Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Minh Hiệu và Hà Khang ở Thanh Hóa

Vanvn- Trong khuôn khổ Ngày thơ Việt Nam lần thứ XXII tại Thanh Hóa, chiều 24.02.2024, Hội VHNT Thanh Hóa tổ chức tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Minh Hiệu và nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Minh Hiệu và nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang chính là khẳng định những giá trị sáng tạo, những thành tựu của hai ông đối với thơ Thanh Hóa nói riêng và thơ ca cả nước nói chung. Khẳng định đóng góp quan trọng của hai ông đối với thơ ca kháng chiến. Di sản thơ ca của hai ông là niềm tự hào của thơ ca Thanh Hóa. Tên tuổi của hai ông mãi mãi trong lòng những người làm thơ xứ Thanh, mãi mãi trong lòng bạn đọc yêu thơ Thanh Hóa.

Di sản của nhà thơ Minh Hiệu và nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang tiếp tục in sâu trong lòng công chúng bạn đọc và nền thi ca xứ Thanh, thi ca cả nước.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, có một giai đoạn thơ ca gắn chặt với lịch sử đất nước, với vận mệnh của dân tộc, với một nội dung và hình thức rất mới, đó là thơ Kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Trong dòng thi ca hào tráng đó, ở Thanh Hóa chúng ta, bên cạnh những tên tuổi đầy tự hào Thôi Hữu, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Hữu Loan… còn có hai thi nhân có đóng góp đáng trân trọng cho thơ ca kháng chiến. Đó là nhà thơ Minh Hiệu và nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang. Mà hôm nay chúng ta có mặt tại đây để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của hai ông (1924-2024).

Nhà thơ Minh Hiệu (1924- 1999)

Nhà thơ Minh Hiệu, tên thật là Nguyễn Minh Hiệu, sinh năm 1924, trong một gia đình trung lưu, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, Thanh Hóa.

Năm 1947-1948, ông là Huyện đoàn trưởng thanh niên huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

Sau khi dự lớp huấn luyện văn nghệ khóa II năm 1948 của Đoàn văn nghệ Liên khu IV ở làng Quân Tín (Thanh Hóa), ông đi vào chiến trường lên khu V, một chiến trường sôi động và ác liệt.

Năm 1949-1951, ông làm báo Cứu quốc liên khu V; Năm 1952-1956, ông công tác văn nghệ ở Thanh Hóa; Năm 1957-1958, ông là Thường vụ Hội sáng tác văn nghệ Liên khu IV; Năm 1959-1973, Hoạt động văn nghệ ở Thanh Hóa; Năm 1974-1978, ông là Phó Trưởng ban tuyên huấn Tỉnh ủy Thanh Hóa; Từ năm 1979 đến năm 1983, ông là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông mất năm 1999.

Ông đã được Giải nhất về ca dao, của Chi hội Văn nghệ liên khu IV năm 1952. Năm 2017, Giải thưởng Nhà nước về VHNT cho các công trình nghiên cứu văn nghệ dân gian. Tên ông đã được đặt cho một tuyến phố ở thành phố Thanh Hóa.

Các tác phẩm chính của nhà thơ Minh Hiệu: Những chiếc cầu (tập thơ, in chung) 1969; Tâm tình (ca dao) 1972; Yêu thương (tập thơ) 1978; Truyện thơ Mường (in chung) 1964; Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa (2 tập) 1970, 1981; Nghệ thuật ca dao, 1984; Quế Ngọc châu Thường, 1987; Tuyển tập Minh Hiệu, 2015.

Có một thời nói đến Minh Hiệu, người đọc thường nghĩ đây là một “Cây ca dao – một cây ca dao thực thụ với những vần tin yêu biểu hiện cách làm ăn mới, suy nghĩ mới trong cuộc sống mới.

…Làm ăn có đội có đoàn / Như đò bắt nhịp hò khoan mà chèo

…Đèo cao thì mặc đèo cao/ Trèo trên đỉnh núi ta cao hơn đèo.

Ca dao Minh Hiệu đã đi sát cuộc sống, chân thật và sinh động như bản thân cuộc sống. Ông đã biết giữ lại liều lượng nhất định về vần điệu, âm điệu để thơ đạt được yêu cầu đại chúng, thấm sâu vào quần chúng và có tác dụng tích cực trong nhân dân.

Thế nhưng, đó chỉ là một phần trong tâm hồn ông và phần còn lại, phần chính không kém tâm huyết là ông dành cho thơ.

Nếu không có sương đêm/ Làm sao em đẹp vậy/ Như men vừa dậy/ Nắng vườn xôn xao/ Không gian phút cũng hồng hào/ Lá ngơ ngẩn với gió ngào ngạt hương – (Với bông hồng ban mai)

Thơ Minh Hiệu giản dị, chân chất, cẩn thận cả về bố cục và câu chữ, vần điệu. Trong thơ ông ít có những câu, những đoạn “trữ tình ngoại đề” để cho thơ sinh động lung linh mà thường được bù đắp bằng những chi tiết, sự việc và cách tự sự, tự nhiên thân mật.

Bên cạnh sáng tác thơ ông còn viết nghiên cứu, sưu tầm văn nghệ dân gian. Thành tựu ở lĩnh vực này của ông không hề nhỏ, mà Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2017 tặng cho ông ở lĩnh vực này là sự ghi nhận và tôn vinh hết sức xứng đáng.

Nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang tên thật là Hà Phúc Khang (1924-2002)

Nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang tên thật là Hà Phúc Khang, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1924, tại thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình công chức nhỏ, có truyền thống yêu nước, hiếu học. Trước cách mạng tháng 8 ông đã đậu tú tài bán phần. Ông dự định học tiếp để lấy bằng tú tài toàn phần về làm nghề dạy học. Nhưng lúc ấy phong trào thanh niên cứu quốc bùng lên mạnh mẽ, ông thôi học tham gia phong trào văn hóa cứu quốc, truyền bá quốc ngữ và sáng tác thơ văn, viết báo để tuyên truyền cách mạng.

Năm 1945 ông là hội viên Hội Văn hóa cứu quốc và tham gia hoạt động Bình dân học vụ. Năm 1946 ông nhập ngũ. Năm 1948, ông làm báo Tiến bộ của Thanh Hóa. Năm 1949, làm biên tập viên báo Chiến sĩ của Phòng chính trị Liên khu 4, rồi chính trị viên đại đội. Ông có thơ đăng trên các báo Tiến bộ, Chiến sỹ, Vệ quốc quân 304. Và có thơ in trong tập Làng tôi với Chung Anh.

Sau đó ông được điều về Hội Văn nghệ Liên khu Bốn. Ở đây ông được sống với các nhà thơ tài năng như Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Trần Hữu Thung… Ông say mê đi vào con đường sáng tác văn học trong những ngày kháng chiến gian khổ. Hà Khang lặn lội vùng Bình Trị Thiên khói lửa, không ngại nắng gió miền Trung để rồi thành công với bài “Có một mùa chiêm” được chọn in ở tuyển thơ Kháng chiến. năm 1954,

Ông công tác ở Ty Văn hóa Thanh Hóa. Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hóa năm 1974, ông làm Phó Chủ tịch Hội, liên tiếp hai khóa I và II cho đến khi ông nghỉ hưu, năm 1985.

Nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang còn là Đại biểu HĐND tỉnh khóa 6 (1968-1971), khóa 8 (1974-1977) và khóa 9 (1977-1980). Ông là Hội viên Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất năm 2002.

Ông có đóng góp quan trọng cho thơ kháng chiến. Tiêu biểu là các bài Đường vào làng Đại (in trên báo Chiến sĩ năm 1946); Có một mùa chiêm (viết năm 1948 in vào Tập văn cách mạng và kháng chiến 1949), Tiệc lửa (In trong tập Đại hội tập 1949), Phước lành (1950) Cầu Hói, Tiếng chuông giáo đường

Từ năm những năm 1954-1973 ông chuyển sang sáng tác kịch bản là chủ yếu. Ông đã viết và dàn dựng 10 vở kịch, tiêu biểu là các vở: Nàng ba Châu Long, (Giải A hội diễn sân khấu Liên khu Bốn); Nghĩa quân Lam Sơn (ca kịch lịch sử 5 màn, huy chương vàng tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, năm 1962); Kiều du xuân, 1962, (cải lương); Kiều bán mình, 1962, (cải lương); Trống trận Ba Đình (ca kịch lịch sử, viết chung với Mai Bình); Từ Thức gặp tiên (cải lương); Chặng đường nên nghĩa (chèo); Lên ngọn sông Âm (chèo); Đày ra hoang đảo,(chèo)…

Nhà thơ Hà Khang làm thơ không nhiều, nhưng đã để lại dấu ấn khó phai, thậm chí rất sôi nổi, ấy là những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp. Người ta thuộc thơ Hà Khang như thuộc thơ Hữu Loan, Hồng Nguyên, Trần Hữu Thung… tức là thơ của một lực lượng sáng tác vốn từ quần chúng cách mạng mà ra, vì cách mạng mà sáng tác, mà trưởng thành. Đó là lực lượng đã góp phần quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành một nền thơ mới, một quan niệm thẩm mỹ mới cho văn học.

Cầu sông nín nhịp tre mòn / Chợ xa gió khép mưa tròn hai vai/ Thương nhau mắt ngược mày dài/ Đi xanh áo lính đã vơi trai làng- (Đường vào làng Đại-in trên báo Chiến sĩ, năm 1946)

Đường vào làng Đại có cái khéo của việc tả cảnh tả người, chọn chữ, ghép câu. Chi tiết chưa nhiều nhưng chân thật. Điều này không dễ có được của thơ những năm đầu kháng chiến. Bởi vì cái cảm hứng phổ biến của thơ lúc này là cảm hứng anh hùng, thôi thúc cổ vũ tinh thần chiến đấu. Nhưng cảm hứng anh hùng nhiều khi pha màu sắc cá nhân tiểu tư sản. Những bài thơ ở trường hợp này dễ rơi vào hình thức duy mỹ và thường phù hợp với thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp tiêu tư sản học sinh lúc bấy giờ.

Hà Khang tạo ra được cho mình một bản sắc riêng, một giọng điệu riêng cho thơ, nhất là những năm kháng chiến chống Pháp, thơ ông đã có một công chúng bạn đọc đông đảo. Nhưng nửa cuộc đời phía sau, nhà thơ Hà Khang chuyển sang viết kịch bản sân khấu. Tuy vậy, những đóng góp của ông cho thơ kháng chiến là không thể phủ nhận.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Minh Hiệu, nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang, chúng ta khẳng định những giá trị sáng tạo, những thành tựu của hai ông đối với thơ Thanh Hóa nói riêng và thơ ca cả nước nói chung. Khẳng định đóng góp quan trọng của hai ông đối với thơ ca kháng chiến. Di sản thơ ca của hai ông là niềm tự hào của thơ ca Thanh Hóa. Tên tuổi của hai ông mãi mãi trong lòng những người làm thơ xứ Thanh, mãi mãi trong lòng bạn đọc yêu thơ Thanh Hóa.

Hai ông và các thi sĩ của thế hệ các ông đã khai phá và dày công vun đắp một dòng thơ yêu nước và cách mạng. Một phong trào thơ gắn liền với vận mệnh của dân tộc, một giai đoạn hào hùng của đất nước. Một giai đoạn đã để lại những di sản lớn cho văn học nghệ thuật và văn hóa dân tộc.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Minh Hiệu, nhà thơ, nhà viết kịch Hà Khang, chân dung hai nhà thơ, tác phẩm của hai nhà thơ, di sản của hai nhà thơ một lần nữa được tôn vinh, được khắc họa và được in sâu hơn trong lòng công chúng bạn đọc cũng như trong nền văn học nước nhà.

LÂM BẰNG

 

Bài thơ Mưa Núi sáng tác Minh Hiệu

 

Mịt mù núi chặn đường mây

Gió dồn lạnh tới mưa vây giữa rừng

Nẻo đi lớp lớp trập trùng

Dốc cao mưa dựng cho rừng thêm nghiêng.

Tụt xuống, nhoài lên,

Vết bùn in khoé mắt,

Chân bám cho chặt

Còn trượt theo nhau.

“Cười lên ai cấm ai đâu

Đồng tình ra trượt dù đau cũng cười!”

Mưa hắt không thương người,

Nước tràn xuôi mái tóc.

Nước chảy dọc sống lưng

Ruột gạo trương;

Vắt cơm rã.

Mưa, mưa hối hả

Ướt cả mền, chăn.

Mưa càng tăng nghe lưng càng nặng

Ướt không cần, miễn đạn cho khô!

Khe sâu nước siết ai dò

Sẩy chân ống muối bây giờ thành canh.

Gió ào ào qua cành

Nước dồn rơi lộp độp.

Trèo chưa khỏi gộp (1)

Đã trợt mòn quần

Tay móp da nhăn.

Đôi chân rớm máu

Mặc tranh cào, gai cấu. Vẫn đi!

Đã đi là chuyện phải đi

Mưa mưa, gió gió làm chi được người.

Dù cho “Hòn Lớn mang tơi”

Hòn Hèo đội nón”, ta cười như không.(2)

Chỉ lo chóng hết thu – đông

Mãn mùa chiến dịch mà công chửa nhiều.

(Chiến dịch Trường Chinh, Khánh Hòa, tháng 12.1949)

——

1. Gộp: tảng đá lớn

2. Hòn Hèo, hòn Lớn: Tên hai núi lớn ở Khánh Hòa.

 

Bài thơ Có một mùa chiêm của Hà Khang sáng tác năm 1948

 

Rằng nghe Bình Trị Thiên

Mùa chiêm toàn lính gặt

Bữa cơm vội lên đèn

Ngờ ăn lầm máu giặc.

 

Nắng đỏ chiều sông Gianh

Sương lam xa, màu lành núi Ngự

Lúa chiêm thơm làng tê xóm nớ

Lúa chiêm thơm mát nẻo sao rừng

Những đồng chí đàng trong

Gặt xong đi đột kích

Đến sớm mai về hai vai áo rách.

 

Tôi là lính Thanh

Điểm giờ đổi canh

Trao lại bạn đủ từng thước đất!

-Đây có mùa chiêm lúa chín bồng bềnh,

Ngoài khơi súng giặc bâng quơ tiếng

Người lính Thanh

Áo phanh trên bãi biển

Quỳ hai chân bên sóng mài đại đao

Biện Sơn bọt trắng cù lao.

 

Hòn Nẹ vươn cao sóng biếc

Lắm kẻ đêm nay ưa chém giết

Như Bình Trị Thiên

Có một mùa chiêm

Tiêu diệt địch ngay trên ruộng lúa.

 

Con cháu ngày sau

Thấy đề trang sử

Có một mùa chiêm máu đọng đen ngòm

Ghê hôi tanh bò để cỏ xanh um

Đôi bóng lính thay canh trên ruộng tối

Chân vấp phải đầu lâu bên dứa dại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *