiểu ra chưa?

Binh gật đầu:

– Cháu hiểu rằng đến thế hệ chúng cháu thì cần phải bắt tay với tư bản…

– Cút! – Ông bí thư vẫy tay – Tao thấy mày ăn phải bả của tư sản rồi đấy! Mày có biết tư sản là gì không? Là bóc lột, là ngồi mát ăn bát vàng, là cái cần phải đánh đổ! Rồi ông cất giọng khàn khàn thuốc lào hát:

Nào cố bần trung lông ta cùng tranh đấu

Toàn dân nghèo căm thù địa chủ ghi sâu…

Binh dỏng tai nghe rồi bỗng gã bật lên cười sằng sặc. Ông bí thư ngừng hát hỏi:

– Mày cười cái gì?

Gã thành thật trả lời:

– Dạ, cháu buồn cười vì đáng lẽ là trung nông thì bác lại hát ra trung lông, nghĩa là…. lông ở giữa…..lông mà cũng biết vùng lên đấu tranh giai cấp hả bác?

Ông bí thư trố mắt, quát:

– Mày là đồ mèo hen bắt chuột không hay chỉ hay ỉa bếp! Tao ít chữ nghĩa vì ngày trước tao bị địa chủ tư sản bóc lột không được học, đáng lẽ thế hệ trẻ chúng mày phải thông cảm, tao nói “ lông” thì phải là “ nông”, rõ chưa? Bố mày thì hơn gì tao? Là chủ nhiệm trên mười năm mà khi báo cáo tổng kết: Vụ “ núa” này đại thắng, vụ “ nợn” này cũng đại thắng… xã viên chỉ cười chứ có ai thắc mắc gì đâu!

Binh nhe răng:

– Thì cháu cũng chỉ phì cười thôi mà!

– Nhưng mày cười đểu, có ý chê bọn tao dốt nát, phát âm còn ngọng mà lãnh đạo bẩy nghìn dân ở cái xã có nhiều tiến sỹ giáo sư này chứ gì? Tiến sỹ giáo sư mà không vững lập trường thời cũng vất, rõ chưa? Bọn chúng mày còn trẻ phải nhớ rằng điều quan trọng không phải là nhồi sọ cho lắm chữ nghĩa của tư sản, mà điều cốt lõi là giữ vững lập trường vô sản! Có lập trường rồi sẽ có tất cả! Mất lập trường là mất tất cả! Bước vào đời hãy nhớ cho kỹ điều ấy, con ạ. Thôi cút, khi nào tỉnh ngộ sang đây tao dạy thêm để khỏi sống mất lập trường.

Binh nhìn qua cửa sổ, thấy Hoa Được mỉm cười, gật gật, nhưng Binh không dám ở lại thêm, cũng không dám rẽ ra lối vườn, gã nhảy lên cái “ xe trâu” rồi đạp phóng về nhà. Nhà vắng. Gã dựa xe vào tường bếp rồi lên nhà nằm thẳng dẵng trên chiếc giường dải quạt ở phía nam rồi vắt tay lên trán thở dài thườn thượt. Gã vừa hành động dại dột quá chăng? Không biết ma xui quỷ khiến thế nào mà gã lại dám ăn nói văng mạng đến như thế? Ông ấy với bố gã là hai ông bạn nối khố, kẻ làm bí thư, người làm chủ nhiệm từ lúc gã còn quàng khăn đỏ, đến giờ đã ngót ba mươi. Sống lâu lên lão làng. Các cụ giờ là những cây đa cây đề, bóng rợp lên mỗi mái nhà, mỗi con đường cả xã. Một tiếng ho của các cụ, người ta cũng có thể giật mình. Các cụ đã phán gì là đúng đấy, không ai dám nghĩ là các cụ nói sai, phán sai. Cụ bí gọi “ nông” là “ lông” vẫn phải đúng. Cụ chủ nhiệm gọi “ lúa” là “ núa”, gọi “ lợn” là “ nợn” cũng không thể sai. Không ai dám bảo các cụ sai. Các cụ tuyệt đối đúng. Tất cả những ai không gọi là “ trung lông” mà gọi là trung nông đều sai, không gọi “ núa” mà gọi “ lúa” là sai, không gọi “ nợn” mà gọi “ lợn” là sai! Lẽ ra Binh phải hiểu điều đó đừng có ngoác mồm ra mà cãi. Lại còn con bé Hoa Được nữa, nàng tưới rau ngoài vườn ngay cạnh cửa sổ, chắc chắn là nghe không sót câu nào. Lúc đầu là mình định đến tán nàng nhưng nàng bảo: “ Hôm nay bố em ở nhà, anh vào chơi nói chuyện với bố em. Em đứng ngoài này, vừa tưới rau vừa nghe. Lúc xong anh nhìn qua cửa sổ hễ thấy em ngoài này gật đầu có nghĩa là anh ở lại em sẽ nói chuyện với anh. Còn nếu không thì anh về nghỉ cho khoẻ”. Lúc ông bố bảo mình “cút” mình vừa đi giật lùi vừa liếc qua cửa sổ….. thấy nàng có mỉm cười và gật đầu, nhưng mình không dám ra chỗ vườn. Chả lẽ nàng cũng đồng tình với mình? Chả lẽ con cái thời nay đều muốn chọc tức bố? Mình đã làm ông già này gần phát điên vì tức giân, biết đâu nàng mỉm cười gật đầu cho mình ra chỗ nàng để nàng tát vài cái cho bõ tức?

Gã thở dài. Chuyện đời thế mà rắc rối. Rồi thế nào cụ ấy chả tường thuật lại cho bố mình nghe, rằng thằng con anh dù đã đi bộ đội hàng chục năm, về căn bản vẫn là một thằng mất lập trường giai cấp, rằng phải hết sức giáo dục không thì nó hư hỏng. Rồi bố mình sao mà chả trợn mắt quát mình: Đồ ngu, đã đi tìm vợ lại còn lếu láo. Mày có biết mày dại dột thế nào không? Bố mày có thể mất chức chủ nhiệm vì mày có ngày đấy!

Trong khi ấy thì Hoa Được mỉm cười. Nàng tưới mấy luống xu hào ngoài vườn ngay giáp bên cửa sổ đã nghe không sót một lời nào câu chuyện giữa bố nàng và anh chàng Binh. Gớm thật, lần đầu tiên nàng bắt gặp một chuyện như thế này. Ngày nào nàng cũng chứng kiến những người đến gặp bố nàng. Họ đều ngoan ngoãn như đang đứng trước tượng Phật. Bố nàng chỉ cần nói nhỏ nhẹ, mà nói gì họ nghe ấy, họ gật đầu tuốt tuồn tuột những lời chỉ bảo của bố nàng. Không khí cuộc nói chuyện nào cũng êm đẹp, cứ như là không khí buổi lễ chùa. Lắm lúc nàng nghĩ: Bố mình oai ngang với thành thần, ma quỷ rồi!

Buổi sáng hôm nay anh chàng Binh đến. Thoạt kỳ thuỷ mình chỉ muốn ẩy anh ta phải vào tiếp chuyện với bố mình cho anh ta một dịp thưa   dạ, bẩm báo, vì ai mà chả thế, để mình lại được chứng kiến cài hèn của con người, đói khổ trăm bề mà chỉ biét gật chứ không biết lắc. Thế nhưng mình đã kinh ngạc thấy chàng đầu trọc râu đen này cứ bốp chát thẳng thừng cãi lại. Mình nhìn thấy ông bố mình mở to mắt ngạc nhiên. Ông kinh ngạc vì sao lại có kẻ giám cãi lại ông? Bao nhiêu năm nay ông chỉ có phán, và mọi người chỉ có việc nghe, thế mà thằng ranh này, láo thật! Ông càng nói, nó càng cãi, các bài lớp lang của ông đã là một chân ký bất xê bất dịch tưởng không có ai không nghe, thế mà… Hoa Được thấy bố mình cáu thì…..thích lắm. Từ lâu nàng muốn có ai đó nói ngang để cho ông phải nổi cáu, nhưng không thấy. Giờ xuất hiện gã đầu trọc……

Gã đầu trọc ấy vẫn đang thổn thức. Gã vẫn đang lo không biết tình hình sẽ thế nào. Bởi lúc này gã đã thật sự phải lòng cô gái con ông bí thư. Nàng thật tuyệt vời, da trắng tóc dài mặt trái xoan, đôi mắt lúng liếng tình ơi là tình. Phải chiếm được nàng! Gã gật gật cái đầu trọc. Nàng mà không yêu ta thì ta sẽ giở võ! Ta sẽ bắt cóc đưa về buồng ta. Ông bố mà cản ta thì ta sẽ giở võ! Ta sẽ đấm tuốt! Ha ha! Quả đấm làm ta có vợ! Quả đấm làm cho những ông bố quen bảo thủ mở mắt ra.

Cũng vào thời điểm mà Binh đang định dùng quả đấm để giải quyết những vướng mắc trong tình yêu thì Nho ngồi một mình suy ngẫm. Cái đêm ở gốc đa đầu làng hôm ấy, chỉ chậm độ một phút, có lẽ cả ba thằng đều đi teo. Vào giấy phút quyết định không biết có thánh thần nào xúi bẩy mà Nho bỗng tỉnh ngộ. Làm thế nào để chặn cả ba con hổ định xông vào hạ nhau trong nháy mắt? Phải chết lúc này thì uổng quá! Không có cách nào khác là phải bịa ngay ra một chuyện “tày trời” là một trong ba thằng đã được ngủ với nàng Nõn rồi! Có nghĩa là nàng đã mất trinh, cái của quý nhất nàng đã dâng hiến mất rồi. Tất nhiên chuyện đó đã sảy ra thì còn tranh giành làm gì nữa, đồ thừa thì ai thiết. Vậy bảo thằng nào? Mình tự nhận để cho mình ư? Tốt đấy, được người đẹp mà không phải nổ lựu đạn, là thượng sách rồi còn gì. Nhưng rồi vài giây sau thì Nho thấy không ổn. Thằng Binh và thằng Bõm chắc sẽ không tin mình, cho mình là bịa để lừa hai gã mà chiếm đoạt. Nó sẽ đồng tình kết hợp xông vào vặn cổ mình ngay tức khắc. Thế thì thằng Binh hay thằng Bõm? Thôi hãy để cho thằng Bõm, nó là thằng đến đầu tiên với Nõn, nó có quyền được nhận. Thế là mình hô lên. ừ nhỉ, lúc bấy giờ sao mình đóng kịch tài đến thế, từ điệu bộ, giọng nói, nét mặt cứ y như thật. Thằng Binh trối mắt nhìn mình như muốn nuốt chửng ai đó. Nó bị một cơn choáng, mắt vằn lên những tia máu. Nó sẽ nhảy bổ vào cho mình hay cho thằng Bõm một trưởng đây? Đối với một thằng sống thẳng và chuyên giải quyết các mâu thuẫn bằng quả đấm thì chuyện này là khó tránh khỏi. Mình đứng ở thế thế thủ sẵn sàng quật lại nếu nó xông vào. Nó nhìn mình trừng trừng, rồi lại nhìn thằng Bõm trừng trừng, tay lăm le quả đấm. Nhưng rồi trong một tích tắc, ngọn lửa trong đôi mắt của nó dịu dần. Nó chửi một câu vu vơ: “đồ chó!” rồi lặng im. Còn thằng Bõm, thằng này tưởng đần thế mà cũng ma ranh. Sau phút ngạc nhiên ban đầu thì nó nhận luôn ra cơ hội ngàn năm có một, rồi nó tự cho nó đã làm chuyện ấy thật, đến khi thằng Binh hỏi to: “ có không” thì nó gật đầu luôn là “ có thật”. Nó còn bịa ra bộ mặt có vẻ ân hận vì chuyện ấy để thằng Binh càng tin là thật. Thế là giải tán, thằng bõm cuỗm được cô nàng Nõn chắc phải cho rằng có thánh thần ma quỷ phù hộ.

 

 

 

Chương bốn

 

Làng Bần làng Cố làng Nông

Ba làng hợp lại thành thôn Nông Bần

Câu ca này chẳng biết có từ bao giời mà truyền lại mãi đến ngày nay. Tuy nó chỉ là câu văn vần ghép ba làng lại thành thôn, nhưng tự thân cái tên làng tên thôn ấy đã nói khá rõ một điều là nghèo. Làng Bần, làng Cố rồi đến làng Nông, cả ba làng đều chạy dọc theo bờ sông, cũng gọi là sông Nông Bần. Đứng trên ngọn cây xoan đầu làng Bần mọc bên bờ sông mà nhìn toàn cảnh thôn Nông Bần chỉ thấy những mái nhà rạ thấp lè tè bên những mảnh sân đất chỗ lên rêu xanh, chỗ gà bới như câu ca từ xưa còn truyền lại: Gà về bới nát cỏ sân, mèo buồn lại chạy kiếm ăn ngõ ngoài, chó nằm đầu hè gặm mỏm khoai….. Đó chính là hình ảnh thôn Nông Bần từ xa xưa cho đến tận những năm gần đây. Thời phong kiến bảo bị địa chủ bóc lột nên nghèo, đến thời hợp tác xã ba chục năm, cái nghèo vẫn bám riết, đời cha rồi đến đời con vẫn quần nâu áo gụ, cơm độn ngô độn khoai, mặt trời chưa mọc đã vác cày vác cuốc ra đồng, tối nhọ mặt người còn lom khom bên bờ ruộng, đêm nằm giường tre, chiếu rách, quạt mo, mùa đông thì ổ rơm ổ rạ, chăn bao gai… Cả đời mơ ước những bữa cơm no, mấy đời kế nhau mơ ba gian nhà ngói thượng thực hạ hư, nhưng nhiều người đã nhắm mắt, ra đi, khi những mơ ước đơn giản ấy vẫn còn xa tầm với. Có người trước khi về với tổ tiên đã gọi lũ con đến căn dặn: Đời ông chúng mày lo được đôi xà xoan, đời bố vắt kiệt sức để rồi chết sớm cũng chỉ lo được một lò gạch, còn bao nhiêu, đời con, đời cháu phải cố cho được cái nhà ngói, thì ông bà cha mẹ ở nơi chín suối mới yên lòng. Lũ con thương bố gật đầu. Nhưng rồi khi ngày công hợp tác xã chỉ còn năm lạng thóc thì xoan của ông, gạch của bố cứ lần lượt ra đi. Lũ con biết rằng như thế là bất hiếu nhưng không còn cách nào khác khi mùa màng vừa xong thì buồng cũng không còn hạt thóc dính bao.

Ngày đầu tiên nhận lại ruộng, thôn Nông Bần vui như ngày hội, ai cũng tưởng rằng sẽ giầu có đến nơi. Khát vọng làm giầu là khát vọng lớn nhất ở những con người lam lũ mà quanh năm ăn đói mặc rách. Ba mươi năm làm chung là ba mươi năm đói khổ, cũng là ba mươi năm con người khát thèm, mơ ước giầu sang. Nhưng chỉ có mơ mà không có chút hi vọng nào, dù là nhỏ nhoi để vươn lên đạt ước mơ. Dù biết vậy, vẫn ước mơ, vẫn khát thèm. Vượt qua được bể khổ để sống đến thời đổi mới chính vì trong mỗi con người khát vọng cho ngày mai chưa hề bị tắt. Nếu nó tắt thì chắc con người không thể vượt qua cái khốn cùng như đã vượt qua.

A ha! Đổi mới đây rồi! Thật là may mắn cho những ai chưa chết! Nếu chết sớm thì còn cơ hội đâu ra mà hưởng đời đổi mới. Những ai đã chót chết thì đang làm đơn kiện trời để được sớm lên trần thế hưởng đời đổi mới. Vèo một cái mười năm trôi qua, mười lăm năm trôi qua. Bà đi buôn xây ba bốn nhà tầng, ông cán bộ xây vài ba biệt thự, còn anh nông dân thông Nông Bần vẫn đang ở diện xoá đói giảm nghèo! Thế này thì trời hại mất rồi. Đổ tội cho trời chơi xỏ, nhưng kiện trời là điều khó khăn lắm chưa từng ai làm nổi vì chưa từng ai đánh đổ được trời. Thì đổ tội cho chính mình vậy: Mình chưa giầu là do mình dốt. Cái đó thì tuyệt đối đúng. Nhưng dốt thế nào? Từ ngày ruộng đất về tay, vụ lúa nào do hai sương một nắng mà làm nên bội thu, đạt tới vài ba tạ một sào, sao gọi là dốt? Các lão nông ngồi trên đống thóc to giữa sân bấm đốt ngón tay mới ặt ra rằng thu nhiều mà vẫn ở diện xoá đói giảm nghèo là do chi cũng lắm: Cái gọi là “ nộp các khoản” thời nay có thể ví như câu thành ngữ: Mười phần mất bẩy còn ba, nếu kêu ca thì mất thêm hai, còn một. Thế thì lúa tốt, thóc nhiều mà vẫn ở diện xoá đói giảm nghèo là hợp lý. Bình quân đầu người có hai sào ruộng, lại độc canh cây lúa, vắt mũi đút miệng còn chưa xong nói chi đến chuyện giầu sang. Để bù lại, vào năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi, xã Đấu Tranh được phong là anh hùng lực lượng vũ trang, rồi lần lượt cả ba làng của thôn Nông Bần được công nhận là “ Làng văn hoá”. Lớp này thì trời có mắt thật rồi. Chả còn gì vinh dự hơn là được sống trên quê hương làng văn hoá, xã anh hùng. Thôn Nông Bần có hơn ba chục người tham gia chiến đấu từ thời chống Pháp bây giờ còn sống, cụ nào cụ ấy gầy khẳng khiu như cây sậy, tóc trắng như bông lau, hôm ra hội trường xã dự đại lễ nhận danh hiệu anh hùng cho quê hương mình, các cụ đều khóc vì vui sướng. Thời chống Pháp, chính những con người này ăn đói mặc rách, ngày đêm vác đòn càn, mã tấu đuổi giặc suốt tám năm. Giặc tan lại về nhà cày ruộng, ngày bữa cơm bữa cháo mà lòng dạ hả hê. Còn giờ đây khóc vì sung sướng, vì niềm tự hào cho quê hương. Tiếp theo là những ngày hết làng Bần đến làng Cố rồi làng Nông được công nhận là “ Làng Văn Hoá”. Giữa cái  thời đồng tiền ngự trị, cái gì cũng đem tiền ra làm thước đo giá trị thì việc cả ba làng nghèo của thôn Nông Bần lần lượt được phong “ Làng văn hoá” là một giá trị đích thực. Suốt những năm tháng sống trong đói nghèo, khổ cực trăm bề, cái tình người ở nơi đây vẫn không hề bị rung chuyển, ngược lại trong gian nan nó được củng cố vững vàng. Từ ngày xửa ngày xưa cho đến tận bây giờ, làng có cổng làng, nhưng nhà thì không có cổng. nhà nọ bước sang nhà kia chỉ vừa một bước, chỉ có cái dậu cúc tần, dậu mồng tơi, nhưng đều có lối mòn ở giữa, lúc tối lửa tắt đèn, ới một tiếng là có nhau. Đói nghèo thật đấy, nhưng củ khoai lang luộc, bát nước vối bờ ao luôn luôn có để mời nhau. Nhà bác bữa nay hết gạo, nhà tôi dù còn một bát cũng đưa sang. Nửa đêm có một người đau bụng thì cả làng thức trắng, người giã gừng, người rang cám để chườm cho đến khi khỏi mới chịu về. Tình làng nghĩa xóm đã vậy, tình gia đình càng đẹp, dù nghèo khó vẫn yêu thương nhau hết lòng. Hàng chục năm làng không có ly hôn. Tình phụ tử nghĩa phu thê, nét đẹp truyền thống bao đời vẫn bảo tồn ở nơi đây. Tiếng hát câu cười bay lên từ những bát cơm độn khoai độn sắn……

Cho đến lúc trên chín mươi phần trăm số gia đình ở thôn Nông Bần được công nhận là “ Gia đình Văn Hóa” thì trên mảnh đất phía tây thuộc làng Bần mọc lên một nhà hàng đặc sản. Mảnh đất rộng hàng mẫu này xưa kia là cái cồn gọi là cồn Mả lớn, vì ở giữa cồn nổi lên một cái mả trông như một quả đồi nhỏ. Chẳng hiểu cái mả này là mồ chôn  giặc ngoại xâm khi giao chiến với quân ta ở vùng này, hay là mả vua chúa vương hầu nàò đấy mà to đến thế. Thời chiến tranh chống Mỹ, cái mả ấy thành cái ụ pháo cao xạ. Hoà bình thống nhất được vài năm thì người ta cho san cồn để làm gạch, ngói. Rồi gạch ngói tan, nó thành trạm xá. Trạm xá lại nằm trên cồn nên ma cũ ma mới đánh nhau chí choé suốt đêm làm bệnh nhân hoảng sợ, nhân cơ hội đó anh chủ tịch xã rao bán. Một nhà kinh doanh có tầm nhìn thực dụng từ thành phố về mua được với cái giá bèo bọt, biến trạm xá thành nhà hàng đặc sản. Thật là khen cho con mắt tinh đời. Giữa một vùng quê thanh bình nằm kề bên thành phố, nơi toàn làng văn hoá trong một xã anh hùng, nơi vào thời điểm ấy đã có trên chín mươi phần trăm gia đình đã được phát bằng Gia đình Văn hoá, thì mọc lên một “ ẩm thực văn hoá” là quá tuyệt vời theo cái nghĩa bên ngoài. Dân được tin quê mình có nhà hàng “ ẩm thực văn hoá” thì chỉ có vui. Đã có làng văn hoá, gia đình văn hoá, giờ có “ văn hoá ăn” càng tốt chứ sao! Nghe đâu bên cạnh “ Văn hóa ăn” còn có “ văn hoá ngủ”. Người quê chả hiểu thế nào là văn hoá ăn, văn hoá ngủ, văn hoá chơI,…nhưng nghe có “ văn hoá” thế là được rồi. Nơi đây được coi như một ốc đảo nhỏ, một nửa tiếp giáp với làng, một nửa vươn ra cánh đồng quanh năm thơm hương lúa. Những mái nhà nhỏ và thấp như những túp lều gianh ẩn dưới những hàng tre xanh, những cây mít, cây sung, cây ổi, cấy khế lúc lỉu từng chùm quả chín, gợi một không gian u tịch hoang sơ, dân dã, nhất là cứ mỗi buổi sáng chim chào mào, chim quýt choè, thả sức ríu ran bay lượn trên các ngọn cây cùng hoà âm bản nhạc đồng quê. Nhân viên phục vụ từ gác cổng đến vệ sinh, nấu ăn, bưng bê… đều là những cô gái rất trẻ, tuổi đời mười tám đôi mươi. Các cô không váy cộc, quần bò, áo chẽn, mà quần lụa đen hoa ống rộng, áo cánh nâu, tóc không cắt ngắn, không uốn cong, mà mượt mà xoã xuống vai, xuống lưng ong, môi má không thoa son thoa phấn mà vẫn ửng hồng duyên dáng. Khi phục vụ khách, các cô không uốn éo, không cố ý gợi cảm, không chài mồi, mà đoan trang duyên dáng gái đồng quê chính hiệu. Giữa cái thời khách sành điệu đã chán thịt bò, thịt gà, quay về với lươn, cua, ốc, ếch, không chịu ăn cơm điện mà ăn cơm niêu thổi bằng rơm, thì gái quê, mặc quê không phấn son thành đặc sản cao cấp. Nhà hàng ít phục vụ ban ngày. Cứ khoảng gà lên chuồng trở đi. Lúc ấy trăng thanh gió mát, tre kẽo kẹt, lúa rì rào, ru con người vào cảm hứng mộng mơ thì những túp lều gianh giữa ốc đảo mới mở cửa cho những trái tim vàng vào thổn thức thâu đêm. Ngày nào cũng chỉ vừa mơi tối là mạn dưới đổ lên, mạn trên đổ xuống, những chiếc xe con đời mới của Nhật, của Hàn Quốc lặng lẽ, êm ả như luồn trong mây từ tỉnh lộ rẽ vào làng rồi vào ốc đảo. Xe luồn qua những rặng tre, những khóm chuối, những gốc mít, những gốc sung rồi đỗ rất êm ả ở cửa những túp lều gianh. Từ trong xe, một ông bụng phệ thư thả bước ra, dù trời mờ mờ tối, trông ông vẫn oai phong lẫm liệt với chiếc cặp da đen bóng xách ở tay. Trong chiếc cặp da ấy là những thông tư, chỉ thị, nghị quyết, là những bài giáo huấn ông vừa giảng cho cấp dưới về cần kiệm liêm chính chí công vô tư, khổ trước dân, sướng sau dân của của người đầy tớ nhân dân, nhất là giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh, không bồ bịch, gái trai, không nhà hàng, khách sạn,không lấy của chùa ra chi để đốt trời không văn tự. Còn giờ thì cô gái đồng quê xinh đẹp đã đứng sẵn ở cửa lều e thẹn nắm tay ông đỡ lấy cái cặp da đựng tiền và những bài giáo huấn của ông, kéo ông vào lều. Trong lều là cái giường tre, chiếu cói. Ông chán khách sạn ba sao, năm sao, chán đủ mọi thứ môi son má phấn, váy lửng quần bò, cũng như chán gà rán, bò sào để quay về ốc ếch lươn cua. Giờ ông thích nằm nhà rạ, ăn cơm quê, ôm gái nhà quê. Còn vợ ông là gái tỉnh, ở biệt thự nên ông ghét. ấy là các ông thường tâm sự với “ gái quê” trong túp lều gianh như vậy. Tề tựu về đây sau giờ hành chính có các cấp trưởng phó phòng của một số huyện, các phó chủ tịch, rồi Chủ tịch, các ban nọ bệ kia cùng cấp mà cao hơn. Cấp hàng tỉnh cũng tương tự như thế, chức càng to, càng hay thăm viếng nơi hương đồng gió nội này. Rồi cả những khách từ Hà Nội về. Các vị cũng đưa về đây đãi ngộ, làm cho thôn Nông Bần suốt đêm sôi sục. Nơi đây lại cạnh một ngôi chùa rất thiêng, bên này thắp nhang chắp tay khấn vái thì bên kia các quan ôm hôn sờ mó các thiên thần của hương đồng gió nội, lời yêu của các vị hoà cùng tiếng tụng kinh gõ mõ, làm thành bản giao hưởng tuyệt vời mà chưa nơi nào trên trần thế này có được. Chuyện quan đã vậy, còn chuyện dân? Quan hưởng nhiều mà dân lại không được hưởng tí gì hay sao? Chẳng bao lâu, bên cạnh những túp lều gianh để phục vụ các quan, đã mọc lên một ngôi biệt thự để phục vụ anh dân suốt ngày cầm cày cầm cuốc. Thật là trời đất xoay vần, biến hoá khôn lường. Trong khi các quan lớn hướng về cội nguồn chỉ thích nằm giường tre ôm con gái nhà quê thì các bác thợ cày nhà quê lại mơ nằm biệt thự có giường đệm mút, có máy điều hoà nhiệt độ, ôm các em mắt xanh mỏ đỏ, váy mỏng như màng nhện, cộc hớn đến ngang mông. ối chà chà, vợ các bác đã tứ tuần, ngũ tuần, cả đời lam lũ vắt kiệt sức cho chồng cho con giờ nhũn nhẽo su si như cóc gặm. Các bác thợ cày thoạt nghe tin khu ốc đảo đã xây biệt thự đầy đủ tiện nghi, lại có các em mắt xanh mỏ đỏ sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu, miễn là có tiền thì các bác cho rằng đấy là để chiêu đãi khách Hà Nội về thăm và làm việc với tỉnh nhà. Nhưng sau được biết là khách thủ đô chỉ thích túp lều gianh cùng các em hương đồng gió nội, còn biệt thự với giường đệm mút cùng môi son má phấn váy cộc là để phục vụ nhân dân , đầy tớ của dân, sao dám chơi trèo, hưởng biệt thự! Thì các phó thường dân thôn Nông Bần hiểu rằng sắp đổi đời đến nơi! Lớp này cứ gọi là “ lên tiên”! Mỗi đêm vài tạ thóc chứ mấy!Vị nọ rỉ tai vị kia rằng tuyệt lắm, cứ trắng hớ suốt từ gót chân lên tới “ con trai”. Bắt đầu từ đấy cứ sáng sáng vác cày dong trâu ra đồng là thể nào các bác cũng lượn qua khu “ lên tiên”, đôi mắt đáng lẽ phải nhìn vào con đường để bước cho khỏi vấp ngã thì các vị lại chỉ nhìn vào cái chỗ “ lên tiên” bởi ở đấy đang có các em váy cộc môi son đứng liếc mắt đưa tình. Ông đí sau hỏi ông đi trước:

– Đã nhìn rõ chưa?

Ông đi đằng trước ngoái đầu lại gật với ông đằng sau:

– Nhìn thấy rồi.…

– Nó thế nào? – Ông đằng sau hỏi với lên .

– Trắng nõn và thơm lắm! Ông đằng trước trả lời.

– Xa thế mà cũng ngửi thấy thơm à? – Ông đằng sau hỏi vặn.

Ông đằng trước gật đầu:

– Tôi ngửi được mùi thơm…

– Từ háng đàn bà à? – Ông đằng sau châm chọc.

Ông đằng trước vặn lại.

– Thế sao hôm nọ bác bảo cái gì…thơm như múi mít?

– Ây là ngưỉ gần! Đằng này xa thế kia mà bác dám bảo rất chi là thơm! Rõ ra đồ Nói khoác !

Trên đây là một đoạn đối thoại tình cờ, tác giả hôm ấy cũng vác cày dong trâu ra đồng vừa ngắm các em đứng ở cửa biệt thự vừa nghe lỏm được các bạn canh điền bàn luận.

Đám đàn ông ba làng: làng Bần, làng Cố, làng Nông vào những ngày này như trẻ lại vài ba chục tuổi. Ông nào cũng hạ quyết tâm “ lên tiên”. Dịp may ngàn năm có một mà lại. Bộ máy tình dục của họ đã gần han rỉ vì lâu ngày ít được lau dầu bỗng ngổng đầu lên đòi quyền hưởng thụ. Rồi một tối có hai bác canh điền vốn là bộ đội đặc công thời chống Mỹ, lẻn vào khu “ lên tiên” hỏi han cho cặn kẽ. Ngày mai hai bác tranh thủ lúc giải lao giữa đồng thông báo cho bạn đồng nghiệp toàn là thợ cày biết rõ:

– Toàn mắt xanh mỏ đỏ tuyệt vời! Giường đệm mút, máy điều hoà! Giá 200.000 đ tầu chạy suốt!

– Nghĩa là thế nào? Một bác thợ cày không hiểu hỏi lại .

– Nghĩa là … suốt đêm…

– Nhưng 200.000 đồng là vị chi hơn tạ thóc, là đi cày mửa mặt nửa tháng trời…. Một ông bấm đốt ngón tay rồi nói.

Ông khác chặn ngay:

– Thì cái sướng bao giờ chả đi ngang với cái khổ, “ lên tiên” cơ mà?

– Nhưng buồng nhà tôi gần hết thóc rồi! – Ông thợ cày khác nói.

– Đi vay – Ông đứng cạnh mách nước – Cứ đi vay rồi mùa trả sau lo gì.

– Phải đấy – Một ông gật đầu – cơ hội “lên tiên” không thể bỏ qua.

– Bán đất  – Một ông khác nói to – Phải bán đất! Thành phố đang về lùng mua đất. Bán đất đi rồi tha hồ mà “lên tiên”!

– Nhưng đất ở đâu mà bán? – Một ông khác hỏi.

– Thì sẻ thổ ở ra mà bán! Nếu không thì bán ruộng! Một sào ruộng có rẻ cũng chơi được một tháng!

– Một tháng mấy lần chơi là hết sào ruộng? Mà xuất chia chỉ có hai sào, bán hai lần là hết rồi nhịn đói mà “lên tiên” à?

– Hừ, lo gì cái đó? – Một ông giải thích – Hết ruộng thì đi làm thuê. Thời nay làm thuê chắc ăn hơn cày ruộng.

ở khoảnh ruộng phía đằng này, mấy bà thợ cấy vừa chổng mông cắm mạ vừa nói chuyện. Một bà khới đầu:

– Tôi nghe bọn đàn ông đang bàn nhau ra nhà hàng hú hí…. Các bà có biết hết bao nhiêu tiền không?

– Hai trăm ngàn một đêm! – Một bà khác trả lời.

Cả mấy bà nghe vậy liền thốt lên:

– Thế cơ à? Hai trăm ngàn một đêm, bằng tạ rưỡi thóc! Nó ngủ với mình mấy ngàn đêm rồi mà không thấy nó trả đồng nào.

Tất cả các bà các cô đều cười. Một là vừa ra mạ vừa nói:

– Thằng chồng tôi đêm nào nó cũng hùng hục như nam hạ vác đất, đi cấy đi gặt khốn khổ thế này, nhọc bã cả người mà tối đến mình vừa đặt mình xuống giường đã thấy nó lù lù vào, cởi trần trùng trục rồi nó đè nghiến mình ra…..

Các bà các cô khác cùng cười. Một bà hỏi:

– Thì ai bảo bà cũng đồng ý thì người ta đừng đè à?

– Không đồng ý mà được à? – Bà lúc nãy vừa ra mạ vừa nói – Nó luồn tay vào váy mình, mình cầm hất ra, nó lại luồn luôn mạnh hơn, tôi rách mất mấy cái váy vì chuyện ấy đấy.

Tất cả cùng cười. Một bà lại nói:

– Từ nay nó sẽ không đè bà nữa mà lo, lớp này bọn đàn ông thôn Nông Bần này đang rủ nhau “lên tiên” cả cơ mà?

– Tiền ở đâu mà “ lên tiên”? – Một bà hỏi

– Còn tiền ở đâu nữa – Một bà trả lời – Tiền giắt ở cạp váy chúng ta chứ tiền ở đâu.

Một bà khác nói:

– Từ nay nên cảnh giác, cứ bỏ tiền vào hòm mà khoá…

– Khoá giời nó cũng mở được – Một bà khẳng định.

– Thế để ở đâu là ổn? – Một bà hỏi.

– Còn ở đâu nữa! – Bà cấy phía bên này nói vọng vào – khâu túi nhét vào quần lót.

– Hố hố. Ba bốn bà phì cười rồi cùng  nói- Bỏ vào đấy thì khác nào lạy ông con ở bụi này. Cái lúc nó luồn tay vào váy nó sờ nó lại không thấy sao?

– Thế để ở đâu? Đưa lên trời gửi à? – Một bà hỏi lại.

Không ai trả lời được là tiền để đâu thì chồng khỏi móc trộm đưa cho gái. Bỗng một bà lại nói:

– Cứ không có tiền là được! Không tiền thì lắt l… mo các bà hiểu không?

– Nhưng còn thóc? Tôi nghe cánh đàn ông là bán thóc trộm để đi “ lên tiên” đấy. Không giữ cho kỹ là chưa hết mùa đã hết thóc đấy các bà hiểu không?

– Giữ bằng cách nào? – Một bà hỏi – Chả lẽ có mấy bao thóc mà suốt ngày ở nhà coi giữ ? Không đi làm thì vụ sau lấy gì mà ăn?

Đến đây thì cánh đàn bà thấy tắc tị. Rồi bỗng một bà đứng thẳng người lên nói rõ to:

– Xẻo! Chỉ có xẻo phắt cái của nợ ấy đi thôi. Tối hôm nay về, thể nào tôi cũng xẻo…

Một bà vặn  lại:

– Bà luồn tay vào quần chồng rồi “ vặn cổ” phải không?

– Đồ phải gió ạ!- Bà kia rủa lại.

Tất cả các bà các cô trên ruộng ấy cười như lắc nẻ. Rồi một bà nói tiếp:

– Khéo mà càng vặn càng cứng đấy…

Các bà lại cười rộ. Một lát sau một bà lên tiếng:

– Tôi trao giải thưởng hai bát phở gà cho bà nào tìm ra cách trị bọn đàn ông không lấy trộm tiền bán trộm thóc đem đi “ lên tiên”!

Một bà ngừng tay cấy ngẩng lên nói:

– Tôi xin xung phong “nghiên cứu” đề tài này. Bà nhớ phải đãi tôi hai bát phở gà ở quán đầu làng đấy nhé.

Bà kia gật đầu:

– Đồng ý. Nói ngay đi xem nào?

– Thế này nhé- Bà kia đáp – Có gì đâu, cứ tối đến là ép các hắn “ lên ngựa” tại nhà. Pháo nổ rồi còn nổ sao được nữa mà đi “ lên tiên”!

– Phải đấy! – Một bà hưởng ứng – Cứ bắt “ lên ngựa” ngay từ chập tối là nằm phờ râu trê ngủ khì một mạch cho tới sáng .

-Nhưng có lão khôn không nghe thì sao ?

– Thì “ vặn cổ” mà lôi ra vả cho mấy vả rõ đau, hỏi rằng hà cớ gì của nhà sẵn không muốn lại muốn của lạ? Cứ vả cho đến lúc cứng người ra là ổn.

Vừa lúc đó có mấy lão canh điền vác bừa dong trâu đi qua. Một lão nhìn đám thợ cấy hỏi:

– Có mát tay không các bà?

Một bà là vợ lão liền ngừng tay cấy, cong cớn nói:

– Má, mát cái con khỉ. Tối nay về rồi ông biết tay tôi.

Lão hỏi vọng xuống:

– Biết tay về chuyện gì?

– Còn chuyện gì à? – Bà vợ quýt dài – Tôi hỏi tối nay ông ở nhà hay đi đâu?

– Tôi đi có tí việc… Lão trả lời.

Bà vợ xỉa tay về phía lão:

– Tôi cấm!

Lão ra vẻ ngạc nhiên:

– Sao lại tự nhiên cấm vận?

– Sao với giăng gì!- Bà vợ lại lườm – Thôi hôm nay nghỉ sớm về nhà viết bản kiểm điểm đi, liệu hồn đấy!

– Kiểm điểm về cái gì? – Lão cãi.

– Cái gì à? – Bà vợ trừng mắt – Ông đi “ lên tiên” mấy lần rồi? Khai ra thì sống!

Lão cười nhe răng:

– Chưa lần nào! Tôi thề là như vậy.

– Thề cá trê chui ống chứ gì? – Bà vợ lại nguýt – Lớp này các ông thành cuội cả rồi, suốt ngày nói dối vợ.

– Thôi đi đi- Mẫy lão canh điền đi cạnh giục – Lúc này im lặng là vàng thế mà ông cứ dây lời với con cua cái nhà ông mãi. Đi đi, nào vắt vào…. diệt…. mồm nói, tay lão quật mạnh cái vè bừa vào mông con trâu, khiến cả mấy con cùng lồng lên, kéo theo đám canh điền sang khoảnh ruộng bên cạnh.

TRẦN QUỐC TIẾN

(Trích tiểu thuyết Lão Bõm)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.