Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 2

Vanvn- Cậu “trong này” kể: “Hồi ấy gia đình cháu mới dọn về ở cách trại giam Tân Hiệp gần cây số. Buổi sáng ngày hôm sau vụ phá khám, cháu cùng lũ bạn nhóc tì rủ nhau đi coi tù Việt cộng bị bắn chết. Nhưng cả lũ chỉ dám đứng phía bên này chiếc cầu đúc mà nhìn qua phía bên kia, trên bãi đất trống có đặt những xác người…”. Ông cười: “Chắc chắn ngày đó cháu đâu biết trong số tù Việt cộng trốn thoát có chú Hai. Nên bây giờ cháu là lính của chú, đúng là chú cháu mình có duyên với nhau rồi, phải không?”.

Nhà văn Khôi Vũ

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Chùm thơ Nguyễn Đức Phước

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 2

>> Chuyện nhỏ bên hồ tràm – Truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 1

>> Trở lại Đắc Lua – Bút ký của Lê Đăng Kháng

>> Thơ Trần Ngọc Tuấn: Tôi ngồi vẽ núi lạnh mười ngón tay

>> Má Năm – Truyện ngắn của Nguyễn Trí

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 1

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu luận của Bùi Công Thuấn

>> Thơ Đàm Chu Văn: Ngọn nguồn nối mạch ca dao

 

5

Người “gặt hái” được nhiều nhất sau lớp bồi dưỡng sáng tác là tổng biên tập báo văn nghệ tỉnh, nhà văn Chín. Các sáng tác đạt yêu cầu được biên tập in trên mấy số báo liền, bên dưới đều ghi chú: “Lớp bồi dưỡng sáng tác”. Vài cái truyện, bài ký trong số đó được chuyển qua cuộc thi truyện, ký đang dần tới thời hạn cuối nhận bài tham dự.

Ông chuyển qua theo dõi cuộc thi.

Ông và nhà văn Chín, mỗi người trên tay là một điếu thuốc lá mà “phó tướng” của ông lấy từ bao thuốc đầu tiên trong tút thuốc mới được tỉnh tặng. Đầu thuốc đỏ lửa trên môi mỗi người. Thuốc lá do xí nghiệp của tỉnh sản xuất, thơm nhưng nhẹ, không như những điếu thuốc rê mà ông thường hút.

– Hòa bình rồi, được hút thuốc lá nôi, thuốc lá ngoại nhập lậu đủ loại mà tôi vẫn nhớ, vẫn thèm những điếu thuốc rê hiếm hoi trong rừng, anh Chín à.

– Thì tôi cũng khác gì anh Hai. Thời tập kết ở Hà Nội, có thuốc lá mà tôi vẫn khoái quấn từng điếu thuốc rê. Có khi hết giấy quyến phải quấn đỡ bằng giấy lịch tờ, hút vẫn đã…

– Nhưng thôi, mình cũng nên nghe lời bác sĩ, chuyển qua hút thuốc lá cho đỡ hại phổi hơn thuốc rê…

“Phó tướng” báo cho ông biết đã nhìn thấy khả năng vào vòng xếp giải của một số truyện ngắn và bài ký, nhưng vẫn chưa thấy tác phẩm “đỉnh” để trao giải cao nhất.

– Vậy về các tác giả thì sao? Có những anh chị em mới nào xuất hiện không?

Ông hỏi rồi hồi hộp đợi câu trả lời. Nhà văn Chín trầm ngâm:

– Có, nhưng ít lắm anh Hai à…

– Đã xuất hiện trên báo mình chưa?

– Có một người mới toanh, chưa từng gửi bài nào đến báo mình. Tôi chưa biết tác giả này là ai vì anh ta chỉ ghi ở phần địa chỉ tên tỉnh lỵ tỉnh mình. Thời này vẫn chưa thật ổn định về mặt chính trị, tư tưởng nên nếu từ nay tới phiên họp xét giải mà vẫn chưa có thông tin rõ ràng về tác giả này thì tuy truyện có thể cho một giải chính thức, nhưng tôi tính chỉ cho giải khuyến khích thôi…

– Như vậy có thiệt thòi cho người ta không?

– Tôi nghĩ là không! Nếu quả thực đây là cây bút tốt thì anh ta sẽ không bị ảnh hưởng bởi kết quả cao thấp của cuộc thi. Chắc chắn anh ta sẽ nghĩ điều quan trọng nhất là anh ta đã được tìm ra và được công nhận.

– Tôi đồng ý! Vậy những người còn lại thì là những cây bút quen thuộc chớ?

– Vâng! Là những anh chị em đã từng có bài in báo và tôi cũng đã tiếp xúc, biết phần nào về họ. Thiếu tướng Bùi có bài ký khá nhất. Kế là một cây bút đang là phóng viên của Đài Phát thanh tỉnh và một sĩ quan bộ đội trẻ đang có ý định xin chuyển về văn phòng Hội ta…

– Nghĩa là vẫn chưa thấy xuất hiện người nào gốc địa phương?

– Vâng! Đáng tiếc là như vậy…

Ông và nhà văn Chín cùng tâm đắc việc ưu tiên tìm người viết sinh trưởng tại địa phương. Có lần ông tâm sự với nhà văn Chín: “Tôi không phải người có tư tưởng cục bộ địa phương. Nhưng trong văn chương, quê hương sáng tác là quan trọng bậc nhứt. Người ở xa đến một địa phương khác sinh sống lại còn vào lúc tuổi đã trưởng thành  thì khó mà có được tình yêu đậm đà với vùng đất, với con người ở đó bằng người sinh ra, lớn lên tại chỗ. Cứ nhìn tôi và anh thì rõ. Tụi mình có quăng đi đâu thì lòng cũng vẫn nghĩ và cây bút vẫn cứ viết hướng về quê hương, về dòng sông quê mà mình đã từng hít thở bầu không khí từ lúc mới lọt lòng, ăn hạt gạo củ khoai từ lúc thiếu thời…”. Nhà văn Chín rít một hơi thuốc lá rõ sâu, tiếp ý của ông: “Tôi cũng nghĩ hệt như anh Hai. Mình sẽ cố tìm. Và tôi hy vọng sẽ tìm được…”. Đang nói, nhà văn Chín chợt khựng lại: “À, tôi quên chưa báo cho anh Hai biết chuyện này. Tôi mới nhận được mấy bài thơ của một sinh viên mà địa chỉ ghi là ở huyện quê mình. Thơ khá lắm anh Hai à…”. Trống ngực ông đập rộn lên khi ông hỏi: “Phải tác giả ký tên là Hồng Đức không?”. “Ủa! Anh Hai biết cô này à? Học sinh tỉnh mình mới lên thành phố học sư phạm”. Bây giờ thì ông cười thư giãn hẳn nét mặt: “Biết! Mà còn từng gặp mặt nữa kìa”. Ông kể lại chuyện uống nước mía hôm nổi hứng đảo về quê và cuộc gặp bất ngờ ở thành phố. Nhà văn Chín gật gù: “Vậy thì tôi phải biên tập để in ngay số tới một bài thơ của cô ấy mới được, Biết đâu đây lại là người mà chúng ta đang đi tìm…”.

***

Nhà văn Chín bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết mới về quê hương và trích đăng nhiều kỳ trên báo. Ông nghe “Phó tướng” tâm sự: “Tôi khoái tiểu thuyết trường thiên  “Sông Đông êm đềm” của Sô-lô-khốp lắm. Những con người bên dòng sông tận Liên Xô ấy cứ như đang sống cùng tôi. Tôi muốn mình cũng viết được về những con người quê hương tụi mình bên dòng sông quê mình, ám ảnh được độc giả như thế”. Ông gật gù: “Tôi ủng hộ anh Chín”.

Nhưng có một vị lãnh đạo ở tỉnh tình cờ gặp ông trong một cuộc họp đã nói với ông: “Báo cứ đăng bài của tổng biên tập hoài thì có kỳ cục lắm không chú Hai?”.

Ông giật mình. Trong một thoáng, ông nhớ ngay ra mấy số báo gần đây, nhà văn Chín cho trích in liên tiếp một phần tiểu thuyết mới viết của mình. Ông đã đọc, thấy hấp dẫn và nhất là thấy cả một vùng đất trời và con người quê hương ông thời chống Pháp hiện lên. Nhiều bạn đọc cũng khen ngợi và bảo là họ phải chờ đến “dài cổ” để đọc tiếp vì mỗi tháng báo chỉ ra một số, phần trích lại chỉ có hai trang. Nhưng ý kiến kia đã phản ánh một góc nhìn khác cũng phải lưu ý.

Đối mặt với thực tế, ông nghĩ nhanh đến nguyên do dẫn đến ý kiến phản đối, cũng ngầm có ý chỉ đạo. Về lý thì khó mà bắt bẻ, nhưng liệu có phải chỉ thuần là nghiệp vụ? Ông biết vị lãnh đạo này cũng làm thơ và gửi tới báo. Thơ được đăng vì tên tác giả hơn là vì bản thân bài thơ. Mấy chục năm trải đời, ông thừa hiểu là người cầm trịch tờ báo thì phải ứng xử thế nào trong những tình huống nhạy cảm này, khi mà báo được in từ giấy do nhà nước cấp theo chỉ tiêu hàng năm, các khoản chi phí cũng hoàn toàn bao cấp…Về nội dung, báo còn phải :ăn đong” bài vở, làm xong số này vẫn chưa có “lương khô” dành cho số sau. Nhưng đó là chuyện nghề nghiệp nội bộ, không thẻ bắt người ngoài thông hiểu. Ông giải thích với vị lãnh đạo: “Nếu là một tờ báo có quá trình xuất bản lâu dài thì đúng là không nên in như thế, thậm chí có tổng biên tập còn dứt khoát không in bài nào của mình trên tờ báo mình phụ trách. Nhưng báo văn nghệ tỉnh mình thì còn đang ở những bước đầu chập chững. Việc đăng báo mà anh nhắc chỉ là bất đắc dĩ trong giai đoạn lực lượng viết của địa phương còn quá mỏng mà thôi… Dù sao thì tôi cũng nói lại ý kiến của anh cho tổng biên tập báo biết mà điều chỉnh sao cho hợp lý nhứt…”.

Nhà văn Chín bình thản đón nhận thông tin. “Phó tướng” xác nhận với ông là đúng có một vài bài thơ của vị kia ông không duyệt đăng vì chất lượng chưa đạt yêu cầu. “Mình phải đảm bảo chất lượng tờ báo dù nó mới ra đời, còn quá non nớt so với báo các nơi khác”. Ông nói: “Tôi nhứt trí với anh Chín. Cũng là để giữ uy tín cho anh và cho tôi nữa”. Nhà văn Chín có vẻ đắn đo mãi mới nói thêm: “Thực ra còn một chuyện này nữa. Có một vị khác trên tỉnh cũng gửi thơ cho báo. Thơ của vị này khá hơn nên hầu như bài nào tôi cũng cho đăng. Trong khi đó làm việc hay họp hành ở tỉnh, hai vị lại chỉ bằng mặt chứ chưa bằng lòng với nhau…”. Ông thở ra: “Có chuyện ấy à… Tôi hiểu rồi… Tóm lại tốt nhứt là tụi mình bằng nhiều cách khác nhau phải tìm được những cây bút mới có triển vọng và đăng bài của họ…”.

Lúc nằm nghỉ đêm ở văn phòng Hội, ông thoáng có ý nghĩ chùn chân. Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt. Chưa gì mà đã có lời ra tiếng vào… Lập Hội, để có diễn đàn cho hội viên, ban đầu ông phải xin phép Ty Văn hóa Thông tin tỉnh cho ra tờ tạp chí in khổ nhỏ, vận động anh chị em đóng góp bài vở, cho biên tập rồi ông còn đích thân đọc lại lần cuối; chưa hết, ông trưởng ty Văn hóa Thông tin cũng tham gia đọc, cảm thấy yên tâm rồi mới cho in. Vậy mà cũng vẫn để lọt một thiếu sót khá hài hước. Trong trích đoạn ký sự quân cách mạng theo quốc lộ I từ Xuân Lộc tiến về tỉnh lỵ của nhà văn Chín, có đoạn tác giả so sánh những tháp chuông nhà thờ ở vùng đồng bào đạo Công giáo xuất hiện liên tiếp nhau và người lính tăng nhìn như những cái chông nhọn chĩa lên trời, ông đã viết vào bên cạnh mấy chữ “Theo tôi thì không nên”, ý cắt bỏ đoạn so sánh nhạy cảm trên. Nhưng các anh thợ nhà in không hiểu ý, lại xếp thêm năm chữ kia chèn vào đoạn văn! May mà ai cũng hiểu và thông cảm cho cái lỗi kỹ thuật in ấn này…

Khó mọi bề chứ chẳng phải chuyện nào cũng êm xuôi. Phần văn rồi còn phần nghệ, anh chị em viết văn, làm thơ có diễn đàn là tờ báo, từ khi có nhà văn Chín thì Hội được giấy phép của Bộ Văn hóa Thông tin cho ra báo tháng, không phải số nào xin phép địa phương số ấy nữa, xem như tạm ổn. Chuyện khổ báo khi làm hồ sơ xin phép mà Ban chấp hành cũng mất một buổi họp. Người đề nghị tiếp tục in khổ nhỏ như mấy số tạp chí đã phát hành cho “sang trọng”, người lại yêu cầu ra khổ lớn nhất có thể vì “khổ báo lớn mới thể hiện được tính hoành tráng của một tờ báo lớn”. Cuối cùng, đa số chọn khổ lớn vừa như báo Văn Nghệ Thành phố, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên… Nhờ có tờ báo, các hội viên mỹ thuật có “đất” để tham gia in tranh, vẽ minh họa. Các hội viên âm nhạc được in ca khúc. Nhưng các kịch bản cài lương, kịch sân khấu thì chịu không thể giới thiệu vì số trang báo có hạn mà các kịch bản đều dài, trích in thì các tác giả không đồng ý vì “chẳng nói được nội dung gì”. Ông phải bàn với tổng biên tập cho đăng thông tin chi tiết về các vở diễn được đoàn Cải lương tỉnh dàn dựng biểu diễn cùng các hoạt động nghệ thuật khác…

“Không dễ chút nào” – Ông thở dài rồi nghĩ tiếp – “Nhưng mình và các cộng sự nhứt định sẽ vượt qua”.

***

Cuộc thi truyện, ký được công bố kết quả vào dịp cuối năm. Không có giải nhất mà chỉ có một giải nhì, ba giải ba. Trong những giải khuyến khích có cái truyện ngắn của cây bút “chưa lộ diện”.

Nhưng cuối cùng thì cây bút kia cũng phải xuất hiện hôm nhận giải. Đó là một người trẻ đang làm việc tại một công ty chuyên ngành của tỉnh. Anh ta nói giọng Bắc nhưng không phải thuộc thành phần cán bộ tăng cường miền Nam. Ông hơi điếng người khi nghe “phó tướng” thông báo: “Anh ta là con em một gia đình di cư năm tư, lại là sĩ quan miền Nam, đi tập trung cải tạo hơn ba mươi tháng”. Một “phó tướng” khác của ông thông tin thêm: “Anh ta từng có nhiều cuốn sách được in trước bảy lăm. Toàn là sách viết cho thiếu nhi. Mặc dù vậy, vẫn là một nhà văn chế độ cũ”. Lại có thông tin từ một biên tập viên của báo: “Tác giả này là một người trong nhóm năm người của Hội mình cử đi dự lớp bồi dưỡng viết văn trẻ tại thành phố. Anh ta cũng vừa có truyện được in trên báo Văn nghệ Thành phố”. Một biên tập viên khác báo thêm: “Anh này biết cả sáng tác ca khúc. Báo Hội mình có in cho anh ta một bài rồi đó chú Hai”.

Ông không thể không theo dõi cây bút mới có “lý lịch” khá  nhạy cảm này.

Một lần về tỉnh làm việc với văn phòng Hội, ông được “phó tướng” phụ trách khối văn phòng khoe tờ báo văn nghệ tỉnh nhà còn “nóng hổi”. “Anh Hai đọc bài ký về lâm nghiệp này đi. Của cây bút giải khuyến khích cuộc thi vừa rồi đó”. Ông ngồi đọc bài ký không dài lắm.

– Sao tôi nghe nói cậu này đâu phải chuyên ngành lâm nghiệp?

– Đúng thế! Cậu ta tới xin giấy giới thiệu đi về lâm trường Bàu Cạn ở huyện Long Thành để viết bài. Tôi nghi hoặc nhưng cũng cấp giấy để thử xem sao. Kết quả là anh Chín rất khoái, cho đăng báo liền.

– Tôi cũng thích. Vậy là ta có thêm một cộng tác viên truển vọng rồi…

– Tôi còn muốn hơn thế nữa, anh Hai à. Giá mà cậu này là “lính” của tụi mình… Nhưng chắc khó. Ở bên cơ quan cậu ấy đang làm việc thì cậu ấy đang là “quan”. Dễ gì có người “từ quan về chỗ mình để làm lính”. Mà cũng lạ lắm anh Hai ơi, thành phần đi cải tạo về mà cũng được chấp nhận làm trưởng phòng một công ty thì ắt phải có một lý do gì đó…

– Ừ! Cũng lạ đó! Anh tìm hiểu thêm xem sao…

***

Đầu năm mới, sau khi nghe trưởng phòng tổ chức – hành chính thông báo vừa nhận được đơn của cây bút bộ đội trẻ – giải ba – và cây bút mới – giải khuyến khích cuộc thi Truyện – Ký, xin chuyển công tác về văn phòng Hội, ông quyết định họp chuyên đề một buổi về việc này. Cậu sĩ quan muốn chuyển ngành thì dễ hiểu, nhưng cậu “khuyến khích” khiến cả ông và “phó tướng” cùng bất ngờ.

Đơn của cậu sĩ quan bộ đội trẻ dễ dàng được thông qua. Cậu ta gốc miền Bắc, là sĩ quan ngành y từng tham gia chiến trường K, có nguyện vọng sinh sống và làm việc lâu dài ở miền Nam. Vừa đoạt giải cuộc thi về văn xuôi, cây bút này còn là một tác giả thơ nhiều triển vọng. Có thiếu thì chỉ là tiêu chuẩn “người địa phương” mà ông và nhà văn Chín thầm mong.

Đến đơn xin chuyển công tác thứ nhì. Anh trưởng phòng tổ chức – hành chính đọc cho mọi người nghe không sót một chữ bản lý lịch của người viết đơn. Rồi anh trưởng phòng có ý kiến luôn:

– Theo tôi thì trường hợp này không thể chấp nhận. Chúng ta là cơ quan văn hóa chính trị, sao có thể nhận một người từng đứng trong hàng ngũ địch về làm việc được.

Ông yêu cầu được nghe ý kiến của hai phó Hội.

“Phó tướng” phụ trách Văn phòng Hội nói ngay:

– Tôi có thời gian nằm viện trên Thành phố, tình cờ chung phòng với thủ trưởng công ty của anh ta. Nghe ông này khen ngợi hết lời về “lính” của mình trong hoạt động phong trào nghệ thuật quần chúng tại công ty, tôi tin anh ta phải là người làm được việc. Mặt khác, giai đoạn này tìm được một người biết về âm nhạc đồng thời lại là một cây bút văn học từng có sách được in không phải dễ… Nói thật nhé! Số sách anh ta đã in còn vượt cả số sách tôi đã in, Riêng chuyện anh ta được đề bạt thì chính thủ trưởng của anh ta kể rằng trước bảy lăm, anh ta đã có thời gian tiếp tế thuốc cho tù nhân trong trại giam Tân Hiệp mà nhất định không chịu ghi vào lý lịch vì cho rằng mình hành động chỉ vì lý do nhân đạo chứ không phải vì lý do chính trị… Đúng là một người có lòng tự trọng mà mình cần quan tâm giúp đỡ…

Trong đầu ông vụt hiện ra cảnh tù đầy ở Tân Hiệp, trại tù chính trị lớn nhất ở miền Nam mà ông cũng từng nếm mùi tra khảo, ăn uống thiếu thốn, bệnh tật thuốc men nhỏ giọt…Xem ra đây tuy là một người có lý lịch không thuận lợi nhưng là người khá nhân văn, là một điểm cộng cho anh ta…

Nhà văn Chín bày tỏ ngắn gọn:

– Tôi không quan tâm chuyện “có công”. Tôi chỉ nghĩ:  Bỏ qua một cây bút triển vọng thì uổng lắm…

Thư ký tòa soạn vốn là một nhà giáo từ Sở Giáo dục chuyển qua khi thành lập Hội. lại đang xin chuyển về quê ngoài Bắc để trở lại với nghề giáo, phát biểu:

– Tôi thì sao cũng được, tùy đa số quyết định. Nhưng nếu phải chọn thì tôi sẽ nghiêng theo ý kiến của bí thư chi bộ.

Ông biết, lúc này ông chính là người quyết định cuối cùng. Nếu ông không ủng hộ hai “phó tướng” thì kết quả sẽ là ba hơn hai. Còn như ông ủng hộ thì càng rõ hơn, bốn trên một. Ông trầm ngâm một lúc mới thong thả nói:

– Tôi mới chỉ biết rõ về anh này qua bản lý lịch. Cũng mới có một lần tiếp xúc trực tiếp hôm trao giải nên khó có đánh giá chính xác ngay được. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng những người dân miền Nam trước đây, không dính líu mặt này thì cũng quan hệ mặt kia với chế độ cũ, ta không nên đặt nặng lắm về lý lịch mà cần lưu ý về năng lực làm việc hơn. Riêng với trường hợp này, thời gian tham gia vào hàng ngũ địch quá ngắn, chỉ mới mười tháng mà thời gian “trả giá” lên đến gấp ba. Lại là một người trẻ mới vào đời, chưa có quan điểm chính trị rõ ràng. Mặt khác trong thực tế ở đây chúng ta là số đông, còn anh ta chỉ là một, chúng ta mới là người quyết định mọi việc.

Cuộc họp đi đến quyết định nhận câu sĩ quan về làm việc. Trường hợp cậu còn lại sẽ để qua cuộc họp tháng sau, để mọi người có thêm thời gian suy nghĩ, cân nhắc.

Ông tranh thủ ý kiến của một vài đồng nghiệp ở Thành phố, họ đều ủng hộ ý kiến của ông nhung ai cũng dặn phải thận trọng khi giao việc.  Vậy là ở cuộc họp đúng một tháng sau, ông đã nhận một người được khuyến cáo “có thể là nguy hiểm” về làm việc chung và tuyên bố: “Tôi chịu trách nhiệm cao nhất về quyết định của mình”. Từ sâu thẳm tâm tư, ông tin là mình đúng bởi linh cảm của một nhà văn trong ông thường ít khi sai. Niềm tin ấy xuất phát từ mấy điểm cộng gần đây của cây bút trẻ kia: anh ta dám từ bỏ một chức vụ cao trong công ty chuyên ngành để về đây làm một phóng viên văn nghệ bình thường; hơn nữa, tuy không phải là người sinh ra tại địa phương nhưng suốt tuổi thơ đến lúc trưởng thành, anh ta đã sống trên mảnh đất này, chắc chắn sẽ có lòng yêu thương chân thật, thiết tha với nó, từ đó hy vọng sẽ có những trang viết đậm chất địa phương. Mà đó lại là một tiêu chí quan trọng trong việc tìm người cộng sự của ông và nhà văn Chín…

Trong một thoáng, ông chợt nhớ đến người bạn già ờ khu Cây Chàm mà ông vẫn chưa chọn được ngày đến thăm. Lịch sử đã khiến hai người bạn cùng điểm xuất phát rẽ qua hai lối, rồi bây giờ gặp lại nhau. Sẽ là tình huống thế nào? Vồn vã, thân mật như xưa, hay ngỡ ngàng, thủ thế…?

Ngoài xã hội vẫn đang diễn ra sự phức tạp mà chính quyền phải đương đầu giải quyết các mâu thuẫn của các thành phần khác nhau, hướng tới sự hòa hợp hòa giải. Hội Văn Nghệ cũng là một xã hội thu nhỏ mà ông cùng nhà văn Chín phải vừa cảnh giác, vừa thuyết phục các hội viên cùng nhìn về một hướng.

***

Trước lễ Quốc khánh năm ấy, Thành phố công bố kết quả cuộc thi truyện, ký do Hội Nhà văn nơi đay tổ chức. Cuộc thi của Thành phố lớn nhất phía Nam, đồng thời là một trung tâm sáng tác văn học nghệ thuật quan trọng, kéo dài đến hai năm nhưng cũng không tìm được giải nhất để trao. Hai giải nhì được trao cho một cây bút nữ trẻ nổi tiếng của Thành phố và một cây bút trẻ khác của tỉnh quê ông. Ông xúc động chứ không chỉ mừng rỡ khi đọc tên của cậu phóng viên mà ông phải tuyên bố “chịu trách nhiệm cao nhất” khi nhận về làm việc ở văn phòng Hội. Ông về tỉnh, đến văn phòng Hội là gọi ngay cậu ta đến gặp mình. Ông bắt tay cậu: “Chúc mừng cháu!”. Ông kể: “Ở Thành phố, nhiều nhà văn gạo cội và anh chị em viết văn trẻ hỏi thăm về cháu. Thế nào tại lễ trao giải cháu cũng phải có mặt. Làm văn nghệ là phải giao lưu rộng cháu à. Dĩ nhiên là có chọn lọc…”.

Ông nói với nhà văn Chín: “Tôi thở phào nhẹ nhõm được một phần. Mình đã quyết trúng”. Chợt nhớ ra một điều, ông nói thêm: “Lúc nào có dịp, anh nhớ nhắc mấy anh em khác khi có mặt cậu ấy, nói chuyện Mỹ thì cứ mạnh miệng nhưng đừng nói chuyện “ngụy”. Phải tránh hết sức đừng khơi lại vết thương lý lịch của người ta…”. “Phó tướng” gật gù: “Tôi biết mà anh Hai”.

Cậu phóng viên mà không biết từ lúc nào ông gọi là cậu “trong này” rất phấn khởi với giải thưởng mình được nhận. Cậu tâm sự với ông: “Cháu thú thật là cái giải của tỉnh vẫn chưa đủ giúp cháu thật tự tin vì nghĩ thế nào cũng có yếu tố tìm người mới và chỉ là mặt bằng địa phương. Nhưng bây giờ là giải thưởng của một trung tâm lớn mà cháu lại không phải là người ở đó”. Ông nghiêm nét mặt: “Dù sao thì cũng chỉ là bước đầu. Cháu nên nhớ là tuy cháu đồng giải với cô Lý trên đó, nhưng cô ấy đã được khẳng định là cây bút trẻ thuộc tốp đầu từ mấy năm nay, được đánh giá là có nhiều triển vọng đi đường dài. Còn cháu thì chưa có gì là chắc chắn cả. Phong độ chưa phải là đẳng cấp! Cháu cần phải tiếp tục cố gắng nhiều hơn nữa. Mà nè… Chú nói thẳng như vậy, cháu có buồn không?”. “Dạ không. Cháu sẽ nghe lời chú Hai…”.

 

6

Ông không phải là người làm việc trực tiếp với các nhân viên văn phòng Hội như hai người phó của mình. Nhưng ông là người chịu trách nhiệm cuối cùng về mọi việc. Vì vậy ông thường xuyên quan tâm đến nhân viên, đặc biệt là ba cây bút của văn phòng: cậu văn thư, cậu sĩ quan bộ đội chuyển ngành và cậu “trong này”. Riêng cậu nhân viên vật tư thì ông không xếp vào giàn “có triển vọng” nên chỉ động viên cố gắng… tập viết! Ngoài văn phòng Hội thì ông để ý đến vài người đang công tác ở lực lượng vũ trang, vài người là công chức ở ngành giáo dục, một nữ nhân viên bưu điện, một hai công nhân ngoài khu công nghiệp, một nữ sinh của trường trung học nổi tiếng của tỉnh, nghe nói là người sinh ra tại địa phương… Trong đó dĩ nhiên không thể thiếu cô sinh viên người quê ông.

Ông cũng quan tâm đến một người đã vào tuổi trung niên, là kỹ sư và từng dự một lớp học về văn chương khi anh còn ở Hà Nội. Anh này chyển vào nam, công tác ở Khu công nghiệp và tham gia sinh hoạt Hội văn nghệ tỉnh ngay từ đầu. Anh là tác giả thứ nhì trong cuốn sách in chung với ông tại địa phương. Một lúc vui vẻ, ông hỏi chuyện anh về công việc đang làm. Nghe anh hào hứng kể về chức vụ hiện tại và tương lai cùng ước ao được đóng góp nhiều nhất cho phong trào sáng tác địa phương, ông vừa mừng vừa lo. Sau khi hoan nghênh anh “kỹ sư”, ông nói thêm: “Anh Hai nói thật tình nhé! Thường thì người ta chỉ có thể cùng làm tốt hai việc gần nhau như viết văn và viết báo. Còn thì với hai việc cơ bản khác nhau như văn chương với kinh tế hay với khoa học kỹ thuật, thì khó hơn…”. Anh “kỹ sư” cười thành tiếng: “Anh Hai yên tâm, tôi noi được là tôi làm được mà!”. Ông vỗ vai anh: “Tôi cũng mong được như thế!”. Ông nói vậy vừa để khích lệ anh “kỹ sư”, vừa để gieo hy vọng cho chính mình. Thực bụng, ông hoài nghi khả năng làm tốt cả hai việc của anh này. Rất nhiều trường hợp ông được biết, để theo đuổi  con đường văn chương lâu dài, nhiều người đã phải chia tay với nghề chuyên môn. Có không nhiều trường hợp thành công mà lại có nhiều hơn trường hợp thất bại để rồi sau cùng cay đắng nhận ra mình đã chọn lựa sai!

Những cây bút đầu quân về báo văn nghệ tỉnh cũng ngày một tăng thêm. Một giáo viên dạy văn quê gốc Nghệ Tĩnh, cha mẹ đều nằm trong cấp ủy địa phương, có mấy bài ký được đăng báo, từ huyện xa của tỉnh xin về, nhà văn Chín rất ưng ý, nhận ngay; một giáo viên dạy văn khác còn trẻ xuất hiện với những bài thơ khá, từ trường trung học nổi tiếng của địa phương cũng nộp đơn, rồi thêm một giáo viên dạy tiếng Anh… Khi đồng ý tiếp nhận, ông nói vui với các phụ tá: “Vậy là Hội mình đang lấy bớt chất xám của ngành giáo dục địa phương. Chắc là bên ấy họ giận mình lắm đây…”. Tổng biên tập vui mừng nói cho ông biết với lực lượng này, báo đã có tương đối đầy đủ người viết các mảng văn, thơ, dịch thuật, lại có cả họa sĩ trình bày và minh họa. Trong tương lai gần, một hai người trong số này sẽ được bồi dưỡng để trở thành biên tập viên; còn về lâu dài thì sẽ phải đào tạo cho được một thư ký tòa soạn. Ông bắt tay “phó tướng”: “Chúc mừng anh Chín! Cố gắng lên!”.

***

Anh em phóng viên tích cực đi thực tế rồi về viết. Có khi họ được ông hay nhà văn Chín liên hệ với một nơi nào đó rồi sắp xếp người đi, cũng có khi họ tự liên hệ hay anh em hội viên “móc nối” giúp. Thời gian này tỉnh còn rất rộng, gồm cả vùng đất giáp biển. có lần nhóm phóng viên đã rủ nhau đi tận huyện Xuyên Mộc, vào rừng Bình Châu. Chuyến đi này, trong khi mọi người về nhà khách huyện nghỉ đêm thì cậu “trong này” ở lại để vào rừng tiếp cận với bà con một ấp toàn người dân tộc thiểu số, khi trở về trụ sở xã thì hết giờ làm việc đành phải ngủ đêm ở căn phòng mới xây, bị muỗi chích đến năm giờ sáng mới quá giang được một chiếc xe chở cát về huyện. Tổng biên tập biết chuyện, gọi cậu “trong này: lên phê bình về tội “bỏ đoàn đi một mình”. Ông lên làm việc, an ủi: “Cháu có lỗi, bị phê bình là phải rồi. Nhưng thôi, hãy quên đi mà lo viết”.

Nhà văn Chín nói với ông: “Mỗi người một tính cách, một sở trường, một kiểu viết, vậy là đáng mừng rồi. Tôi dự tính sẽ có một số điều chỉnh, anh Hai à…”.

Ông lắng nghe kỹ “phó tướng” nói về ý định phân công lại các phóng viên. Cậu “giáo Huyện” chịu đi, phát hiện sắc sảo, viết ký giỏi, tiếp tục để cho theo đuổi thể loại này với những bài “đinh”, còn thì huy động các hội viên khác tham gia. Cậu “bộ đội” vẫn cử đi viết ký nhưng thưa hơn để có thời gian “lắng” cho thơ. Cậu “giáo trẻ” và cậu “văn thư” thì nghiêng hẳn về thơ. Riêng cậu “trong này”, nhà văn Chín kể với ông: “Cậu này được cử đi viết ký nhưng hay để dành những chi tiết đắt để viết truyện ngắn. Tôi đã cảnh cáo nhưng cũng cho phép bớt đi viết ký để viết truyện. Mới đây, cậu này đưa cho tôi đọc bản thảo một truyện dài. Cái truyện mới chỉ có hình hài mà chưa có da thịt, chưa rõ hồn cốt. Tôi nói thẳng là phải viết lại hoặc bỏ đi. Cậu ta buồn lắm…”. Ông nhả một làn khói thuốc, mơ màng: “Đánh giá văn chương mà dối trá nhau là có tội. Anh Chín làm vậy là đúng lắm rồi!”. “Phó tướng” à một tiếng rồi tiếp: “Chút xíu nữa tôi quên mất… Tôi muốn xin ý kiến anh Hai chuyện này. Tôi muốn cho cậu “trong này” tập làm biên tập truyện ngắn, anh Hai thấy thế nào? So tuổi nghề thì cậu này thâm niên hơn cả”. Ông hơi ngạc nhiên: “Cái cậu “trong này” dám bỏ đoàn đi thực tế một mình bị anh phê bình đó hả?”. “Vâng! Chính cậu ta. Nhưng tôi nghĩ, chuyện nào ra chuyện ấy, anh Hai à. Việc tách đoàn về mặt tổ chức là không nên,vì lỡ có chuyện gì bất trắc xảy ra thì ai chịu trách nhiệm. Nhưng đi thực tế  mà cứ xúm nhau vào một chỗ thì sẽ viết giống nhau à…  Tôi đoán rằng cậu này biết điều ấy”, Ông gật đầu: “Vậy thì tốt thôi! Anh Chín cứ tiến hành, nhưng nhớ phải thật nghiêm khắc với cậu ấy. Tuyệt đối không để cho cậu ấy bị tình cảm chi phối công việc”.

Sau buổi trò chuyện với nhà văn Chín, ông gặp cậu “trong này” hỏi mượn tập bản thảo cuốn truyện dài để đọc. Ông đọc xong chỉ trong một đêm ở lại văn phòng Hội. Sáng hôm sau, ông gặp tác giả và chân tình khen cậu đã có ý chí thử sức với thể loại “cỗ máy cái” của văn chương. Rồi ông dứt khoát:

– Chú khuyên cháu nên giữ bản thảo này làm kỷ niệm thôi. Đây là một thể nghiệm rất có ích. Cháu sẽ buồn đấy. Còn vì sao chú lại có ý như thế? Đơn giản lắm. Truyện có câu chuyện, có nhân vật, có không khí, có tình tiết… hầu như đủ cả mọi yêu cầu. Nhưng một phần “thịt da” quan trọng là cuộc sống nội tâm của nhiều nhân vật thì lại hầu như thiếu vắng hẳn. Vì sao? Thí dụ như nhân vật giám đốc xí nghiệp vốn là một chiến sĩ quân giải phóng chuyển qua làm kinh tế, cháu đã kể, tả việc làm, suy nghĩ của nhân vật trong thời hiện tại nhưng đã không và sẽ không thể thêm được phần tâm trạng hồi ức tạo chiều sâu cho cuốn sách. Vài nhân vật khác cũng tương tự thế. Vì sao? Vì cháu thiếu hẳn vốn sống về khoảng thời gian ở rừng của họ mà những lời kể lại dù có chi tiết đến thế nào cũng không thay thế được thực tế. Chỉ có thực tế mới tạo nên cảm xúc thật cho ngòi viết, cháu ạ.

– Cháu đã hiểu… Tốt nhất là viết về những mẫu người mà mình thuộc họ, hiểu họ nhất phải không chú Hai…

– Đúng rồi. Và cháu sẽ viết theo hướng đó chứ?

– Vâng. Nhất định như thế ạ…

Chuyển qua việc biên tập, ông dặn dò:

– … Ở đây cháu là người có thời gian cầm bút lâu nhất trong số các phóng viên, lại đã từng có sách được in, vì vậy chú Hai và chú Chín có cơ sở để giao việc cho cháu. Nhưng cháu phải nhớ rằng đây là một việc mà cháu chưa từng làm, chưa có kinh nghiệm gì cả. Cũng cần ghi lòng là quyết định của mình sử dụng hay không sử dụng hoặc sửa chữa một bản thảo của anh chị em hội viên để đưa in báo, là việc sẽ ảnh hưởng đến tác giả và độc giả. Nó làm nên niềm vui hay nỗi buồn cho người khác. Vì vậy cháu phải hết sức cẩn trọng, dù chú Chín mới là người quyết định cuối cùng!

– Vâng! Cháu xin nghe lời dặn của chú Hai – Cậu “trong này” cứng cỏi đáp – Với cháu, lúc nào chú Hai cũng là một người dẫn đường tin cậy nhất…

Ông cười mỉm:

– Lại có duyên với nhau nữa chứ!

– Vâng…

Ông nhìn cậu phóng viên trẻ, nói bâng quơ: “Hồi đó chú cũng trạc tuổi cháu bây giờ…”.

Đúng là ngày ấy ông mới ở tuổi ngoài ba mươi và đã bị bắt giam lần thứ nhì vào khám đường Tân Hiệp. Kế hoạch phá khám đã được bàn định kỹ lưỡng, thế mà mọi người vẫn quên một chi tiết tưởng chỉ là bình thường mà lại rất quan trọng. Sự sơ sót ấy đã phải trả bằng máu! Nhóm vượt ngục đầu tiên ào ra cổng trại giam, theo thói quen, họ đã chung tay góp sức đẩy cho hai cánh cổng mở ra phía ngoài để các nhóm tiếp theo thoát nhanh. Nào ngờ hai cánh cổng được thiết kế kéo vào trong chứ không phải mở ra. Chỉ một khoảng thời gian loay hoay ngắn ngủi ấy thôi đã đủ cho đám lính gác ở lô cốt phía sớm xả súng. Nhiều tù nhân gục ngã ngay cổng. Nhiều người khác bị bắn chết khi vừa băng qua bên kia đường. Riêng ông đã may mắn thoát được họng súng kẻ thù, băng về hướng cánh rừng phía trước…

Cậu “trong này” kể: “Hồi ấy gia đình cháu mới dọn về ở cách trại giam Tân Hiệp gần cây số. Buổi sáng ngày hôm sau vụ phá khám, cháu cùng lũ bạn nhóc tì rủ nhau đi coi tù Việt cộng bị bắn chết. Nhưng cả lũ chỉ dám đứng phía bên này chiếc cầu đúc mà nhìn qua phía bên kia, trên bãi đất trống có đặt những xác người…”. Ông cười: “Chắc chắn ngày đó cháu đâu biết trong số tù Việt cộng trốn thoát có chú Hai. Nên bây giờ cháu là lính của chú, đúng là chú cháu mình có duyên với nhau rồi, phải không?”.

Hầu như đám phóng viên trẻ đều biết chuyện này. Họ chia vui với “cái duyên” tình cờ hội ngộ của cậu “trong này” với ông. Nhưng có một cậu nói với ông: “Hèn chi mà chú Hai cưng ảnh!”. Ông nghiêm nét mặt: “Cháu không nên nói vậy! Chú Hai đối xử với các cháu công bằng. Chuyện cũ chỉ là một kỷ niệm tình cờ không hơn không kém…”. Cậu phóng viên rối rít nói lời xin lỗi… Ông không kể lại chuyện này nhưng lần sau đó gặp cậu “trong này”, ông nói: “Chú Hai muốn cháu mau mau có một cuốn sách được in. Một tập truyện ngắn chẳng hạn. Cháu tính đi…”. Ông biết sự hòa đồng trong công việc và giao tiếp của đám trẻ không phải đã đảm bảo sự trong sáng, không có ganh tị giữa họ. Cậu “trong này” chỉ có một cách là chứng tỏ năng lực của mình mà việc in sách, trở thành cây bút trẻ đầu tiên của địa phương có sách xuất bản là một cách chứng tỏ…

Văn phòng Hội Văn nghệ cũng như một xã hội miền Nam thời hậu chiến thu nhỏ. Những nhân viên, phóng viên dưới quyền ông thuộc nhiều thành phần khác nhau, ông vừa phải quản lý họ theo những nguyên tắc chung, vừa phải ứng xử linh động để giữ sự hòa hợp. Làm điều này không dễ chút nào, nếu không có thêm sự nỗ lực của từng người…

KHÔI VŨ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.