Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 4

Vanvn- Chuyện nhân sự Đại hội sắp tới của tỉnh ta mới chỉ là dự tính của anh em mình thôi, chưa thông qua lãnh đạo địa phương. Tôi nói tự đáy lòng nhé! Nếu tôi là phó chủ tịch Hội ở đây thì cũng không thoải mái lắm. Người ta đã một lần từ chối tôi làm lãnh đạo bên xuất bản rồi. Vì vây, dù anh Chín chỉ tiến cử xã giao nhưng tôi lại thấy đó là… ý kiến hay! Nếu Đặc khu nhận, tôi sẽ ra đó…

Nhà văn Khôi Vũ

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Tiếng nói trí tuệ, tài hoa của nhà văn Lý Văn Sâm

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 3

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 3

>> Nhân vật anh hùng đa diện trong tiểu thuyết “Trên mảnh đất này”

>> Vén sương, nhìn núi

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 2

>> Chùm thơ Nguyễn Đức Phước

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 2

>> Chuyện nhỏ bên hồ tràm – Truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 1

>> Trở lại Đắc Lua – Bút ký của Lê Đăng Kháng

 

Phần 2

Hương bưởi

 

10

Bưởi ở huyện quê ông nổi tiếng khắp miền Nam. Một thời, tên tỉnh còn được gắn liền với chữ “bưởi” đi trước. Vùng đất có những vườn bưởi cho trái ngon nhất là cù lao Tân Triều cạnh làng quê ông, đất là phù sa bồi lắng – loại đất không chân tạo điều kiện cho rễ đuôi chuột của loại bưởi đường lá cam này tha hồ phát triển xuống sâu mà tìm dưỡng chất.

Từ nhỏ, ông đã nghe người già bên cù lao kể chuyện về đất này và về cây bưởi ở đây. Thời chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh, vị vua tương lai của triều Nguyễn từng có lần bị quân Tây Sơn đánh bại phải từ đất Gia Định phiêu dạt về đây một thời gian. Vì vậy có giải thích cho rằng do Nguyễn Ánh nuôi mộng lập một riều đình mới nên mới gọi nơi đây là đất Tân Triều. Lại có người gạt đi mà bảo rằng Tân Triều chỉ đơn giản là chữ Hán có nghĩa là một “bến mới”. Tới thời Pháp thuộc, nơi đây có một ngôi giáo đường được xây dựng sớm nhất ở tỉnh và một ông linh mục người nước ngoài đã đem một giống cây ăn trái về trồng trong khuôn viên nhà thờ. Cây ra trái, ông linh mục cho giáo dân ăn thử. Thấy ngon, vài người xin chiết cành làm giống đem về trồng trong vườn nhà. Sau nữa, những người khác lại nhân giống thêm. Đó chính là những cây bưởi đường lá cam đầu tiên. Thời gian đầu, bưởi được trồng nơi ranh đất của mỗi nhà nên nhiều bà con gọi là “cây ranh”. Sau này thì không ai gọi bưởi đường lá cam như thế nữa.

Sáng hôm nay, lần thứ ba ông lại về quê. “Phó tướng” nhất định bắt ông phải đi xe hơi, chiếc xe “Con rùa” được Ủy ban tỉnh điều từ một cơ quan khác qua Hội, lái xe là một người địa phương rặt, ít nói và có đặc điểm là mái tóc đen của anh bao giờ cũng chải bóng mượt. Tình cờ sao lộ trình lại khá giống lần đầu tiên ông đi cùng cậu kế toán.  Khi về, xe cũng dừng lại nơi quán nước mía của “ông xã, bà xã”. Tình cờ hơn cả là ông gặp cô sinh viên Hồng Đức cũng đang ở đây. Vậy là chiếc xe “Con rùa” sơn màu cam có dịp chở ông và cô sinh viên thay vì đi thẳng về tỉnh lỵ thì rẽ phải về thăm nhà ba má cô bên cù lao Tân Triều, vùng đất mà hai bên đường phủ màu xanh các vườn bưởi.

Bây giờ thì ông đang ngồi dưới tán lá râm mát của một vườn bưởi. Bên cha con cô sinh viên sư phạm Hồng Đức. Bên cái bàn đá nhỏ có đĩa bưởi và chén muối ớt trắng tinh lấm tấm đỏ.

– Đây đâu có phải bưởi đường lá cam… – Ông nhìn đĩa bưởi với những múi bưởi nhỏ mà mọng nước, rồi ngước lên nói với cô gái con chủ nhà.

– Vậy theo chú Hai thì bưởi đường lá cam phải như thế nào? Là cháu hỏi về múi bưởi chớ đưa trái bưởi ra thì dễ phân biệt rồi – Cô sinh viên mỉm cười, hỏi ông như thách thức.

– Nhứt định! Trái bưởi đường lá cam khi chín vỏ màu xanh vàng, cuống núm vẹo… Còn múi bưởi à… Cái này hơi bị khó đây. Lâu ngày quá, chú chỉ còn nhớ mang máng là múi nó nhìn cân đối, tép bó chặt với nhau, màu vàng ngà…

– Đĩa bưởi này đâu có khác những gì chú vừa mô tả…

– Khác chớ. Múi bưởi nhỏ mà thơm quá… Chú nhớ ra rồi… Có phải… bưởi ổi không?

– Trời! Chú Hai xa quê lâu quá rồi mà vẫn nhớ được như vậy. Cháu bái phục… Đĩa này đúng là bưởi ổi ở cây bưởi ổi duy nhứt còn lại trong vườn nhà cháu đó…

Người cha cô gái góp chuyện:

– Hồi đầu nhà tôi có tới ba cây, ông bà nội con nhỏ này trồng để lại. Ở đây có ai trồng bưởi ổi nhiều trong vườn đâu. Hai cây kia chết đi chỉ còn một mà tôi cũng không trồng lại. Nó vừa ra ít trái, vừa nhỏ trái, ngó không bắt mắt chút nào. Đặt lên bàn thờ thì nắc tội với tổ tiên, đem bán thì ít người chịu mua. Được cái là bưởi ổi vỏ mỏng, múi dày, hạt ít, hái xuống để được lâu ngày, da có nhăn nheo nhưng khi gọt thì bên trong vẫn ngon lành y như khi mới hái…

– Nhưng cứ như thế này thì chẳng mấy hồi, bưởi ổi sẽ mất giống…

– Chắc sẽ có lúc ấy thôi…

– Theo tôi thì nhà ta nên chiết nhánh trồng một hai gốc để giữ giống…Có tốn dất trồng đâu nè…

– Tôi cũng từng có ý như vậy. Nay nghe chú Hai nói, tôi sẽ chiết vài ba nhánh để nhân guống…

Chủ nhà sẵn dịp tuôn ra một thôi một hồi về các vườn bưởi ở quê mình. Nào là bưởi Thanh Trà, ruột trắng, ngọt đậm như đường phèn. Bưởi đường núm ưa được chọn bày cúng trong ngày lễ tết. Bưởi Xiêm, bưởi Long có vị ngọt nhưng trái nhỏ chỉ để ăn bình thường.

Hồng Đức mời khách:

– Chú Hai ăn đi. Để mà thưởng thức cái vị ngọt thanh cùng cái mùi ổi chín thơm lừng…

Ăn chứ! Ông phải ăn chứ! Vị ngọt thơm của đất quê hương thiếu vắng trong ông đã lâu quá rồi. Cũng có thể vì vậy mà cho đến nay ông vẫn chưa viết được một cái truyện nào ưng ý phảng phất hồn quê… Ông không “tâm linh” đâu. Con người ta thiện ác, hiền dữ đều lộ ra nét mặt, mà gương mặt thì được “tạo nặn” bởi sự ăn uống và cuộc sống đối phó với đời. Người sống nghèo đói, chật vật kiếm miếng ăn, gương mặt thường xương xương, nếu còn thêm thường bị đời vùi dập, chèn ép thì nhìn mặt thấy lạnh tanh, tưởng như lúc nào cũng sẵn sàng “xù lông nhím” đối phó để tồn tại. Người sống khá giả thì gương mặt tròn trịa hơn, nhìn phúc hậu…

Ông nhìn cô sinh viên sư phạm Hồng Đức. Người làm thơ trẻ này chưa bước chân vào đời, gương mặt còn trọn vẹn nét thánh thiện. Thời gian sau này, ông không nhắc chuyện “làm thơ đăng báo” với Hồng Đức nữa mặc dù thỉnh thoảng ông vẫn được đọc thơ của cô. Đó là những bài thơ được viết tay trên giấy vở học trò mà cô gửi cho ông tại nhà trên thành phố. Cô chỉ nói với ông một lần: “Cháu gửi chú Hai đọc, khi nào có dịp thì chú Hai góp ý cho cháu. Bài nào cháu muốn đăng báo, cháu gửi trực tiếp cho chú Chín ạ”. Vì thế ông không chuyển bài nào đến “phó tướng” dù có hai, ba bài ông rất thích và đánh giá cao. Được hỏi về việc gửi bài của tác giả Hồng Đức, “phó tướng” nói với ông: “Không biết cái cô nhỏ này còn làm thơ hay không mà lâu quá không thấy gửi cho báo mình bài nào cả”.

– Nè! Chú hỏi thiệt, cháu cũng phải trả lời thiệt nghe chưa. Cháu làm thơ để làm gì?

– Dạ, để cho những người cùng quê đọc mà hiểu tấm lòng của cháu với quê mình thôi…

– Không phải để đăng báo! Không phải để nổi tiếng! Không phải để trở thành nhà văn, nhà thơ như chú Hai và chú Chín! Đúng không?

Ông hỏi và tin răng mình sẽ được nhìn thấy cái gật đầu của cô sinh viên đồng hương, hoặc là một câu nói có ý nghĩa tương tự. Nhưng ông hoàn toàn bất ngờ khi nghe cô trả lời:

– Dạ, không đúng hẳn như chú Hai đoán đâu. Cháu sẽ làm tất cả những gì chú Hai vừa nói, khi nào cháu thấy mình xứng đáng. Còn cho đến bây giờ thì cháu vẫn chưa đủ tự tin.

Ông buột miệng:

– Cái con nhỏ này…

Trong đầu ông lại nghĩ về câu chuyện của mình với ba Hồng Đức vè giống bưởi ổi. Nó quý hiếm như những trang văn thơ hay, nhưng người đời lại quá thờ ơ…

***

Cậu lái xe đầu tóc chải bóng mượt chở ông đi một vòng quanh làng bưởi.

Trong thời gian cả nước gặp khó khăn về lương thực, cộng với sự ấu trĩ về kinh tế, người ta khuyến khích bỏ vườn bưởi để trồng các loại nông sán khác. Đất cù lao Tân Triều từ xưa có một thời trồng trầu phát triển. Khi những vườn trầu bị dịch bệnh tàn phá, bà con trồng bưởi thay thế. Đất phù sa lắng đọng nhiều năm nằm sâu dưới lòng cù lao cung cấp dưỡng chất cho những cây bưởi loại rễ đuôi chuột là bưởi đường lá cam, làm nên những vườn bưởi nức tiếng.

Thời thế biến những vườn bưởi xanh tốt thành nương rẫy “da beo” nào mì, nào bắp… lẫn vườn cây ăn trái kéo dài đến vài năm.

– Chú coi đó, bà con người ta bắt đầu trồng phục hồi lại vườn bưởi rồi. Hai ba năm nữa thôi, nơi đây lại trở thành làng bưởi ngon lành như trước – Cậu lái xe vui vẻ nói, bắt chước ông thường đánh giá gì cũng ngon lành.

– Nghe kể chuyện mới thấy là ông bà già cô Hồng Đức kia rất “lập trường”. Họ nhứt định giữ nguyên vườn bưởi mặc cho hàng xóm thay đổi. Bà già nói: “Tui coi mỗi cây bưởi trong vườn nhà như một đứa con do mình rứt ruột đẻ ra. Mình chăm sóc nó lớn lên tới sanh con đẻ cái, đem chặt nó đi thì có khác nào cầm dao mà giết con mình đâu”. Nghe mà cảm động quá…

Ông nhìn ngắm hai bên đường. Sát hàng rào nhiều nhà là những cây bưởi còn thấp bằng đầu người, như những đứa trẻ đang tuổi lớn. Xa xa phía trong, cũng những cây bưởi cỡ đó trồng ngay hàng thẳng lối, thỉnh thoảng thấy một cây lớn nhô lên, hẳn là cây từ ngày trước còn chừa lại…

Chiều nay có cuộc họp Ban chấp hành Hội, mọi người sẽ được thưởng thức những múi bưởi đường lá cam sau khi họp xong. Ông già ba của cô sinh viên Hồng Đức đúng là “thẳng ruột ngựa” khi nói với ông: “Mấy trái bưởi này tui gửi biếu mấy ông bà chấp hành ăn lấy thảo. Riêng hai trái bưởi ổi thì tui tặng má con thím Hai trên thành phố. Mà cái vụ tặng bưởi này không dính líu gì tới mấy bài thơ của con nhỏ Hồng Đức gửi đăng báo đâu nha! Nói thiệt lòng, vợ chồng tui không ưng con gái mình làm nhà văn, nhà thơ. Không phải quá trọng vọng hay coi thường, nhưng tui nghĩ con gái, cứ làm cô giáo là vừa sang, vừa khỏe…

Qua khỏi cù lao, cậu lái xe rẽ xe qua bên phải, hướng về tỉnh lỵ. Quê hương ông xa dần ở phía sau lưng…

 

11

Ông ngồi giữa nhóm “đệ tử”. Chủ nhà phải kê ba cái bàn thấp sát nhau mới đủ chỗ cho tiệc cà phê mừng sách mới của cậu “trong này”.

– Có cần gói thuốc lá cho chú Hai với chú Chín không hả “khổ chủ”? – Chủ nhà kiêm chủ quán cà phê hỏi.

Cậu “trong này” chưa kịp trả lời, cậu văn thư đã tiếp:

– Thêm một gói cho đám trẻ tụi tôi nữa chứ anh T.!

“Khổ chủ” cười gật đầu.

Ông cầm cuốn sách có bìa nền trắng, trên cùng là tên tác giả, nhích xuống một chút là tên sách nằm giữa một hình vẽ màu đỏ. Sách chỉ khoảng trăm rưỡi trang, khổ bình thường. Nhưng nó là một cuốn sách “không bình thường” chút nào. Nó là cuốn sách đầu tiên của một trong những cây bút trẻ tỉnh nhà được xuất bản. Là một tập truyện ngắn trong đó phân nửa đã in báo, phân nửa là viết mới. Chính nhà văn Chín đã đọc trước tập bản thảo rồi chuyển qua nhà xuất bản địa phương với lời giới thiệu. Nhưng ông Tổng biên tập chỉ giới thiệu bằng lời nói với nhà xuất bản chứ không chịu viết bài giới thiệu để in ở đầu cuốn sách. Ông đã giải thích với tác giả: “Chú Hai nhứt trí với chú Chín rằng cứ để cho nội dung cuốn sách tự nói lên tất cả!”. Năm 1986 là thời điểm sách được in ra với 7000 bản, số lượng bản in trung bình của thời gian  này.

– Bây giờ các cháu nói đi. Cứ nói thực lòng về cả hình thức và nội dung cuốn sách. Chú Hai giao hẹn trước: tác giả phải lắng nghe, không tự ái, không phản ứng, không “thù dai” người chê mình. Vậy mới là người viết trưởng thành, chuyên nghiệp và có thể đi đường dài…

Cậu “trong này” dạ dạ nhưng gương mặt coi bộ hồi hộp lắm. Cậu “giáo Huyện” giơ tay xung phong phát biểu:

– Cháu xin nói trước nha chú Hai, chú Chín! Đầu tiên là… ao ước của cháu. Thèm mình cũng sẽ có một cuốn sách như thế này vào một ngày gần nhất!

Nhà văn Chín tủm tỉm:

– Tui đọc xong tập ký của cậu rồi. Sẽ chuyển qua nhà xuất bản. Nếu không có gì trục trặc thì sang năm sách của cậu sẽ ra…

Có mấy tiếng vỗ tay và lời nói chúc mừng.

– Dạ… Cảm ơn chú Chín – Cậu “giáo Huyện” gãi đầu –  Cháu xin tiếp tục phần kế tiếp là… khen. Cháu đã đọc hết chục cái truyện trong sách. Tác giả viết đều tay, truyện nào đọc cũng dzô chớ không bị trôi ra khỏi đầu. Nhung tiếc là không có truyện đinh. Sao không đưa cái truyện giải nhất cuộc thi mười năm vô?

Nhà văn Chín nói luôn:

– Có đưa! Nhưng bên xuất bản họ nói cái truyện đó đã in chung trong tập truyện ký được giải rồi nên họ bỏ ra…

Cậu “giáo Huyện” lại gãi đầu, nhăn mặt:

– Vô lý! Đâu phải ai cũng đọc cái tập được giải kia. Còn đây là cuốn sách riêng cua một tác giả cơ mà…

– Tui cũng nói cái lý đó nhưng họ vẫn bỏ ra. Cờ trong tay ai nấy phất. Mình thua!

Cậu “giáo trẻ” lắc đầu:

– Giấy ruột xấu quá. Có chỗ thòi ra cà miếng rơm chưa nghiền nát thành bột, mực in không bám được nên mất chữ… Giấy bìa thì tuy trắng nhưng mỏng quá… Thơ mà in thế này thì “con” xin rút lui ngay!

Cậu “vật tư” rụt rè:

– Tui quen với anh em bên nhà in, họ nói cuốn này in tới mười lăm ngàn bản mà ở trang “xi nhê” chỉ ghi có bảy ngàn… Mà đây chỉ là tui nghe nói thôi, muốn biết chắc thì phải kiểm tra lại chớ không bên xuất bản họ kiện tui loan tin bậy bạ…

Cuộc góp ý sôi nổi hơn với cả lời khen lẫn chê tác  giả và… nhà xuất bản.

Ông đốt tới điếu thuộc lá thứ ba. Cà phê trong các tách sứ cũng đã được thay bằng trà Bắc. Gương mặt của tác giả cuốn sách đã bớt căng thẳng hơn. Nắng đang lên. Tán cây mít chi chít lá vẫn để những đốm sáng mặt trời xuyên qua, đậu trên mặt bàn và một vài cánh tay người.

Đến lúc này anh chủ quán chủ nhà lại xuất hiện, xoa xoa hai bàn tay vào nhau xin phép có ý kiến:

– Trước hết xin chúc mừng Hội ta có sách mới. Hay dở, xấu đẹp gì không biết, nhưng đây là một kỷ lục cần ghi nhận của Hội ta. Vì đây là cuốn sách đầu tiên của anh em viết trẻ tỉnh nhà… Kế đến tôi chúc mừng anh bạn của tôi vốn là học trò cũ môn cổ văn của ba tôi hồi trung học. Tôi sẽ báo tin này cho ba tôi đang sống ở phố biển, chắc ông sẽ rất mừng. Cuối cùng, tôi xin thông báo với khổ chủ là hai gói thuốc lá, tôi chiêu đãi, khổ chủ chỉ thanh toán tiền cà phê thôi… Xin mọi người cùng… vỗ tay…

Ông cảm thấy vui, rất vui trước không khí chan hòa của cuộc họp mặt bất ngờ. Giữa những “đệ tử” của ông với nhau và giữa họ với anh chủ quán chủ nhà vui vẻ và rất “nghệ sĩ”, cả gương mặt, mái tóc và cách hành xử. Xem ra, cái việc đục một khoảng tường rồi làm cổng thông thương giữa hai bên văn phòng Họi và quán cà phê không phải là không… có lý! Ông nhớ hồi xảy ra việc này, anh chủ quán chủ nhà đã qua gặp ông và nhà văn Chín để xin lỗi, nhận tội thay cậu “giáo Huyện” mà ông biết chắc là người “đầu têu”! Sau đó không lâu, nhà văn Chín đã khéo léo mời được ông trưởng phòng hành chính – người phản đối kịch liệt và đòi phải xây lại đoạn tường bị đục –  qua uống cà phê bằng cái lối tắt này, thay vì phải ra cổng văn phòng Hội, đi một đoạn ngắn rồi vào cổng quán cà phê. Vậy là mọi chuyện “dĩ hòa vi quý”, cái cổng qua lại tường rào hai bên âm thầm được “hợp thức hóa” với cánh cổng bằng lưới B40, có ổ khóa to chỉ mở trong giờ hành chính, được khóa lại khi văn phòng đóng cửa..

Đám trẻ giải tán về làm việc.

Ông còn nán lại với “phó tướng”, rủ anh chủ quán chủ nhà ra ngồi uống trà chuyện vãn:

– Ông cụ của anh mà tham gia sinh hoạt Hội thì hay biết mấy! Hội còn thiếu người rành chữ Hán và chuyên về văn thơ xưa…

– Chú Hai nói đúng. Nhưng ông già tôi lại cho rằng mình đã thuộc về một thời khác bây giờ, tốt nhất là về quê sống những ngày dưỡng già, dạy con nuôi cháu…

Đột nhiên, anh chỉ cây mít duy nhất trong khuôn viên sân vườn nhà mình mà nói:

– Nhìn nó nhiều người bảo là gia đình tôi khéo trồng. Thực ra nó là cây mít còn sót lại của cả một vườn mít rộng lớn ở khu vực này. Bởi vậy đến nay người ta còn gọi đây là khu Vườn Mít. Đó, hai chú coi. cây mít này cũng có thời của nó, mà cái thời ấy đã qua rồi. Một lúc nào đó nó sẽ bị chặt đi thôi. Vậy là chấm dứt một thời…

“Phó tướng” Chín hay cười tủm tỉm, gật gù:

– Có lý!

Ông nói với anh chủ quán:

– Cảnh sân vườn nhà mình đẹp thế này mà có thêm mấy cái lồng chim cho khách nghe nó hót thì ngon lành lắm!

– Chú Hai yên tâm. Tôi đã thống nhất với bên Ty Văn hóa Thông tin sẽ lấy sân vườn nhà tôi làm nơi tổ chức cuộc thi chim hót sắp tới. Sau đó, tôi sẽ mua lại vài ba lồng để treo trong vườn. Mà tôi có thắc mắc này. Chơi chim cũng là nghệ thuật, vậy có vô Hội của hai chú được không?

Ông ngẩn người nhìn “phó tướng”:

– Cái ý này hay đó anh Chín!

 

12

Từ khi nhà thơ họ Ngô chính thức chuyển từ nhà xuất bản qua Hội Văn Nghệ thì vợ chồng ông được cấp một phòng để ở kiêm nơi làm việc. Công việc phụ nhà văn Chín làm báo văn nghệ của nhà thơ Ngô cũng đi vào nề nếp. Thậm chí ông còn được cử đi thực tế tại một trại giam để viết một cuốn sách mỏng về một vấn đề thời sự của địa phương mà người “có cỡ” như ông mới đủ bản lĩnh viết. Tưởng mọi việc đã yên ổn, chờ Đại hội sắp tới sẽ đưa ông nhà thơ vô Chấp hành rồi bầu làm Phó Chủ tịch.

Ông đã thống nhất với “Phó tướng” là sau Đại hội, ông sẽ nghỉ, giao chức chủ tịch cho nhà văn Chìn, còn mình thì nhận làm “Chủ tịch danh dự”, về sống ở thành phố, thỉnh thoảng có dịp thì về Hội tỉnh chơi với anh em một đôi ngày. Nhẩm tính, chỉ hai ba năm nữa, ông đã vào tuổi thất thập cổ lai hy. Chuẩn bị nghỉ ngơi từ bây giờ là hợp lý.

Hôm ấy chiếc xe “con cóc” sơn màu vàng cam ghé nhà ông, đón ông về tỉnh “họp đột xuất”. Khi ông lên xe đã ngồi yên, cậu lái xe còn quay lại hoi: “Chú Hai có nhớ đem theo mấy bịch bột gạo lứt Bích Chi không đó?”. Ông cười, vỗ vỗ vào cái cặp để bên cạnh: “Có đây! Thím Hai chuẩn bị cho chú thì khỏi lo thiếu thứ gì!”, “Tại tui nhớ lần trước chú Hai về mà quên đem theo báo hại tui ra chợ mua, cô bán hàng cứ tò mò hỏi tui mua bột Bích Chi về nuôi con nhỏ phải hôn?”. “Thì một già một trẻ như nhau. Chú Hai tuổi này rồi, có khác chi đứa trẻ”.

Ông ngồi trên xe mà cười thầm suốt quãng đường ba mươi cây số. Cũng chẳng ngoa! Tuổi này, ông ăn uống ngày vẫn ba bữa, nhưng bữa nào cũng chỉ một ít là no, cứ như cái da dày nó co lại vậy. Vì thế ông cứ phải “ăn dặm” mỗi buổi một gói bột gạo lứt Bích Chi mói chắc bụng. Ông thôi việc Hội, nghỉ ngơi là phải quá rồi. Vậy mà…

***

Thành phố biển trực thuộc được tách khỏi tỉnh quê ông và thành lập Đặc khu. Ngoài ấy cử người về Hội tỉnh ông nhờ tham mưu, giới thiệu người về lãnh đạo hội Văn Nghệ sẽ thành lập mới ở ngoài đó. Nhà văn Chín nói vui vơi người đại diện Đặc khu: “Ở chỗ mình chỉ còn nhà thơ Ngô, ngoài đó có đồng ý không?”. Nào ngờ ngoài Đặc khu lại châp nhận!

Cuộc họp đột xuất chỉ có bốn người. Nhà thơ Ngô, hai “phó tướng” và ông. Nhà văn Chín phân bua:

– Nói thiệt là tôi chỉ nói xã giao vói cậu cán bộ ngoài Đặc Khu tới làm việc với mình thôi. Nào ngờ chính quyền ngoài đó nghe báo cáo liền gửi ngay công văn tới xin người! Tôi bối rối quá mới phải tổ chức cuộc họp này…

Nhà thơ Ngô nói:

– Chuyện nhân sự Đại hội sắp tới của tỉnh ta mới chỉ là dự tính của anh em mình thôi, chưa thông qua lãnh đạo địa phương. Tôi nói tự đáy lòng nhé! Nếu tôi là phó chủ tịch Hội ở đây thì cũng không thoải mái lắm. Người ta đã một lần từ chối tôi làm lãnh đạo bên xuất bản rồi. Vì vây, dù anh Chín chỉ tiến cử xã giao nhưng tôi lại thấy đó là… ý kiến hay! Nếu Đặc khu nhận, tôi sẽ ra đó…

Ông cân nhắc:

– Nếu anh Ngô đi còn tôi nghỉ thì Hội mình chỉ còn anh Chín và anh H. Liệu hai người có đảm đương được công việc Hội ngày càng bộn bề hơn không?

Nhà văn Chín và “phó tướng” H. cùng trầm ngâm trước câu hỏi của ông. Chỉ có nhà thơ Ngô là dứt khoát:

– Các anh hãy đồng ý cho tôi đi ra Đặc khu. Các anh ở lại sẽ khó khăn hơn một chút, nhưng tôi tin là mọi việc sẽ vẫn tốt đẹp… Chỉ một vài năm nữa đám trẻ ở đây sẽ trưởng thành…

Cuộc họp đột xuất không đi đến một kết luận nào. Cả bốn người cùng thống nhất để từng người “suy nghĩ thêm”.

Thay vì ở nhà khách của tỉnh theo chế độ thượng khách, ông nghỉ lại văn phòng Hội một đêm với ý định trò chuyện cùng các “đệ tử” ở đây về việc của nhà thơ Ngô. Vợ chồng ông này đã chở nhau bằng xe đẹp đến chơi nhà “phó tướng” Chín ở xóm Lò Heo giáp bờ sông từ chiều. Chắc chắn họ ăn cơm ở đó và cũng bàn với nhau chuyện đi – ở.

Cậu “bộ đội” pha một ấm trà Bắc mời ông, cậu “giáo Huyện”, cậu “văn thư”, cậu “họa sĩ”… là những người “nội trú” trong khu vực văn phòng Hội. lần lượt kéo nhau lên lầu gặp ông. Và chuyện thời sự được mọi người cùng hào hứng bàn tán chính là chuyện ông muốn nghe! Lạ lùng là đám trẻ đều rất mến nhà thơ Ngô nhưng lại cùng ủng hộ để ông ra Đặc khu “xây dựng cơ đồ” ngoài đó.

Cậu “giáo Huyện” mạnh miệng:

– Tụi cháu đang trưởng thành dần. Để phụ chú Chín một tay trong việc làm báo, các chú cứ tin tưởng giao cho một người nào đó trong tụi cháu, dĩ nhiên… hì hì… trừ cháu ra!

Cậu “bộ đội” trầm ngâm:

– Thêm điều kiện nữa là chú Hai phải ở lại Hội thêm một nhiệm kỳ nữa…

Trà Bắc khiến ông khó ngủ. Đã vận động đưa được người về Hội, nay lại cho ra đi thì tiếc quá. Mà liệu trong đám trẻ đã có ai đủ sức làm phụ tá cho nhà văn Chín làm báo chưa!

Trong chiến tranh, ông từng phải vừa lo tránh đạm bom của giặc, vừa lo cho việc tuyên truyền các tác phẩm văn học, nghệ thuật… vừa nguy hiểm vửa bận rộn nhưng không phải “đau đầu” như bây giờ, khi đất nước đã hòa bình, thống nhất. Đặc khu trước đây thuộc đất tỉnh quê ông, nay có tách ra thì cũng vẫn là anh em một nhà, việc ngoài ấy khác nào viêc trong này. Làm sao ông có thể bỏ mặc…

Khi mọi người giải tán thì phòng ông vẫn sáng đèn. Thấy vậy, cậu “bộ đội” cũng ở một phòng trên lầu, qua gõ cửa hỏi thăm. Ông cười nói:

– Không có gì đâu cháu! Chú Hai đang nhớ… thím Hai với hai đứa nhỏ trên thành phố…

KHÔI VŨ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.