Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 5

Vanvn- Quê nội ông ở cùng làng với nhà văn Chín còn quê ngoại ở bên kia sông. Cả hai làng đều nằm ở ven rừng, thưa dân, cuộc sống nghèo nàn. Cha ông ngày ấy làm kiểm lâm, thường xa nhà nên mẹ ông phải đưa con về ngoại vừa buôn bán kiếm sống vừa nhờ ngoại chăm nuôi cháu. Lớn lên, chú bé Hai mới được theo cha vô rừng. Những ngày ở rừng thật là tự do, sung sướng. Cha là người có vai vế ở đây nên cậu Hai cũng được chiều chuộng hoặc ít ra không bị ai ăn hiếp. Hồi ấy ông nào biết đó chính là quê hương sáng tác của mình sau này. Ông viết truyện đường rừng cứ như kể chuyện quen thuộc trong nhà mình.

Nhà văn Khôi Vũ

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 4

>> Tiếng nói trí tuệ, tài hoa của nhà văn Lý Văn Sâm

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 3

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 3

>> Nhân vật anh hùng đa diện trong tiểu thuyết “Trên mảnh đất này”

>> Vén sương, nhìn núi

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 2

>> Chùm thơ Nguyễn Đức Phước

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 2

>> Chuyện nhỏ bên hồ tràm – Truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp

13

Không ngờ cả hai việc đều gặp trục trặc vào phút quyết định khiến cả ông và nhà văn Chín cùng phải “xuất tướng”. Trước đó, mọi người đã đồng ý để nhà thơ Ngô ra Đặc khu, song song đó, cử cậu “trong này” làm thư ký tòa soạn báo, tập việc phu giúp Tổng biên tập một tay.

Trước đó, khi tỉnh xây dựng xong khu cư xá đầu tiên dành cho cán bộ, công chức các cơ quan đóng tại tỉnh lỵ với những tiêu chuẩn ưu tiên được mua. Hội Văn Nghệ được dành một suất. Những người trong văn phòng họp lại, nhất trí ưu tiên cho vợ chồng nhà thơ Ngô. Các thủ tục được tiến hành, kể cả việc “mời” người phụ trách phân phối nhà tới phòng riêng của nhà thơ Ngô nhâm nhi ly rượu và gắp vài ba gắp nem nắm, gọi là để cảm ơn theo nghĩa thân tình nhất. Tin từ Đặc khu nhắn về, ngoài ấy đã chấp thuận nhận nhà thơ Ngô. Vậy là việc mua nhà cư xá tạm dừng lại trong nội bộ, mọi người lại họp bàn chuyển suất nhà cho người được ưu tiên thứ nhì…

Ngoài Đặc khu, việc thành lập Hội Văn Nghệ đang trong bước đầu tiến hành có vẻ thuận lợi. Đột nhiên có tin việc này phải tạm dừng. Lý do là từ Hà Nội, một số tin đồn không hay về nhà thơ Ngô đã “bay” về đây khi việc ông về đây lập Hội truyền ra thủ đô, nơi ông từng là Phó giám đốc một Nhà xuất bản.

“Phó tướng” mời ông về hội ý.

– Tình hình này thì chắc là anh Hai phải đích thân ra tay mới xong…

– Tôi hiểu ý anh Chín rồi. Lãnh đạo cao nhất ngoài đó vốn là bạn thân của tôi hồi hoạt động ở trong rừng. Tôi sẽ gặp ảnh để bảo lãnh cho Ngô – Ông tặc lưỡi – Không ngờ chuyện cũ, mà cũng chỉ là những đồn đoán lại đeo đuổi giả tới vậy…

Nhà văn Chín cười xỏa:

– Mà cũng do anh Hai có số “bảo lãnh” cho người khác nên mới thế…

Ông cười xòa:

– Hổng phải tâm linh đâu nha. Nhưng đúng là như thế. Lần trước tui bảo lãnh cho cậu “trong này”, giờ lại phải đi bảo lãnh cho ông “ngoài kia”…

Văn phòng Hội điều chiếc xe “con cóc” màu cam chở ông đi công tác xa sau khi đã đón ông ở thành phố về, bàn bạc và lường trước mọi tình huống có thể xảy ra. Nhà thơ Ngô gửi gắm hy vọng vào ông. Ông hứa sẽ hết mình thuyết phục lãnh đạo Đặc khu. Đêm ấy, ông lại ngủ tại văn phòng Hội thay vì nghỉ ở nhà khách tỉnh.

Cậu lái xe chải tóc bóng mượt đến văn phòng sớm, từ trước sáu giờ, gõ cửa đánh thức ông dậy. Nhưng ông đã thức, đang ngồi uống trà một mình.

– Thưa chú Hai, mình phải đi sớm để chú kịp làm việc trong buổi sáng. Xong việc, nếu thuận buồm xuôi gió, tui sẽ đưa chú Hai về thẳng Thành phố 1uôn… Chú Chín dặn vậy.

Ông ngồi ở băng ghế sau, ngắm cảnh đường phố sáng sớm còn thưa xe qua lại. Đã hơn mười năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, cả nước vẫn còn muôn vàn khó khăn về mọi mặt. Trên đường thỉnh thoảng vẫn gặp một chiếc xe than với cái thùng than gắn ở đuôi xe bắn ra những tia lửa than sáng lóa. Xe cộ thưa thớt nên ít nghe tiếng còi, cứ như những chiếc xe lầm lũi chạy trong sự chịu đựng, ngậm ngùi… Quãng đường dài hơn trăm cây số, từ khi từ giã rừng về phố, đến nay ông chỉ mới đi qua đến lần thứ ba, vẫn còn những khoảng đất trống bỏ hoang, còn ít ruộng vườn. Nhà cửa hai bên đường lưa thưa, chỉ tụ tập thành làng phố ở gần khu thị trấn. Tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được khai thác hết vì chưa có chính sách phù hợp. Tiếc quá…

– Chú Hai ơi! Nếu chú xong việc sớm thì mình có đi tìm ông gì đó trong hẻm đường Ba Cu không hả chú?

– Ờ… ông Tám Lành. Có! Có chớ! Tốt nhứt là đầu giờ chiều…

– Tôi đoán rằng chú sẽ được lãnh đạo Đặc khu mời cơm trưa…

– Tôi sẽ từ chối. Mình ra quán làm tô mì hay hủ tiếu cho gon mà khỏi phiền người ta. Đây là mình đi nhờ cậy người ta mà. Không quà cáp người ta thì thôi, chớ ai lại làm phiền tới cả bữa cơm…

– Vậy chú Hai yên tâm. Tui có quen một quán mì ngay trên đường Ba Cu… Ăn cũng ngon miệng lắm. Quán mì của người Hoa chính gốc đó…

***

Thật không dễ dàng gì để thuyết phục lãnh đạo Đặc khu. Ông đã khấp khởi mừng khi nghe vị lãnh đạo này nhắc đến những chuyện ngày trước trong rừng giữa hai người. Nhưng khi thấy ông ta nhíu mày về chuyện thành lập Hội Văn Nghệ địa phương, ông hết sức lo. Ông mạnh miệng bảo lãnh về mặt chính trị cho nhà thơ Ngô, còn đề xuất Đặc khu cử thêm một cán bộ tin cậy qua phụ tá Chủ tịch Hội. May quá, vị lãnh đạo nói:

– Giải pháp hay. Chỗ tôi có một cán bộ nữ là thương binh lại từng làm thơ ngay khi ở trong tù. Nói thiệt, anh Ngô là người có tài, không phải tụi tôi không tin tưởng nhưng vẫn phải đối phó với dư luận. Mình còn phải giải trình với cấp trên nữa chớ đâu phải muốn làm gì thì làm. Vậy là ổn rồi, có lời bảo lãnh của anh Hai và có cán bộ tăng cường, coi như một kèm một, tôi sẽ cho tiến hành…

Đúng như lời câu lái xe tiên đoán, ông được mời cơm trưa và ông đã lịch sự từ chối. Trong lòng ông rất vui và niềm vui thừa sức để thay thế một bữa tiệc.

Qua khỏi cổng Ủy ban Đặc khu, cậu lái xe hỏi:

– Vây giờ mình đi tìm nhà chú Tám Lành hay đi ăn mì trước? Cũng mười một giờ trưa rồi…

– Chưa ăn, cũng chưa đi kiếm nhà Tám Lành. Cậu kiếm chỗ nào có trạm điện thoại cho tôi gọi về báo tin mừng cho hai ông Chín, ông Ngô cùng biết cái đã…

– Dạ! Tôi biết rồi!

Khi điện thoại đươc nối, ông nghe tiếng cậu “văn thư”. Ông hỏi:

– Chú Chín còn ở văn phòng không hả cháu?

– Dạ còn chú Hai.

– Nói chú Chín tới nghe điện thoại của chú Hai liền.

Ít giây sau ông đã nghe tiếng của “phó tướng”:

– Tôi đây anh Hai…

– Tôi nói luôn, ngắn gọn thôi: Thành công rồi! Báo cho Ngô để giả mừng…

Ông cúp máy, không để “phó tướng” nói gì. Cái tính lí lắc của ông đã có từ nhỏ, không bỏ được. Ông hình dung ra nhà văn Chín ngẩn ngơ trước cú cúp điện thoại bất ngờ của ông, rồi chợt trở lại thực tế, gọi nhà thơ Ngô để báo tin vui. Để xem… thế nào trưa nay hai giả cũng ngồi cụng ly với nhau ăn mừng…

Cậu lái xe đi vòng vòng tìm nhà ông Tám Lành trong một con hẻm có hai lần “suyệc”. Nhà cấp bốn, tường gạch, lợp tôn, nằm sau một khu vườn nhỏ trồng mấy cây ăn trái. Con đường nhỏ từ cổng vào nhà được trải đá vụn xanh, ngoằn ngoèo. Tấm biển nhỏ treo trước cổng ghi đúng số nhà của Tám Lành mà ông cẩn thận chép trong cuốn sổ tay nhỏ xíu lúc nào cũng bỏ trong túi áo ngực.

– Nhà không có chuông – Cậu lái xe nhìn ngó hai cái cột cổng bằng gỗ – Để tui gọi nha chú Hai…

Rồi cậu ta lớn tiếng:

– Chú Tám có nhà không? Có khách xa tới kiếm nè…

Từ trong nhà có tiếng người trả lời vọng ra, giọng đàn ông mà nghe trong như của phụ nữ:

– Ai đó? Tui ra ngay đây…

Cửa mở. Từ trong nhà bước ra một ông già mặc áo thun ba lỗ, quần cộc, tay chống gậy, chân phải khẳng khiu đi khập khiễng, mắt cố nhướng nhìn ra cổng. Tuy vậy, phải tới cách cánh cổng chừng hai mét, ông già mới reo lên:

– Trời đất thiên địa ơi! Hai! Coi mày bảnh bao dữ đa…

Hai ông già ôm lấy nhau một lúc như không muốn rời. Ông Tám Lành buông cây gậy cho nằm chỏng chơ dưới dất. Cậu lái xe vội cúi xuống nhặt, chờ đưa lại cho chủ nhà khi chủ – khách qua cơn xúc động.

Khi ông Tám Lành nhận lại cây gậy, ông này cười cười nói với cậu lái xe:

– Hồi ở trong rừng, tao là gạc-đờ-co cho ông Hai đó chú em.

Khách nói tiếp:

– Hồi đó, Tám Lành vì cứu chú mà bị đạn bắn trúng chân rồi thành thương binh đó.

– Thôi đi vô nhà uống trà nói chuyện… Mà thầy trò mày chưa cơm nước gì phải không? Chút xíu nữa con dâu tao đi dạy học về, tao nói nó nấu cơm cho ăn… Thằng con tao bữa nay đi công tác thành phố rồi, chắc tới tối nó mới về.

Chỉ có nước trà nguội, ba cái ly thì hai kiểu khác nhau. Cậu lái xe tế nhị cầm ly nước của mình ra hiên ngồi nơi cái ghế xích đu cũ để hai ông bạn già được tự nhiên.

Lúc này ông mới có dịp nhìn kỹ người bạn. Khuôn mặt xương xương vẫn như ngày nào, khác là hai khóe mắt đầy nếp chân chim. Cái miệng ngồ ngộ, lúc nào cũng như cười toát ra vẻ hồn nhiên, vô tư trước mọi tình huống, hoàn cảnh. Ở trong rừng, Tám Lành là cấp dưới của ông, có nhiệm vụ cùng mấy người nữa trong tổ, bảo vệ ông và các lãnh đạo khác của cơ quan. Từ khi hai người nhận ra mình là đồng hương ở xứ ruộng mía, lò đường cạnh xứ bưởi, thì họ trở nên thân thiết. Tám Lành nhỏ hơn ông hai tuổi vẫn cứ “mày, tao” với ông và ông cũng vậy.

Chủ nhà kể:

– Đâu hồi năm tám mươi, thằng con trai tao chuyển xuống đây công tác, tao phải đu theo nó chớ ở quê thì tao ở với ai? Rồi nó cưới vợ ở đây, mới kiếm được căn nhà này để ở. Từ cái bữa nó tình cờ gặp mày ở thành phố, cho mày địa chỉ nhà, tao cứ mong chờ hoài. Nói thiệt, tao sợ mày làm lớn, quên thằng lính chí cốt trong rừng ngày xưa rồi…

Ông chỉ nói thầm trong đầu: “Sao tao quên được những ngày gian lạo chiến đấu trong rừng. Tao còn nợ cái chân bị thương của mày nữa kia mà… Chẳng qua không có dịp, cũng chẳng thể tự đi tìm bạn mà nên nỗi…”.

Chuyện giữa hai người bạn vẫn đang hào hứng thì cô con dâu của Tám Lành đi dạy học về. Nghe giới thiệu, cô giáo bật thốt lên: “Vậy là con đã được gặp chú Hai bằng xương bằng thịt rồi! Không ngờ chú Hai tạng người nhỏ nhắn thế này mà tâm hồn và ngòi bút thì dũng mãnh quá chừng!”. Ông Tám Lành cười hà hà: “Chớ có xem mặt mà bắt hình dong!”. Rồi ông cha chồng bảo cô con dâu nấu cơm mời khách.

Ông gạt ngang:

– Thôi khỏi đi cháu. Trưa nay, bác Hai mời cả nhà đi ăn mì ngoài đường Ba Cu. Nghe nói ở đó họ nấu mì ngon lắm phải không cháu?

Tám Lành gật gù:

– Vậy đi con! Ba thường kể bác Hai thích ăn mì, bữa nay chính con nghe rồi đó nha! Mà con có nhớ cái vụ tìm miếng tóp mỡ trong tô mì không?

– Dạ, con nhớ chứ! Bác Hai nói ăn hết mì sợi và thịt heo rồi, phải tìm cho được một hai miếng tóp mỡ nhỏ xíu lẫn trong nước lèo mà nhấm nháp mới thấy hết thú vị của việc ăn mì…

Ông nói như reo:

– Đúng vậy! Mà sao mày nhớ dữ vậy Tám Lành?

– Hà hà… mày quên là tao đã tôn mày làm sư phụ nên chuyện gì mày nói tao cũng ráng “học” cho nhớ!

Ông chợt nghĩ đến người bạn mù ở phố Cây Chàm rồi tự hẹn: “Để coi bữa nào minh về họp hành, tới mời rồi dẫn  giả qua bên bia đường ăn tô mì chớ!”.

Chiến tranh kết thúc đã hơn mười năm. Vậy mà đến tận bây giờ ông mới có được cơ hội sống lại những ngày giờ xa xưa thân ái cùng bạn bè cũ…

Ông Tám Lành chợt cười ngỏn nghẻn như cô dâu mới về nhà chồng, tay gãi đầu nói với ông:

– Nè Hai! Có điều này tao muốn nói mà thấy kỳ quá… Thôi tao nói đại cho rồi. Mày là nhà văn giỏi, vậy mày có thể viết một cái truyện có tao trong đó được không?

Ông cười hà hà:

– Được ! Tao sẽ viết.

– Hay quá xá! Vậy là sẽ có nhiều người biết tao là ai rồi…

***

Bên Tổ chức Chính quyền đã trả lời rằng họ không đủ thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm Thư ký tòa soạn [1] cho cậu “trong này” theo đề nghị của nhà văn Chín, Tổng biên tập. Họ đề nghị xin ý kiến của chủ tịch tỉnh xem sao. Lãnh đạo Hội phải phân công nhà văn Chín đăng ký gặp chủ tịch tỉnh để trình bày. Có một chút thuận lợi là trong kháng chiến, “phó tướng” của ông từng là thầy dạy chủ tịch tỉnh bây giờ. Ông nghe “phó tướng’ kể về buổi gặp:

– Mới ngồi xuống uống trà, giả đã nói ngay: “Anh cử cậu này một chức gì nho nhỏ thì được, chớ chức “Thư ký” lớn qua! Anh coi đó, bên nhà văn các anh, ông Nguyễn Đình Thi làm Thư ký quyền hành lớn lắm…”. Tôi nghe là biêt ngay có sự hiểu lầm ở đây. Tôi giải thích rằng “Ông Nguyễn Đình Thi lãnh chức Tổng thư ký của Hội Nhà văn cả nước chớ không phải làm Thư ký, thì đúng là lớn lắm. Còn cái chức Thư ký toà soạn không phải như vậy, đó chỉ là một chức vụ phụ tá cho Tổng biên tập trong việc làm báo ở địa phương thôi”. “Chớ không phải là Thư ký của Hội à?”. “Hội có Chủ tịch là anh Hai nhà văn, có hai Phó chủ tịch là tôi và một anh nữa rồi. Cậu này chỉ giúp tôi giải quyết việc bếp núc của tờ báo thôi”. Chủ tịch tỉnh hiểu ra, liền nói: “Vậy thì em sẽ ký quyết định. Nhưng dù sao anh Chín cũng phải bảo lãnh về mặt chính trị cho cậu ta, em mới yên lòng”. Tôi gật đầu lia lịa: “Được! Được! Nếu cần văn bản thì sẽ có văn bản cho việc này”. Giả cười cười: “Nói vậy thôi chớ không cần tới mức như vậy đâu”.

Ông nghe chuyện, trong lòng như gỡ được hẳn những lo lắng để trở về với những hứng khởi của công việc một người gầy dựng phong trào sáng tác cho địa phương. Đã có một người trẻ được chấp nhận cho tập tành thay thế nhân sự thế hệ trươc, ắt sẽ có thêm người khác, người khác nữa… Và đến khi ấy thì ông yên tâm mà rút hẳn về với cái gia đình nhỏ của mình, về với những trang viết.

Ông còn nợ quê hương mình nhiều lắm…

Nhà văn Khôi Vũ cùng bạn văn cà phê vỉa hè Biên Hòa – Đồng Nai 10.2022

14

Dàn “đệ tử” của ông và nhà văn Chín làm việc khá đều tay và hòa thuận. Việc ganh đua duy nhất giữa họ là việc sáng tác. Mấy cây bút như cậu “bộ dội”, cậu “giáo Huyện”, cậu “giáo trẻ”, cậu “trong này”… đều có truyện hay thơ in trên báo văn nghệ trung ương, văn nghệ Thành phố, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên…

Có cây bút nọ vốn là nhà giáo, đứng tuổi, tỏ ra chưa chấp nhận nhóm cây bút trẻ ở văn phòng Hội, góp ý với Tổng biên tập báo: “Các anh không nên nuông chiều họ mà ưu tiên đăng bài”. Nhà văn Chín bực mình lắm nhưng vẫn thản nhiên cười nhạt nói: “Họ có bài đăng khắp các báo ngoài tỉnh chứ đâu chỉ ở báo ta. Họ xứng đáng mà! Ít nhất là họ cũng hơn những hội viên chỉ quanh quẩn xuất hiện ở địa phương mình”. Ông nghe kể, nghĩ ngay đến tính đố kỵ vốn có sẵn trong văn nghệ sĩ, sẵn sàng bộc lộ mỗi khi có thể. Chẳng cần có gì mâu thuẫn, chỉ thấy người khác hơn mình là khó chịu. là nghĩ xấu về họ ngay. Văn nghệ sĩ, nhất là với người cầm bút mà dố kỵ thì chẳng thể đi đường dài, chẳng thể là cây bút lớn được! Cần phải tế nhị mà nhắc nhở anh em…

Trong một buổi họp tổng kết năm, trước anh em hội viên, với tư cách Chủ tịch Hội, ông nói: “Tôi khuyến khích các anh chị em viết bài, đăng bài ở các báo trung ương, Thành phố… Dù thế nào thì họ cũng là những cái thước đo năng lực khách quan và đáng tin cậy cho chúng ta. Không nên quanh quẩn ở địa phương rồi ngộ nhận là mình có tài năng…”.

Cậu “giáo Huyện” đã đạt được ước mơ là người thứ nhì, sau cậu “trong này” được nhà xuất bản tỉnh in cho một tập truyện ký, được dư luận khen ngợi. Vậy là địa phương đã có hai tác giả trẻ có sách in riêng. Ông nói với nhà văn Chín: “Đây cũng là hai ứng cử viên tiềm năng nhứt cho mục tiêu trở thành hội viên Hội Nhà văn của tỉnh mình! Hy vọng họ không làm cho anh em tụi mình phải thất vọng, anh Chín à. Trước mắt, hãy động viên họ viết và in thêm cuốn sách nữa cho đủ điều kiện xin kết nạp, rồi tụi mình sẽ ký giới thiệu. Mà sách phải đạt yêu cầu về chất lượng thì mình mới ký. ”.

Không nói ra mà ông và nhà văn Chín cùng tự nhận mỗi người một nhiệm vụ chính trong Hội: Ông theo dõi và động viên cho những người trẻ có triển vọng đi xa, còn nhà văn Chín với tờ báo trong tay chăm lo cho những hạt nhân phong trào.

Nhà văn Chín là người mát tay với việc làm báo văn nghệ địa phương. Tờ báo ra hàng tháng, từ vài trăm bản lên đến một ngàn, rồi cao điểm tới ba ngàn bản một kỳ.
“Bộ sậu” biên tập có người lo văn xuôi, người lo thơ, dịch thuật, mỹ thuật; họ kiêm luôn việc tổ chức các hoạt động chuyên môn như tọa đàm tác phẩm, tổ chức đi thực tế trong tỉnh… Nhiều lần họ “họp” ngay quán cà phê hàng xóm bàn luận về chuyên môn rất sôi nổi. Cũng đôi khi họ bất dồng ý kiến về việc gì đó, cãi cọ nhau và nhờ Tổng biên tập giải quyết. Rồi thì lại vui vẻ hợp tác, giúp nhau trong công việc.

Một hôm ông nhớ tới cô gái đồng hương làm thơ Hồng Đức. Hỏi thì “phó tướng” cho biết:

– Cô bé này ra trường đi dạy học rồi. Mà là dạy tiếng Anh. Anh Hai nghe có bất ngờ không? Thỉnh thoảng mới gửi một bài thơ cho báo, còn thì tham gia ban dịch thuật, giúp mảng này phong phú hẳn lên… Có lần tôi nhận được bài thơ của Hồng Đức viết thẳng bằng tiếng Anh với bản tự dịch. Nhưng cái vụ thơ tiếng Anh này, nói thiệt lòng là tôi chưa dám cho in báo…

– Ừ… Cũng nên cẩn thận. Dù rằng thế nào rồi cũng sẽ đến lúc ấy…

Để có nguồn bài vở chất lượng cho báo, Tổng biên tập – nhà văn Chín – cho tổ chức những buổi tọa đàm về bản thảo mới của các hội viên và cộng tác viên. Người nào được chọn, ông cho đánh máy bản thảo thành nhiều bản, đưa cho vài người khác đọc trước để góp ý trong buổi tọa đàm. Có khen, có chê chân tình, cũng có chê sai và ông phải nói thêm. Sau đó, bản thảo được tác giả lấy về sửa chữa, tự nâng chất lượng lên một mức và là cơ sở để biên tập chọn đăng báo. Một tác giả trẻ ở huyện xa có sáng tác được đưa ra tọa đàm, tâm sự vói ông: “Cháu hết sức tự hào khi được chú Chín thông báo. Nhưng lúc ngồi dự tọa đàm, cháu mới run, cứ lo không biết mình có chịu nổi những ý kiến phê bình chê bai hay không? May quá, mấy ý được góp đã giúp cháu thấy được khuyết điểm của mình…”. Cũng có hội viên thú thật với ông là mình được chọn ra tọa đàm nhưng không dám nhận lời vì… sơ! Ông động viên: “Phải bản lĩnh với trang viết của mình chớ! Mà ý kiến đóng góp của anh em cũng mới là ý kiến của bạn đọc chớ đâu đã là đánh giá cuối cùng…”.

Với tư cách chủ tịch Hội, thỉnh thoảng ông cũng tham dự một buổi tọa đàm, rất thích thú nghe các hội viên góp ý với nhau chân tình tuy rằng đôi khi… chưa đúng. Lúc này mới thấy vai trò quan trọng của Tổng biên tập, người chủ trì buổi tọa đàm. Chính ông, một đôi lần cũng tham gia ý kiến…

Dàn “đệ tử” của Tổng biên tập Chín hầu như ai cũng háo hức mong được chọn ra tọa đàm, nhưng họ không được ưu tiên như các hội viên bên ngoài văn phòng. Họ cũng được dặn rằng nghe là chính, để rút kinh nghiệm cho việc biên tập vì ý kiến của họ dễ bị hiểu lầm. Ông góp ý: “Các cháu là những cây bút chủ lực. Việc của các cháu là đi thực tế các nơi trong tỉnh để tạo cho mình một vốn sống sâu rộng, vừa phục vụ cho việc sáng tác cá nhân, vừa có lợi trong biên tập”.

Sau này, ông được nghe kể về nhiều chuyến đi thực tế của các “đệ tử”. Nhiều chuyến đi tuy đã chuẩn bị kỹ nhưng vẫn gặp trục trặc, phải tìm cách giải quyết tại chỗ. Nhiều kỷ niệm của mỗi người được kê với tình cảm vui buồn, hài lòng hay nuối tiếc…

***

Hôm nọ, ông nhận được điện thoại của nhà văn Chín gọi cho mình lúc ông đang ngồi đọc báo ở nhà:

– Có tin vui anh Hai ạ. Nhà Tác phẩm mới nhận in cuốn tiểu thuyết mới cho cậu “trong này”.

– Có thật không? Nào giờ Tác phẩm mới chỉ in sách cho hội viên Nhà văn, đâu có in cho người ngoài Hội.

– Thật mà anh Hai. Đích thân giám đốc Tác phẩm mới gọi điện cho tôi báo tin. Hóa ra cậu Thư ký tòa soạn của tôi cũng đáo để lắm. Sau cuốn thứ nhất thất bại, cậu ta đã viết cuốn truyện vừa, tôi giới thiệu qua nhà xuất bản địa phương in. Nhưng có lẽ còn “cay” với tiểu thuyết nên cậu ta đã âm thầm viết cuốn thứ ba rồi “liều mạng” gửi ra Hà Nội mà không cho mình biết. May mà gặp đợt cải tiến mở rộng của nhà xuất bản. Lần này ngoài cuốn của người nhà mình, còn một cuốn của một cây bút trẻ ở miền Tây cũng được in. Tôi mừng quá anh Hai à…

– Thì tôi cũng mừng chớ! Thấy đám trẻ viết lên tay, mình không mừng mới lạ! À, mà cậu ta viết gì trong cuốn tiểu thuyết mới của mình?

– Viết về một nhân vật thời trước bảy lăm ở miền Nam anh ạ. Tôi chưa được đọc bản thảo nhưng tin là phải có chất lượng khá thì ngoài Hà Nội người ta mới chọn in. Vả lại, người “trong này” viết chuyện “trong này” thì trúng đài rồi…

– Vậy anh bố trí xe đưa tôi về tỉnh. Tôi phải trực tiếp gặp cậu “trong này” để có lời động viên…

Chiếc xe “con cóc” lên đón ông ngay ngày hôm sau. Cậu lái xe đầu tóc luôn chải mượt trước khi “đề” máy, quay lại hỏi ông câu hỏi quen thuộc: “Chú Hai có đem theo bột lứt Bích Chi không đó?”. Ông cười xòa: “Có! Có đây! Thím Hai, bả bỏ vô cặp chú tới chục gói lận”.

Đường từ nhà ông về tỉnh dài hơn ba mươi cây số, có đường Xa lộ rộng rãi, đi nhanh hơn, nhưng ông bảo cậu lái xe cứ chạy đường quốc lộ 1 quen thuộc. Cậu lái xe cũng ưng chạy đường này vì có dịp hỏi ông nhiều chuyện “ngày xưa” và những chuyện đáng “tò mò” khác.

– Sao người ta lại đặt tên là Thủ Đức, Dĩ An? Chú Hai có biết không?

– Thiệt ra mấy cái địa danh ở nước mình chớ không phải chỉ ở doạn đường này thường có nhiều cách giải thích khác nhau. Có người nói Thủ Đức có chữ Thủ nghĩa là đầu, còn Dĩ An vốn là Vĩ An viết sai mà thành. Trong đó Vĩ nghĩa là đuôi! Nhưng nhiều người khác thì giải thích bài bản hơn. Rằng ở khu vực này ngày trước do một ông người Hoa xây dựng nên, ông này có hiệu là Thủ Đức nên người dân gọi tên vùng là Thủ Đức. Tên Dĩ An thì không nghe giải thích…

– Vậy ngã ba Cây Lơn thì có phải là tại đó có cây Lơn không hả chú Hai?

– Làm gì có loại cây nào là cây Lơn. Chẳng là hồi trào Pháp ở đây có cái đồn do ông Cai Lơn chỉ huy. Người ta gọi ngã ba nơi đóng đồn la Ngã ba Cai Lơn. Viết sai thành ra Cây Lơn…

– Vậy dốc chú Hỏa có dính dáng gì tới một người tên là Hỏa không?

– Có! Chú Hỏa là tên một người Hoa. Phía trái kia là khu mộ của người trong dòng họ chú Hỏa nên con dốc này mới gọi là “dốc chú Hỏa”. Còn bên tay mặt thì là núi Châu Thới. Ở đây là quê của một bà hoàng triều Nguyễn tên là Chiêu Thái được gọi chệch thành Châu Thới.  Núi này còn có tên là Cố Phi San vì hồi người Pháp mới qua, họ cho trồng thử cà phê ở đây nhưng thất bại.Tên  Cô Phi San thì San là Sơn, là núi, còn Cố Phi là cà phê đó!

Cậu lái xe tấm tắc:

– Chú Hai vô rừng bao nhiêu năm mà vẫn nhớ được nhiều chuyện ngoài này. Chú mà viết về cái kho chuyện này thì biết tới bao giờ mới hết…

– Đúng vậy… Nhưng tiếc là chú Hai lại không thể tập trung cho việc viết văn trong thời gian này. Nói mới nhớ, mới phục “ông Chín”. Phải đảm đương bao nhiêu việc ở Hội, ở báo, mà giả vẫn viết miệt mài, hết cuốn sách này tới cuốn sách khác…

– Vậy mấy anh trẻ ở Hội thì sao hả chú Hai?

– Cái này là cậu tò mò lắm đó nha. Nói chung là nhiều triển vọng nhưng cũng cần có thời gian cho họ rèn luyện. Thời gian cũng sẽ sàng lọc họ, ai là gạo, ai là tấm, cám…

– Chớ chú Hai, chú Chín không “dạy” cho họ trở thành ngon lanh như ý mình được sao?

Ông phì cười:

– Viết văn mà ai dạy được ai! Chỉ là góp ý, động viên nhau thôi. Còn thì người cầm bút nào cũng phải tự học hỏi kinh nghiệm từ việc đọc của người khác…

– Nói thiệt với chú Hai, bữa nay tôi mới biết chuyện này… Viết với lách, sao mà rắc rối quá…

***

Ông bỏ hẳn một ngày để đọc bản thảo còn lưu của cậu “trong này” viết về những người “trong này”. Chất truyện đậm đặc, ít dành cho miêu tả. Các nhân vật đều khiến ông tò mò theo dõi vì không phải là những nguyên mẫu quen thuộc của ông. Họ là những người dân miền Nam với cuộc sống, cách nghĩ khác với một cán bộ cách mạng như ông. Có lẽ những nhà văn ngoài Hà Nội đọc quyển sách này còn lạ lẫm hơn cả ông, coi nó như một “đặc sản” cần phổ biến. Bản chất của một văn nghệ sĩ là sự khác biệt. Cậu “trong này” không biết vô tình hay hữu ý, đã làm nên sự khác biệt giữa mình với những cây bút khác, ít nhất là ở đề tài.

Mừng lắm! Ông mừng lắm. Nhưng ông đã nén lại trong lòng tình cảm của mình. Hôm sau, ông rủ cậu “trong này” qua quán hàng xóm uống cà phê. Ông nói với cây bút ba mươi bảy tuổi:

– Dù sao vẫn mới chỉ là bước đầu. Bước tiếp theo cháu phải mới hơn, khác hơn nữa… Khác với mọi người đã khó. Khác với chính mình còn khó hơn nhiều…

15

Lần này thì ông rủ cả cậu “trong này” đi ăn mì ở khu Cây Chàm. Cậu kế toán chở ông bằng xe gắn máy, còn cậu “trong này” đạp xe đạp đến sau. Ông nhớ về ý nghĩ của mình ngày nào, ghé nhà ông bạn mời qua đường cùng ăn mì. Nhưng ngoài lý do bị mù, ông bạn còn đang yếu trong người nên từ chối. Một lần nữa, ông được hói về vụ giúp in sách cho bạn. Ông thực thà nói: “Việc này khó. Tôi dã trình bày nhưng chưa nghe trả lời. Có lẽ anh còn phải đợi thêm một thời gian nữa”.

Ông gọi tô mì sợi nhỏ một vắt. Cậu kế toán gọi giống ông nhưng là tô hai vắt. Riêng cậu “trong này” thì gọi hai vắt mì sợi lớn. “Cháu thích ăn mì sợi lớn từ hồi nhỏ. Mà thường ăn ở mấy xe mì trong chợ tỉnh”. “Mấy xe mì có kiếng vẽ truyện Tàu bằng sơn xanh xanh đỏ đỏ lên chớ gì!”. “Dạ đúng vậy”. “Có chuyện này chắc cả hai cháu đều không để ý. Người bán thường để những vắt mì tươi trong mấy ngăn kéo bằng gỗ phía sau xe”. “Thì để cho dễ lấy phải không chú Hai?”. “Đúng nhưng chưa đủ. Họ để ở đó còn vì ngăn kéo gỗ mới giữ cho mì tươi không bị khô hay nhão, lấy ra trụng nước lèo rồi đổ vào tô cho khách, vắt mì vẫn như hồi mới làm, khách ăn ngon miệng”.

Vui chuyện, ông kể luôn chuyện mấy cái tóp mỡ lẫn trong nước lèo cuối tô mì mà mình từng nói với cô con dâu Tám Lành. Cả hai cậu trẻ đều ngạc nhiên. Cậu “trong này” ngần ngừ rồi nói: “Chú Hai cho cháu cái chi tiết này, lúc nào đó cháu sẽ đưa vô truyện của mình, nha chú Hai”. Ông gật đầu: “Ừ! Thì cho!”; lòng mừng thầm thấy “đệ tử” biết nhặt nhạnh từng vốn sống nhỏ để tích lũy mà viết.

Ông ăn xong sau cùng. Hai cậu trẻ đã uống cạn ly trà đá của mình, còn ly của ông vẫn đầy nguyên. Sực nhớ một điều, ông hỏi cậu “trong này”:

– Ăn mì mà cháu có biết cái món ăn này du nhập vô nước ta từ hổi nào không?

– Dạ… cháu nghĩ là từ hồi nhóm người Hoa của ông Trần Thượng Xuyên vô cù lao Phố và nhóm ông Dương Ngạn Địch vô vùng Mỹ Tho…

– Đó! Chỉ một món ăn thôi cũng gắn với lịch sử. Cháu cứ thử đọc lại sử đi, rồi nghiền ngẫm. Không thiếu gì đề tài để viết nằm sẵn trong đó… Ý chú muốn nói tới cái quê hương sáng tác của mỗi ngươi đó mà…

Cậu kế toán nhắc:

– Chú Hai! Mình đang ngồi ăn mì mà chú Hai…

Ông cười nhẹ:

– Nhớ rồi… Không nói chyện viết lách nữa…

Ông nâng ly trà đá uống một ngụm. Trà chỉ thoảng hương, ít vị chát. Ra thành nhiều năm, ông lại quen với trà đá thay vì trà Bắc đậm. Con người, chuyện ăn uống buộc phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh. Một thời tuổi nhỏ thoắt hiện về với ông. Cái thằng nhỏ Hai ngày ấy hay lén hái trái trứng cá để ngậm trong miệng cho tan dần như ngậm miếng đường tán nhỏ bằng đầu ngón tay, rồi chạy ra lu nước mưa múc một gáo đầy mà uống tới căng bụng!

Không biết đây là lần thứ bao nhiêu, ông nhớ về món nợ văn chương của mình với quê hương…

***

Quê nội ông ở cùng làng với nhà văn Chín còn quê ngoại ở bên kia sông. Cả hai làng đều nằm ở ven rừng, thưa dân, cuộc sống nghèo nàn. Cha ông ngày ấy làm kiểm lâm, thường xa nhà nên mẹ ông phải đưa con về ngoại vừa buôn bán kiếm sống vừa nhờ ngoại chăm nuôi cháu. Lớn lên, chú bé Hai mới được theo cha vô rừng. Những ngày ở rừng thật là tự do, sung sướng. Cha là người có vai vế ở đây nên cậu Hai cũng được chiều chuộng hoặc ít ra không bị ai ăn hiếp. Hồi ấy ông nào biết đó chính là quê hương sáng tác của mình sau này. Ông viết truyện đường rừng cứ như kể chuyện quen thuộc trong nhà mình. Dù sao khi lên bảy tuổi, ông cũng được cha gửi ra tỉnh để học bậc Tiểu học. Cảnh phố thị thay cho cảnh quê rừng nhưng không thể xóa mờ được chốn rừng xưa cũ…

Nhà văn Chín đang viết đầy cảm hứng về quê của ông ấy và ông. Có lúc ông có cảm tưởng ông nhà văn này viết để trả nợ hơn hai mươi năn phải xa quê đi tập kết tận ngoài Bắc xa xôi. Vùng quê này, nhà văn Chín từng sống một tuổi thơ nhiều kỷ niệm, chắc chắn là quê hương sáng tác đắc địa của ông này rồi.

Vậy, quê hương sáng tác của ông vẫn sẽ là rừng? Là hai người cha mẹ trước sau một năm ra đi mãi mãi khi ông mới vào tuổi đôi mươi? Biết đâu, ông sẽ không viết được gì hay hơn những trang viết về rừng?

***

Cậu kế toàn nhắc:

– Chú Hai ơi! Mình về thôi.

– Ờ… mà về đâu?

– Thì về Nhà khách tỉnh chớ đâu nữa. Chú là khách VIP của tỉnh mà…

Ông chợt thốt lên:

– Phải rồi! Chú là khách của quê nhau rún!

KHÔI VŨ

(Trích tiểu thuyết Khách của quê nhau rún)

________________

[1] Thời gian ấy nhiệm vụ Thư ký tòa soạn phải được cấp trên bổ nhiệm, Về sau này thì do Tổng biên tập quyết định.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.