Hiện đại một dự phóng không trọn vẹn

Vanvn- Khái niệm ca Benjamin v Jetztzeit, v hin tại như một khonh khc mc khi; mt thi đi mà các mnh vn thuc v s hin din ca Đng cu thế giăng mc khắp nơi nơi. Theo nghĩa này, đối vi Robespierre, thành Rome c kính là mt quá kh cha đy nhng mc khi nht thi.

Tính kỷ luật và tính hiện đại thẩm mĩ

Tính hiện đại thẩm mĩ đã mang những đường bình đồ rõ rệt trong tác phẩm nói chung của Baudelaire. Sau đó tính hiện đại đã bộc lộ ra trong những phong trào văn nghệ tiền phong (avant-garde) rồi cuối cùng đạt tới đỉnh điểm ở quán Café Voltaire của những nghệ sĩ Dada và ở chủ nghĩa siêu thực. Đặc điểm của tính hiện đại thẩm mĩ là những thái độ tìm thấy một tiêu điểm chung nơi một sự trải nghiệm của ý thức về thời gian đã đổi thay. Ý thức thời gian này tự bày tỏ chính mình qua những ẩn dụ về cái tiên phong hoặc tiền phong.

Tiền phong được hiểu là việc xâm chiếm vào lãnh thổ lạ, là phải hứng chịu những hiểm nguy của những chạm chán bất ngờ, gây những cảm xúc khó chịu, là chinh phục một tương lai vẫn còn chưa được ngự chiếm. Cái tiền phong phải tìm một phương hướng ở trong một cảnh trí vẫn không một ai dám mạo hiểm đi vào.

Song những sự dò dẫm về phía trước này, sự dự đoán về một tương lai mơ hồ và sự sùng bái cái mới thực ra nghĩa là sự tán dương đối với hiện tại. Sự trải nghiệm của ý thức về thời gian vừa mới xuất hiện này, nó đi vào triết học trong những trước tác của Bergson, không chỉ biểu lộ sự trải nghiệm về tính cơ động, sự gia tốc trong xã hội, sự mất tính liên tục trong đời sống thường ngày. Giờ đây giá trị đã được đặt vào cái có tính chuyển đổi, cái khó nắm bắt và cái giả tạm, vào ngay chính sự ca tụng tính năng động, nhưng lại tiết lộ một sự ao ước về lại với một hiện tại nguyên vẹn, thuần khiết và ổn định.

Điều này lý giải cho ngôn ngữ khá trừu tượng nói chung của những người mang tâm trạng hiện đại chủ nghĩa khi họ đã nói về “quá khứ”. Những thời đại cá nhân đã đánh mất các sức mạnh phân biệt riêng của chúng. Ký ức lịch sử được thay thế bằng sự hệ thuộc khoa trương của hiện tại vào những thái cực của lịch sử – một cảm thức về thời gian trong đó sự suy đồi tự nhận ra chính mình ở trong cái dã man, cái phóng túng và cái nguyên thủy. Chúng ta quan sát thấy ý đồ cổ súy vô chính phủ đòi làm nổ tung thể liên tục của lịch sử, và chúng ta có thể giải thích ý đồ này dưới hình thức của sức mạnh làm lật đổ cái ý thức thẩm mỹ hiện đại mới mẻ. Tính hiện đại nổi loạn chống lại những chức năng tiêu chuẩn hóa của truyền thống; nó tiếp tục sống ở trong sự trải nghiệm của nổi loạn chống lại mọi cái gì có tính tiêu chuẩn. Sự nổi loạn này là cách duy nhất để vô hiệu hóa những tiêu chuẩn đạo đức và cả tính thực dụng nữa. Ý thức thẩm mỹ đó liên tục đóng một vai trò biện chứng giữa các bê bối trong bóng tối và các bê bối công khai; nó bị mê hoặc bởi sự kinh dị đi kèm với hành vi báng bổ, nhưng luôn luôn tránh khỏi những kết cục báng bổ tầm thường.

Mặt khác, ý thức về thời gian được thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật tiền phong không chỉ đơn giản là có tính vô-lịch-sử; ý thức ấy hướng đến chống lại cái gọi là chuẩn mực sai lầm của sự hiểu về lịch sử. Tinh thần tiền phong hiện đại đã tìm cách tận dụng quá khứ theo một lối đi khác; tinh thần ấy đã loại bỏ những quá khứ vốn được tạo ra bởi nền học thuật bày tỏ phản đối thuyết duy sử, nhưng nó đồng thời phản đối một lịch sử bị vô hiệu hóa bị giam cầm trong viện bảo tàng của thuyết duy sử.

Dựa trên tinh thần siêu thực, Walter Benjamin xây dựng mối quan hệ giữa tính hiện đại với lịch sử theo cái mà tôi gọi là thái độ hậu lịch sử. Ông nhắc nhở về giác tính tự thân về Cuộc Cách mạng Pháp: ‘Cuộc Cách mạng đã học theo tấm gương La Mã cổ đại, cũng giống như ngành thời trang trưng bày một bộ váy áo cổ xưa. Ngành thời trang lan tỏa hương thơm của mình nơi hiện tại, mọi lúc trong lớp váy áo đã trải qua biết bao tháng năm xưa cũ.’ Khái niệm của Benjamin về Jetztzeit, về hiện tại như một khoảnh khắc mặc khải; một thời đại mà các mảnh vụn thuộc về sự hiện diện của Đấng cứu thế giăng mắc khắp nơi nơi. Theo nghĩa này, đối với Robespierre, thành Rome cổ kính là một quá khứ chứa đầy những mặc khải nhất thời.

Và bây giờ đây, tinh thần thẩm mỹ hiện đại này gần đây đang bắt đầu già nua đi. Nó đã được khuếch trương thêm một lần nữa vào thập niên 1960; Tuy nhiên, sau thập niên 1970, chúng ta phải thừa nhận rằng chủ nghĩa hiện đại này đã khơi dậy một phản ứng ngày nay mờ nhạt hơn nhiều so với cách đây 15 năm. Octavio Paz, một người đồng hành cùng tính hiện đại, đã cho chúng ta biết vào giữa thập niên 1960 rằng ‘nhà tiền phong của năm 1967 đang lặp lại những hành vi và cử chỉ của những nhân vật sống ở năm 1917. Chúng ta đang trải nghiệm thời khắc kết thúc của ý niệm về nghệ thuật hiện đại.’ Tác phẩm của Peter Burger kể từ đó đã giao giảng cho chúng ta về nghệ thuật ‘hậu tiền phong’; thuật ngữ này được chọn để chỉ sự thất bại của cuộc nổi loạn theo thuyết siêu thực. Nhưng ý nghĩa của thất bại này là gì đây?  Phải chăng sự thất bại ấy đang báo hiệu một cuộc chia tay với tính hiện đại?

Chúng ta hãy cùng suy nghĩ khái quát hơn, liệu rằng sự hiện hữu của một trào lưu hậu tiền phong có phải có nghĩa là có một bước chuyển đổi sang hiện tượng rộng lớn hơn rồi đây sẽ được gọi là hậu hiện đại hay chăng? Trên thực tế, đây là cách Daniel Bell, nhân vật xuất sắc nhất trong số nhân vật theo thuyết tân bảo thủ Hoa Kỳ, lý giải vấn đề này. Trong cuốn sách Những mâu thuẫn văn hóa của chủ nghĩa tư bản, Bell lập luận rằng các cuộc khủng hoảng của các xã hội phát triển ở phương Tây bắt nguồn từ sự chia rẽ văn hóa và xã hội. Văn hóa hiện đại đã thâm nhập vào những giá trị của cuộc sống hàng ngày; thế giới đời sống bị lây nhiễm bởi chủ nghĩa hiện đại. Bởi vì các lực lượng của chủ nghĩa hiện đại, nguyên tắc tự hiện thực hóa không giới hạn, nhu cầu tự trải nghiệm đích thực, thuyết chủ quan về sự nhạy cảm quá khích đã thống trị đời sống này. Bell nói, bầu không khí này đang giải phóng những động cơ khoái lạc không thể dung hòa với kỷ luật của đời sống nghề nghiệp trong xã hội. Hơn nữa, văn hóa chủ nghĩa hiện đại hoàn toàn không tương thích với nền tảng đạo đức của một hành vi sống có mục đích, hợp lý. Theo lối này, Bell đặt gánh nặng trách nhiệm về việc giải thể nền đạo đức Tin lành (một hiện tượng đã từng gây khó cho Max Weber) lên vai ‘nền văn hóa đối thủ’. Văn hóa ở hình thức hiện đại làm dấy lên lòng căm thù chống lại các quy ước và đạo đức của đời sống hàng ngày, vốn đã trở nên hợp lý dưới áp lực của các mệnh lệnh kinh tế và hành chính.

Các bạn hãy để tâm đến một xu hướng phức tạp ở trong quan điểm này. Mặt khác, động lực của tính hiện đại đến nay đã và đang cạn kiệt; bất cứ ai tự cho mình là nhân vật thuộc về trào lưu tiền phong đều sẽ phải chấm dứt sự nghiệp từ đây. Mặc dù trào lưu tiền phong vẫn được coi là đang mở rộng, nhưng nó được cho là không còn tính sáng tạo nữa. Chủ nghĩa hiện đại đang thống trị đời sống của chúng ta nhưng thực tế là đã chết mất rồi. Đối với thuyết tân bảo thủ, câu hỏi đặt ra là: làm thế nào mà các chuẩn mực có thể nảy sinh trong xã hội vốn rồi đây sẽ hạn chế chủ nghĩa tự do, thiết lập lại nền đạo đức của kỷ luật và công việc? Những chuẩn mực mới nào sẽ cản trở sự cân bằng do nhà nước phúc lợi xã hội tạo nên để các đức tính về sự cạnh tranh thành tích của cá nhân có thể quay lại thống trị? Bell coi sự phục hưng tôn giáo là giải pháp duy nhất. Đức tin tôn giáo gắn liền với đức tin vào truyền thống sẽ mang lại cho các cá nhân bản sắc được định rõ và sự an toàn trong đời sống.

Người ta chắc chắn không thể gợi lên bằng phép thuật những niềm tin thuyết phục vốn nắm chắc cái thẩm quyền. Do đó, những phân tích như của Bell chỉ dẫn đến một thái độ đang lan rộng ở Đức không kém gì ở Hoa Kỳ: một cuộc đối đầu về trí tuệ và chính trị với những người chuyển giao tính hiện đại văn hóa […].

Thuyết tân bảo thủ chuyển giao cho chủ nghĩa hiện đại văn hóa các gánh nặng ngàn cân thuộc về quá trình hiện đại hóa kinh tế và xã hội tư bản chủ nghĩa vốn ít nhiều thành công. Thuyết tân bảo thủ làm mờ mối quan hệ giữa quá trình hiện đại hóa xã hội được chào đón và quá trình phát triển văn hóa đầy bi thảm. Thuyết tân bảo thủ không phát hiện được những nguyên nhân kinh tế và xã hội dẫn đến những thay đổi về thái độ đối với công việc, tiêu dùng, thành tích và giải trí. Do đó, ông quy tất cả – chủ nghĩa khoái lạc, sự vắng thiếu bản sắc mặt xã hội, sự thiếu vắng lòng phục tùng, lòng tự ái, sự rời xa địa vị và cả các cuộc cạnh tranh vì thành tích – là thuộc về lĩnh vực ‘văn hóa’. Tuy nhiên, trên thực tế, văn hóa đang can thiệp vào việc tạo ra tất cả những vấn đề này theo lối rất gián tiếp và có tính trung gian.

Theo quan điểm tân bảo thủ, những trí thức vẫn cảm thấy mình bị ràng buộc với đồ án hiện đại vốn sau đó được trình bày xét như là sự thay thế cho những nguyên nhân chưa được phân tích đó. Thứ tâm trạng vun bồi thuyết tân bảo thủ ngày nay hoàn toàn không bắt nguồn từ sự bất mãn về những hậu quả chống lại đạo lý của một nền văn hóa xuất phát từ các viện bảo tàng đang đột phá vào dòng đời thường nhật. Sự bất mãn này đã không được các trí thức theo chủ nghĩa hiện đại đưa vào cuộc sống ngoài kia. Nó bắt nguồn từ những phản ứng sâu sắc chống lại quá trình hiện đại hóa xã hội. Dưới áp lực của động lực tăng trưởng kinh tế và những thành tựu về tổ chức của nhà nước, quá trình hiện đại hóa xã hội này đang thâm nhập ngày càng sâu sắc vào những hình thức hiện hữu trước đây của con người. Tôi sẽ mô tả sự hệ thuộc này của đời sống của chúng ta theo mệnh lệnh của hệ thống xét như là một vấn đề làm xáo trộn cơ sở hạ tầng giao tiếp xã hội của đời sống hàng ngày.

Vì vậy, chẳng hạn, các cuộc phản đối tân dân túy chỉ biểu đạt theo lối phổ biến và theo trào lưu nỗi sợ hãi lan rộng liên quan đến sự tàn phá môi trường đô thị và tự nhiên cũng như các hình thức giao tiếp xã hội. Các cuộc phản đối tân dân túy này rất đáng mỉa mai. Các nhiệm vụ truyền tải lại một truyền thống văn hóa, hội nhập xã hội và xã hội hóa đòi hỏi phải tuân thủ cái mà tôi gọi là tính hợp lý trong giao tiếp xã hội. Nhưng các cơ hội để chúng ta phản đối và bất mãn có từ khi bầu không khí của hành động giao tiếp tập trung tái tạo và truyền tải các giá trị và chuẩn mực, bị thâm nhập bởi một hình thức hiện đại hóa được định hướng bởi các tiêu chuẩn hợp lý về kinh tế và hành chính – nói cách khác, bởi các tiêu chuẩn hợp lý hóa hoàn toàn khác với tính hợp lý trong giao tiếp xã hội mà các bầu không khí đó phụ thuộc vào. Nhưng thuyết tân bảo thủ lại khiến chúng ta không chú ý đến các quá trình xã hội này: chúng phóng chiếu những nguyên nhân mà chúng không tiết lộ lên bình diện của một nền văn hóa có tính lật đổ và những ai ủng hộ nền văn hóa ấy.

Chắc chắn, tính hiện đại văn hóa cũng tạo ra các nan đề bất khả giải của riêng nó. Không phụ thuộc vào các hệ quả của cả quá trình hiện đại hóa xã hội và trong quan điểm của bản thân sự phát triển văn hóa, có những động cơ bắt nguồn cho việc nghi ngờ dự phóng về tính hiện đại. Đang được giải quyết bằng một kiểu phê phán yếu ớt về tính hiện đại – một kiểu thuyết tân bảo thủ, bây giờ, chúng ta hãy chuyển cuộc thảo luận của chúng ta về tính hiện đại và sự bất mãn của nó sang một lĩnh vực khác chạm đến những nan đề bất khả giải của tính hiện đại văn hóa – những vấn đề này thường chỉ như là một kỳ vọng hay sự ra vẻ đầy cao ngạo dành cho những luận điểm đó hoặc chỉ như là một lời kêu gọi tính hậu hiện đại, một đề xuất quay trở lại một số hình thức tiền hiện đại hoặc xóa bỏ tính hiện đại một cách triệt để.

Dự phóng khai sáng

Ý niệm về tính hiện đại gắn bó mật thiết với cả một quá trình phát triển của nghệ thuật châu Âu, nhưng ‘dự phóng hiện đại’ chỉ trở thành tiêu điểm khi chúng ta tạm ngừng tập trung vào nghệ thuật. Tôi sẽ bắt đầu một phân tích khác bằng một ý niệm của Max Weber. Ông coi đặc trưng của tính hiện đại văn hóa là sự tách rời lý tính bản thể được biểu đạt trong tôn giáo và siêu hình học thành ba lĩnh vực tự trị. Đó là: khoa học, đạo đức và nghệ thuật. Những điều này trở nên khác biệt vì thế giới quan thống nhất của tôn giáo và siêu hình học đã tan rã. Kể từ thế kỷ thứ mười tám, những vấn đề được kế thừa từ những thế giới quan xưa cũ hơn này có thể được sắp xếp theo các khía cạnh cụ thể về giá trị: tính đúng thật, tính đúng quy chuẩn, tính xác thực hay tính khả tín và cái đẹp. Và rồi, chúng có thể được xử lý xét như là những vấn đề về kiến thức, về công lý và đạo đức, hoặc về thị hiếu. Các diễn ngôn khoa học, các học thuyết về đạo đức, luật học, và quá trình sản xuất và phê bình nghệ thuật lần lượt có thể được thể chế hóa. Mỗi lĩnh vực văn hóa có thể được tạo ra để tương ứng với các ngành nghề văn hóa, trong đó các vấn đề có thể được giải quyết xét như là mối quan tâm của các chuyên gia đặc biệt. Sự đối xử chuyên nghiệp hóa đối với truyền thống văn hóa này mang đến những cấu trúc nội tại của mỗi trong ba chiều hướng văn hóa. Xuất hiện các cấu trúc của phương tiện nhận thức, của đạo đức-thực hành và của tính duy lý biểu đạt-thẩm mỹ, mỗi cấu trúc này đều chịu dưới quyền các chuyên gia, những người có vẻ thành thạo hơn mọi người trong việc làm chủ những logic của mỗi cấu trúc này. Do đó, khoảng cách giữa văn hóa của các chuyên gia và văn hóa của công chúng ngày càng lớn. Những gì tích lũy được cho nền văn hóa thông qua ứng xử và phản ánh chuyên môn không ngay lập tức và nhất thiết phải trở thành thuộc tính của hành động thực dụng hàng ngày. Với quá trình duy lý hóa văn hóa kiểu này, mối đe dọa đang ngày một gia tăng, đó là thế giới sự sống vốn đã bị mất đi giá trị bản thể truyền thống, sẽ ngày một trở nên nghèo nàn hơn.

Dự phóng hiện đại do những nhà triết học thời đại Khai sáng dụng công xây dựng vào thế kỷ thứ mười tám bao gồm những nỗ lực phát triển khoa học khách quan, nền đạo đức và pháp luật phổ quát, và nền nghệ thuật tự trị dựa trên logic nội tại của chúng. Đồng thời, dự phóng này nhằm giải phóng tiềm năng nhận thức của từng lĩnh vực này khỏi các hình thức bí truyền của chúng. Những nhà triết học Khai sáng muốn sử dụng sự tích lũy của nền văn hóa chuyên biệt này để làm phong phú thêm cuộc sống hàng ngày – nghĩa là để tổ chức hợp lý đời sống xã hội hàng ngày.

Những nhà tư tưởng thời đại Khai sáng bước theo con đường tư tưởng của Condorcet vẫn có kỳ vọng ngông cuồng rằng nghệ thuật và khoa học sẽ không chỉ thúc đẩy sự kiểm soát các lực lượng tự nhiên mà còn cả giác tính về thế giới và về bản thân con người, kiểm soát tiến bộ đạo đức, sự công bằng của các thể chế và thậm chí kiểm soát hạnh phúc của con người. Thế kỷ thứ hai mươi đã phá tan niềm lạc quan này. Sự khác biệt của khoa học, đạo đức và nghệ thuật là ở quyền tự trị của các lĩnh vực được các chuyên gia xử lý và sự tách biệt của chúng với các thông diễn học của hoạt động giao tiếp hàng ngày. Sự chia rẽ này là vấn đề đã làm nảy sinh những nỗ lực ‘phủ định’ mảng văn hóa chuyên môn. Nhưng vấn đề này sẽ không biến mất: chúng ta có nên cố gắng giữ vững định hướng Khai sáng, dù yếu ớt đến đâu, hay chúng ta nên tuyên bố toàn bộ dự phóng hiện đại là một nguyên cớ thất bại? Bây giờ hãy quay trở lại vấn đề của văn hóa nghệ thuật, đã giải thích tại sao về mặt lịch sử, tính hiện đại thẩm mỹ chỉ là một bộ phận của tính hiện đại văn hóa nói chung.

Các cương lĩnh phủ định văn hóa mắc sai lầm

Tôi có thể nói đơn giản là trong lịch sử nghệ thuật hiện đại, người ta có thể phát hiện ra một xu hướng hướng tới sự tự trị hay tự chủ ngày một lớn hơn trong công việc định nghĩa và thực hành nghệ thuật. Phạm trù ‘cái đẹp’ và lĩnh vực của những vật thể hay đồ vật đẹp lần đầu tiên được hình thành vào thời kỳ Phục hưng. Trong thế kỷ thứ mười tám, văn học, mỹ thuật và âm nhạc đã được thể chế hóa như những hoạt động độc lập với đời sống thiêng liêng và cung đình. Cuối cùng, vào giữa thế kỷ thứ mười chín, một quan niệm mỹ học về nghệ thuật đã xuất hiện, khuyến khích nghệ sĩ sản xuất tác phẩm của mình theo ý thức đặc trưng của nghệ thuật vị nghệ thuật. Quyền tự chủ của lĩnh vực thẩm mỹ từ lúc đó có thể trở thành một dự phóng có chủ đích: người nghệ sĩ tài năng có thể biểu đạt chân thực các trải nghiệm mà anh ta có được khi gặp gỡ với tính chủ quan giải trung tâm của chính mình, thoát khỏi những ràng buộc của nhận thức và hành động hàng ngày đang trở nên quen thuộc.

[…] Nhưng ở vào thời đại của Baudelaire, người đã lặp lại lời hứa hẹn này về hạnh phúc thông qua nghệ thuật, một sự không tưởng về sự hòa giải với xã hội đã trở nên chua chát. Một mối quan hệ của các mặt đối lập đã ra đời; nghệ thuật đã trở thành tấm gương phê phán, cho thấy bản tính tự nhiên không thể dung hòa của thế giới thẩm mỹ và xã hội. Quá trình chuyển đổi chủ nghĩa hiện đại này càng được hiện thực hóa một cách đau đớn bao nhiêu, nghệ thuật càng xa rời cuộc sống và rút lui vào cái không thể chạm đến của quyền tự chủ hoàn toàn bấy nhiêu. Từ những dòng chảy cảm xúc như vậy, cuối cùng đã tập hợp những nguồn lực sống bùng nổ được truyền tải trong nỗ lực của chủ nghĩa siêu thực nhằm thổi bùng sinh quyển nghệ thuật có quyền tự chủ tuyệt đối và buộc nghệ thuật phải hòa hợp với đời sống.

Nhưng tất cả những nỗ lực đó nhằm nâng cấp nghệ thuật và cuộc sống, hư cấu và thực dụng, diện mạo và thực tại về một bình diện; những nỗ lực đó nhằm xóa bỏ sự phân biệt giữa tạo vật và đối tượng sử dụng, giữa sự dàn dựng có ý thức và sự phấn khích tự phát; những nỗ lực đó nhằm tuyên bố mọi thứ đều là nghệ thuật và mọi người đều là nghệ sĩ, nhằm rút lại tất cả các tiêu chí và nhằm đánh đồng phán xét thẩm mỹ với biểu đạt trải nghiệm chủ quan – tất cả những chủ trương này đã tự chứng tỏ là một loại thực nghiệm vô nghĩa. Những thực nghiệm này đã làm sống lại, và chiếu sáng cho rõ ràng hơn, chính xác hơn các cấu trúc nghệ thuật đã định sẽ tan biến. Chúng đã đưa ra một tính hợp thức mới, với tư cách là những cái kết tự thân, để xuất hiện như một phương tiện truyền đạt của tiểu thuyết, hướng tới tính siêu việt của tác phẩm nghệ thuật đối với xã hội, hướng tới đặc điểm tập trung và theo kế hoạch của việc sản xuất nghệ thuật cũng như trạng thái nhận thức đặc biệt của các phán xét thị hiếu. Nỗ lực triệt để nhằm phủ định nghệ thuật đã kết thúc một cách trớ trêu bằng việc đưa ra chính xác các phạm trù này mà qua đó mỹ học Khai sáng đã bao trùm đối tượng của nó. Những người theo chủ nghĩa siêu thực đã tiến hành một cuộc chiến đấu khắc nghiệt nhất, nhưng mắc phải hai sai lầm đã phá hủy cuộc nổi dậy của họ. Sai lầm đầu tiên, khi các không gian chứa đựng một lĩnh vực văn hóa đã phát triển một cách tự chủ bị phá vỡ, nội dung của lĩnh vực văn hóa đó sẽ bị phân tán. Và chẳng còn gì từ một ý nghĩa bị trở nên thấp hèn hay vẩn đục hoặc từ một hình thức bị hủy hoại; và sau đó sẽ chẳng có gì được giải phóng cả.

Sai lầm thứ hai của họ để lại hậu quả lớn hơn. Trong giao tiếp hàng ngày, các ý nghĩa nhận thức, các kỳ vọng đạo đức, các biểu đạt và đánh giá chủ quan ắt liên quan đến nhau. Các quy trình giao tiếp cần có một truyền thống văn hóa bao gồm tất thảy – nhận thức, đạo đức-thực hành – và biểu đạt. Do đó, một đời sống hàng ngày được hợp lý hóa khó có thể được cứu thoát khỏi sự nghèo nàn về văn hóa thông qua việc khai mở chỉ một lĩnh vực văn hóa duy nhất – nghệ thuật – và do đó, chỉ mang lại khả năng gia nhập vào một trong những phức hợp tri thức chuyên biệt. Cuộc nổi dậy của chủ nghĩa siêu thực sẽ chỉ thay thế một sự trừu tượng hóa mà thôi […].

Một thói quen hay tập quán thông thường hàng ngày trở nên vật chất hóa chỉ có thể được chữa lành bằng cách tạo ra mối tương tác không bị giới hạn của nhận thức với các yếu tố đạo đức-thực hành và thẩm mỹ-biểu đạt. Quá trình vật chất hóa không thể được khắc phục chỉ bằng cách buộc chỉ một trong những lĩnh vực văn hóa được cách điệu hóa cao như thế phải mở cửa và trở nên dễ tiếp cận hơn […].

Giải pháp thay thế

Tôi nghĩ rằng thay vì từ bỏ tính hiện đại và dự phóng của tính hiện đại như một nguyên nhân thất bại, chúng ta nên học hỏi từ những sai lầm của những chương trình gây lãng phí đã cố gắng phủ nhận tính hiện đại. Có lẽ các loại hình tiếp nhận nghệ thuật có thể đưa ra một ví dụ ít nhất chỉ ra hướng đi hướng đến một lối thoát.

Nghệ thuật tư sản đã đặt ra hai kỳ vọng cùng một lúc từ khán giả của chính nghệ thuật ấy. Một mặt, những tay mơ yêu thích nghệ thuật nên tự học để trở thành một chuyên gia. Mặt khác, những tay mơ ấy cũng nên ứng xử như một người tiêu dùng có năng lực sử dụng nghệ thuật và liên hệ trải nghiệm thẩm mỹ với các vấn đề đời sống của chính anh ta. Con đường thứ hai, và dường như vô hại này, đã mất đi hàm ý căn bản chính xác vì có mối liên hệ đầy nhầm lẫn với thái độ của một người đang trở thành chuyên gia và có tính chuyên nghiệp.

Chắc chắn rằng, quá trình sản xuất nghệ thuật sẽ cạn kiệt, nếu nó không được thực hiện dưới hình thức chuyên xử lý các vấn đề theo lối tự chủ và nếu nó không còn là mối quan tâm của các chuyên gia, những kẻ không quan tâm nhiều đến các câu hỏi công khai và phổ biến. Do đó, cả người nghệ sĩ và nhà phê bình đều chấp nhận sự thực rằng những vấn đề như vậy nằm dưới sự phù phép của cái mà trước đây tôi gọi là ‘logic bên trong’ của một lĩnh vực văn hóa. Nhưng sự phân định rõ ràng này, sự tập trung độc quyền vào một khía cạnh duy nhất của giá trị và loại trừ các khía cạnh của sự thật và công lý, sẽ bị phá vỡ ngay khi trải nghiệm thẩm mỹ được rút ra từ lịch sử đời sống cá nhân và được hấp thụ vào trong đời sống bình thường. Sự tiếp nhận nghệ thuật của tay mơ, hay của ‘chuyên gia thường ngày’, đi theo một hướng khá khác so với sự tiếp nhận nghệ thuật của nhà phê bình chuyên nghiệp.

Albrecht Wellmer đã khiến tôi chú ý đến một con đường mà một trải nghiệm thẩm mỹ thứ không được đóng khung xung quanh các đánh giá phê bình của các chuyên gia về thị hiếu có thể bị thay đổi về mặt ý nghĩa: ngay khi trải nghiệm đó được sử dụng để soi sáng một tình huống lịch sử trong đời sống và có liên quan đến những vấn đề của đời sống, nó sẽ gia nhập vào một trò chơi ngôn ngữ thứ không còn là trò chơi của nhà phê bình thẩm mỹ nữa. Và rồi, trải nghiệm thẩm mỹ không chỉ làm đổi mới việc diễn giải các nhu cầu của chúng ta mà dưới sự soi sáng của nó chúng ta tri giác về thế giới. Nó cũng thấm nhuần ý nghĩa nhận thức và các kỳ vọng chuẩn tắc của chúng ta và thay đổi cách thức trong đó tất cả các khoảnh khắc này đều quy chiếu lẫn nhau. Dưới đây tôi sẽ đưa ra một ví dụ về quá trình này.

Cách tiếp nhận và liên hệ với nghệ thuật này được gợi ý trong tập đầu tiên của tác phẩm The Aesthetics of Resistance (Mỹ học của Phản kháng) của nhà văn người Đức gốc Thụy Điển Peter Weiss. Weiss mô tả quá trình chiếm đoạt lại tác phẩm nghệ thuật bằng cách giới thiệu một nhóm công nhân có động cơ chính trị, khao khát tri thức vào năm 1937 tại Berlin. Đây là những người trẻ tuổi, thông qua một chương trình giáo dục trung học buổi tối, đã có được phương tiện trí tuệ để hiểu được lịch sử khái quát và xã hội của nghệ thuật châu Âu. Từ tòa lâu đài kiên cố của tinh thần khách quan này, thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật mà họ đã trông thấy nhiều lần trong các viện bảo tàng ở Berlin, họ bắt đầu loại bỏ những mảnh đá vụn của chính họ, những thứ họ tập hợp lại và lắp ráp lại trong bối cảnh của ngôi nhà của riêng họ. Nền giáo dục này khác xa với nền giáo dục truyền thống cũng như chế độ hiện có lúc bấy giờ. Những người thợ trẻ này đã đi đi lại lại giữa tòa lâu đài nghệ thuật châu Âu và nghệ thuật của riêng họ cho đến khi họ có thể làm sáng tỏ cả hai.

Trong những ví dụ như thế này minh họa sự chiếm đoạt lại nền văn hóa của chuyên gia từ quan điểm của thế giới sống, chúng ta có thể phân biệt một yếu tố phù hợp với ý định của các cuộc nổi dậy theo chủ nghĩa siêu thực vô vọng, có lẽ thậm chí còn nhiều hơn đối với lợi ích của Brecht và Benjamin về việc nghệ thuật hoạt động như thế nào, thứ nghệ thuật đã mất đi hào quang, vẫn có thể được tiếp nhận theo những cách thức soi sáng. Tóm lại, dự phóng hiện đại vẫn chưa được hoàn thành. Và sự tiếp nhận nghệ thuật chỉ là một trong ít nhất ba khía cạnh của nó. Dự phóng này hướng tới một sự tái liên kết bị khác biệt hóa của nền văn hóa hiện đại với một lối sống thực dụng hàng ngày vẫn phụ thuộc vào các di sản quan trọng, nhưng sẽ bị nghèo đi thông qua chủ nghĩa truyền thống đơn thuần. Tuy nhiên, mối liên hệ mới này chỉ có thể được thiết lập trong điều kiện hiện đại hóa xã hội cũng sẽ được hướng theo một định hướng khác. Thế giới sống phải có khả năng phát triển các thể chế từ chính nó, thứ đặt ra các giới hạn cho các động lực và mệnh lệnh bên trong của một hệ thống kinh tế gần như tự chủ và các khía cạnh bổ sung mang tính hành chính của nó.

Nếu tôi không nhầm thì, cơ hội để hiện thực hóa điều này đã không mấy hiện hữu vào ngày nay. Ít nhiều trong toàn bộ thế giới phương Tây, một khí quyển đã phát triển thúc đẩy các quá trình hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa cũng như các xu hướng chỉ trích chủ nghĩa hiện đại văn hóa. Sự vỡ mộng với chính những thất bại của những chương trình kêu gọi phủ định nghệ thuật và triết học đã trở thành cái cớ cho những lập trường bảo thủ. Tôi sẽ phân biệt một cách ngắn gọn chủ nghĩa phản hiện đại của ‘những người bảo thủ trẻ tuổi’ với chủ nghĩa tiền hiện đại của những người ‘bảo thủ già nua’ và với chủ nghĩa hậu hiện đại của những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ.

‘Những người bảo thủ trẻ tuổi’ tóm tắt lại trải nghiệm cơ bản của tính hiện đại thẩm mỹ. Họ tự cho mình là những mặc khải về một tính chủ quan được phân cấp, giải phóng khỏi những yêu cầu của công việc và sự hữu ích, và với trải nghiệm này, họ bước ra ngoài thế giới hiện đại. Trên cơ sở các quan điểm hiện đại, họ biện minh cho một chủ nghĩa phản hiện đại không thể hòa giải. Họ quẳng vào khí quyển xa xôi và cổ xưa sức mạnh tự phát của trí tưởng tượng, trải nghiệm bản thân và cảm xúc. Vì lý do mang tính phương tiện, họ gắn liền với nhau theo kiểu Manichean, một nguyên tắc chỉ có thể tiếp cận được thông qua sự khơi gợi, có thể là ý chí quyền lực hoặc chủ quyền, Tồn tại hoặc sức mạnh Dionysiac của thi sĩ. Ở Pháp, xu hướng này dẫn dắt từ Georges Bataille đi qua Michel Foucault rồi đến Jacques Derrida.

Những người ‘bảo thủ già nua’ không cho phép mình bị tạp nhiễm bởi chủ nghĩa hiện đại văn hóa. Họ quan sát sự suy giảm của lý trí mang tính bản thể, sự khác biệt hóa của khoa học, đạo đức và nghệ thuật, thế giới quan hiện đại và tính duy lý đơn thuần về thủ tục của nó, với nỗi buồn và khuyến nghị rút lui về một địa vị thấp hơn so vớitính  hiện đại. Đặc biệt, thuyết Tân Aristotle đã có được thành công nhất định ngày nay. Theo quan điểm của vấn đề sinh thái, nó tự cho phép mình kêu gọi một nền đạo đức phổ quát […].

Cuối cùng, phái tân bảo thủ hoan nghênh sự phát triển của khoa học hiện đại, miễn là điều này chỉ vượt ra ngoài phạm vi của nó để mang lại tiến bộ kỹ thuật, tăng trưởng tư bản và quản lý hợp lý. Hơn nữa, họ khuyến nghị một nền chính trị xoa dịu sự bùng nổ của văn hóa hiện đại. Một luận điểm là, khoa học, khi được hiểu một cách đúng đắn, đã trở nên vô nghĩa hoàn toàn đối với định hướng thế giới sống. Một luận điểm khác nữa là chính trị phải được giữ càng xa càng tốt với những đòi hỏi của sự biện minh về đạo đức-thực tiễn. Và luận điểm thứ ba khẳng định tính nội tại thuần túy của nghệ thuật, và đưa ra tranh chấp rằng nó có nội dung không tưởng, và chỉ ra đặc điểm huyễn hoặc của nó nhằm giới hạn trải nghiệm thẩm mỹ trong phạm vi riêng tư. (Người ta có thể gọi đây là Wittgenstein thời kỳ đầu, Carl Schmitt của thời kỳ giữa và Gottfried Benn của thời kỳ cuối.) Nhưng với sự giới hạn mang tính quyết định của khoa học, đạo đức và nghệ thuật đối với các lĩnh vực tự trị tách biệt khỏi thế giới sống và được quản lý bởi các chuyên gia, những gì còn lại từ dự phóng hiện đại văn hóa chỉ là những gì chúng ta sẽ có được nếu chúng ta từ bỏ hoàn toàn dự phóng hiện đại. Thay vào đó, người ta chỉ ra những truyền thống, tuy nhiên, được coi là miễn nhiễm với những đòi hỏi về sự biện minh và xác nhận (mang tính chuẩn mực).

Tất nhiên, kiểu phân loại này giống như bất kỳ kiểu nào khác, là một sự đơn giản hóa, nhưng nó có thể không hoàn toàn vô dụng đối với việc phân tích các cuộc đối đầu giữa trí tuệ và chính trị đương thời. Tôi sợ rằng những ý niệm về tính phản hiện đại, cùng với một liên hệ bổ sung về tính tiền hiện đại, đang trở nên phổ biến trong lĩnh vực văn hóa thay thế. Khi một người quan sát sự chuyển đổi ý thức trong các đảng phái chính trị ở Đức, một sự thay đổi ý thức hệ mới (Tendenzwende) trở nên rõ ràng. Và đây là liên minh của những người theo thuyết hậu hiện đại với những người theo thuyết tiền hiện đại. Đối với tôi, dường như không có đảng phái nào độc quyền trong việc lạm dụng trí thức và địa vị của chủ nghĩa tân bảo thủ […].

ĐÀO QUỐC MINH dịch.

—–

Diễn từ của Jügen Habermas nhận giải thưởng Theodor Adorno năm 1980 tại Frankfurt)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *