Khi cuộc chiến đi qua… – Tiểu luận của Bùi Việt Thắng

Vanvn- Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ. Nhưng với thế hệ nhà văn chống Mỹ thì dường như nó chưa chấm dứt. Những tác phẩm nào soi chiếu tường tận vào cái thời khắc vận hội, hay nói cách khác tạo những bước đi khổng lồ của lịch sử – mùa xuân năm 1975?

Trong trí nhớ của người đọc, có những cuốn sách đã ghi vào văn học sử, gợi nên biết bao nhiêu hoài niệm. Đó là những tiểu thuyết “Miền cháy” (NXB Quân đội nhân dân,1977) của Nguyễn Minh Châu, “Trong cơn gió lốc” (NXB Quân đội nhân dân,1978) của Khuất Quang Thụy, “Năm 1975 họ đã sống như thế” (NXB Quân đội nhân dân,1979) của Nguyễn Trí Huân, “Giữa cơn lốc” (NXB TP. Hồ Chí Minh,1978) của Đào Chí Hiếu, “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2014) của Trần Mai Hạnh.

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

Mỗi tác phẩm văn chương thành công đều mang một vẻ đẹp khác nhau. Có thể nói, “Miền cháy” của nhà văn Nguyễn Minh Châu là tác phẩm sớm nhất hóa giải bằng nghệ thuật một vấn đề có tính thời đại, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: bước ra khỏi cuộc chiến tranh chúng ta cũng cần có bản lĩnh cao cường như khi bắt đầu bước vào cuộc chiến bất kỳ nào. Tiểu thuyết được viết ngay sau dấu vết nóng hổi của sự kiện chiến tranh – đó là thời điểm tháng 3.1975, khi cuộc chiến đến hồi kết thúc như nó phải kết thúc. Đại đội trưởng Nghĩa (Đại đội K1) trúng đạn bắn lén của kẻ địch, hy sinh vào phút chót của chiến tranh. Chính trị viên đại đội Hiển cũng bị thương.

Kẻ bắn lén đê hèn là Phu La, Trung tá biệt động quân đội Sài Gòn. Vợ chồng Phu La thoát chết nhờ cõng đứa con nhỏ trên lưng chạy trốn. Nhưng tàn tệ hơn, chúng vứt bỏ con để thoát thân, tìm ra biển đào tẩu, người vợ bị tàn quân địch hãm hại. Phu La phải quay lại bờ, định trốn tránh nhưng cuối cùng phải ra đầu thú, trình diện dưới một cái tên khác (sau đó tiếp tục trốn trại).

Bé Sinh, con trai của Phu La được các chiến sĩ quân Giải phóng cưu mang. Phu La trốn trại không thành, bị bắt trở lại, được Hiển bố trí cho hai bố con gặp nhau. Mẹ Êm nhận nuôi bé Sinh, theo lời Hiển là đứa bé bị lạc cha mẹ. Cuối cùng thì anh cũng phải nói sự thật với mẹ Êm: Bé Sinh là con trai Phu La, kẻ đã bắn chết Nghĩa – đứa con bà đứt ruột đẻ ra.

Bà mẹ cắn răng nuốt đau khổ, chăm sóc bé Sinh. Kết thúc tác phẩm là cảnh gặp mặt giữa mẹ Êm, Phu La và Sinh, con trai hắn. Cuộc gặp lịch sử diễn ra trên cánh đồng Chân Mây còn ngổn ngang hố bom, còn rền vang tiếng mìn nổ. Đó là một bi kịch lạc quan trong ý nghĩa đầy đủ nhất của nó. Hình ảnh bà mẹ Êm lồng lộng giữa một không gian còn khét mùi thuốc súng biểu trưng cho truyền thống “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của  dân tộc Việt Nam.

Nếu “Miền cháy” của Nguyễn Minh Châu đặt vấn đề nhân tâm thời đại trong thời khắc chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình thể hiện tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc như một truyền thống văn hóa Việt Nam thì “Năm 1975 họ đã sống như thế” của Nguyễn Trí Huân và “Trong cơn gió lốc” của Khuất Quang Thụy đem lại cho người đọc cảm hứng hào sảng của chiến thắng lịch sử mùa Xuân1975. Là người lính chiến thực thụ cầm bút viết văn nên tác phẩm của Khuất Quang Thụy có cái tươi nguyên của chất sống. Nhà văn bám chặt vào một đợn vị cấp trung đội (được mệnh danh là trung đội Gió lốc do Mánh làm trung đội trưởng).

Trung đội Gió lốc hành quân chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn 6 tham gia chiến dịch Tây Nguyên với hướng chính diện là Buôn Ma Thuột. Những trận giao tranh nảy lửa, những hy sinh vô bờ bến của bộ đội, trong đó có trung đội Gió lốc được tác giả tái hiện với tâm thế của người trong cuộc chiến. Tiểu thuyết có cái bộn bề, ngổn ngang của sự kiện và con người, nhưng đọc kỹ lại thấy nó được tổ chức chặt chẽ. “Trong cơn gió lốc”, có thể nói, là một khởi đầu thành công của Khất Quang Thụy trong đề tài về chiến tranh và người lính về sau.

Tiểu thuyết “Năm 1975 họ đã sống như thế”- Nguyễn Trí Huân

Nguyễn Trí Huân đã dựng lại “thời tôi mặc áo lính” qua tiểu thuyết đậm chất sử thi “Năm 1975 họ đã sống như thế”. Bối cảnh tiểu thuyết đầu 1975 khi quân ta chuẩn bị tích cực bước vào cuộc tổng tiến công mùa Xuân lịch sử. Không gian chiến tranh được mở rộng từ chiến trường Trung Bộ, qua Phan Rang, tới Vũng Tàu, Côn Đảo… Đó là cái toàn cảnh của tiểu thuyết với những sự kiện lịch sử trung thực. Nhưng con người trong chiến tranh mới là cái đích nhà văn nhắm tới.

Đó là những Thiết, Mạc, Nhã, Phác, Thức, Nhã, Thư, Phước… mỗi người một vẻ, một tâm trạng, số phận riêng tư nhưng chung nhau ở ý chí chiến đấu, ở tình đồng đội cao cả, ở những ứng xử quả cảm và thông minh trong chiến tranh, dù họ là quân nhân hay dân thường. “Năm 1975 họ đã sống như thế” tuy viết về chiến tranh nhưng lại nói về cách sống, vì thế đã sớm tiếp cận và thể hiện một vấn đề quan trọng của sáng tác văn chương – vấn đề nhân cách.

Tiểu thuyết “Giữa cơn lốc” của  Đào Chí Hiếu lại có cách đưa chiến tranh “gõ cửa” từng nhà, chạm đến từng số phận cá nhân trong cơn bão lịch sử. Cái nền rộng vẫn là quãng thời gian đầu năm 1975, không khí đời sống xã hội nóng bỏng của cuộc chiến, trên dải đất miền Trung. “Giữa cơn lốc” là câu chuyện về một gia đình (ông Phan Nhân) bị hoàn cảnh xô đẩy, chia rẽ. Ông Nhân có ba con trai đầu (Trọng, Duy, Hữu) đều bằng nhiều con đường tham gia hoạt động cách mạng. Chỉ riêng Cang (con trai út) lại rẽ sang dường khác trở nên “thanh niên trụy lạc”. Cô con gái rượu (Tú), có nhan sắc, làm trong  sở Mỹ, thành vợ hờ của một sĩ quan ngoại bang.

Biến cố lịch sử mùa Xuân 1975 rúng động toàn bộ đời sống xã hội miền Nam. Cô Tú ôm con nhỏ cùng em trai Cang chạy từ miền Trung vào miền Nam. Nhưng cuối cùng cả hai chị em buộc phải dừng chân tại Cam Ranh vì loạn lạc… Tác phẩm kết thúc “có hậu” theo truyền thống tâm lý và đạo lý Việt Nam: Người con trai cả Phan Trọng (tập kết ra Bắc 20 năm trước) trở về trong ngày vui chiến thắng, đoàn tụ gia đình.

Nếu bốn tác phẩm vừa kể trên có nét tương đồng, thì “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của Trần Mai Hạnh được xác định là “tiểu thuyết tư liệu”. Bối cảnh tiểu thuyết miêu tả là khoảng thời gian mùa Xuân1975. Mười chín chương tiểu thuyết dẫn người đọc lần lượt tiếp xúc với “Lễ Giáng sinh cuối cùng”, “Nước cờ định mệnh”….đến “Phút tắt thở của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và chính thể Việt Nam Cộng hòa”.

Tác phẩm ngồn ngộn tư liệu sống, trung thành từ nhiều nguồn đáng tin cậy đã vẽ lại quá trình thảm bại của một chính quyền, theo cách diễn đạt của Nguyễn Minh Châu, là: “Một chế độ sụp đổ bởi sức mạnh của súng đạn đè lên nó, thì cái quần láng của những người đàn bà với kiểu may và loại vải do chế độ đó đẻ ra cũng trở nên nhếch nhác, bẩn thỉu” (Di cảo Nguyễn Minh Châu, NXB Hà Nội, 2009, tr. 262).

Văn chương, đặc biệt là tiểu thuyết, có khả năng lưu giữ hình ảnh của lịch sử. Những bài học lịch sử từ văn chương thường có sức sống lâu bền, kích thích cảm hứng, mời gọi suy nghĩ, gieo cật vấn ở mỗi người trong cuộc đấu tranh hoành thiện nhân cách. Văn chương giúp bảo lưu những ký ức lương thiện, nhắc nhở thế hệ trẻ không được phép lãng quên quá khứ bi hùng của dân tộc.

BÙI VIỆT THẮNG

Báo Lao Động 4.2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.