Hạt lúa rơi – Truyện ngắn của Trang Thụy

Vanvn- Rét khô và buốt.

Cái mật lợn lão Sùng treo trên ràn bếp héo quắt lại.

Trên đỉnh núi, trăng bủng beo như một đứa trẻ bị giun chui tắc ống mật. Bất kể trăng non, có quầng, vàng cuống hay đã rụng A Thòi đều dắt ngựa đi chơi. Lão Sùng bảo Xì đợi Thòi về ăn cơm, muộn mấy vẫn phải đợi.

Trong gian bếp chỉ đủ cho một người, một chó ngồi nhìn nhau, có nhiều chuyện để nghĩ nhưng Xì lại chỉ nghĩ về những chuyện đã cũ.

Xì có mẹ. Một sớm, sương mù che khuất khuôn mặt của đá, mẹ lạc vào dòng người đỏ như đàn kiến lửa cõng mặt trời chạy lũ. Mưa xé nhỏ dáng mẹ, ném vào rặng đá xám đục. Xì không gọi. Xì không đuổi theo mẹ. Cái rét cuối mùa đã kéo Xì về nơi có tiếng khèn. Ở đó, hoa gạo ngằn ngặt đỏ, A Thòi đang rê khèn thổi lời tự thú của núi.

Nhà văn Trang Thụy ở Hà Nội

Nhiều năm sau mẹ trở về, cắp theo đứa trẻ xanh dặt để Xì biết người đàn bà đẻ ra Xì còn sống. Phiên chợ tình năm ấy kéo mẹ đi. Hạt mưa ướt dầm vai áo, bát rượu đun sôi chẳng thể xua được cái giá lạnh trong đôi mắt ngơ ngác của Xì.

Xì về làm vợ A Thòi.

Nhà Thòi có đống đá nằm bừa trước ngõ, cỏ trổ hoa trắng, cải bung hoa vàng.

Đêm đêm ngồi với cái kiềng thọt chân, Xì hiểu ra khoảng tối của tình yêu là một cánh đồng mịt mù khói trắng, ngoài giữ cho lửa không gầy đi trong gian bếp chật hẹp đàn bà chẳng thể làm được gì để thể hiện tình yêu với đàn ông.
Mắt sưng húp. Xì bê nồi ngô đặt lên bếp. Lão Sùng ra hè ngồi vấn thuốc. Lão lấy vợ sớm. Vợ ăn phải thịt lợn gạo, nhiễm sán rồi chết. Chưa tới bốn mươi, mặt lão chi chít vết roi quật qua mắt. Hễ ai đi chợ tình sớm, đẻ nhiều con thì cái già sẽ xộc tới sớm, dữ dội hơn cả lũ ống tràn qua bản vào mùa thu.

Mù bớt đặc trên khu đồi lưa thưa vài nóc nhà lợp lá, Thòi về tới cửa. Mớm cho Thòi đẵn thuốc, lão Sùng hỏi dò:
– Mày đi thế thì tới bao giờ con gà mới nhảy ổ?
– Tôi không biết.

Hỏi cái gì cũng không biết, là con mẹ nào đã đẻ ra cái thứ vứt đi như ruột thừa, lão nắm chặt cổ điếu đứng dậy. Xì ôm rổ cỏ về tới ngõ, nặng quá bèn thả xuống. Thòi vội chạy tới hỏi:

– Mày có đẻ được không? Bố đang hỏi.
Xì ấp úng:
– Cái bụng của tôi… ăn nhiều ngô nên hay sôi.

Lão Sùng nhìn cái dáng còi cọc, bé bằng quả chút mút mới ngợ ra, Xì lớn chậm hơn những đứa con gái bằng tuổi. Con cá xít ăn no trùng roi vẫn bé bằng cái gai dùng để khều ruột ốc thì gieo giống kiểu gì?

Năm Mão tới rất tốt, thằng Thòi chửa đẻ lệch năm thì thể nào bố cũng chết thay con. Có những cái chỉ có ma đá, ma nương mới lý giải được. Nhớ lời thầy Pung, lão vào phản nằm vật ra, mắt đỏ như trúng gió.

Đêm im vắng.
Gió lọt qua khe ván.

Tiếng mưa rõ mồn một, giọt nối giọt rỏ vào cái xô vỡ vứt ở hồi bếp. Con loăng quăng đẻ trái mùa lặn xuống đáy xô, đuôi ngừng quẩy để giữ sức chờ ngoi lên.

Mùa đông tới sớm. Cái rét nhiều răng, cưa qua cưa về, cưa tới sáng thì cắt cụt tay cây hoa gạo mọc ở lưng chừng dốc. Xì kéo lưng Thòi, ngập ngừng hỏi:

– A Thòi à, đẻ có đau không?
– Không đau…

Trả lời chỏng lỏn, Thòi lại ngáy rò rò. Hơi rượu phả chua tóc Xì. Lão Sùng đi gặp thầy Pung, đi cả đêm. Canh ba, ngựa hí rộn ngõ, lão Sùng vào tận buồng kéo Thòi dậy:
– Dậy! Dậy đi bắt vợ mới.

Thòi ngái ngủ hỏi lại:
– Vợ nào?
– Cưới thêm một đứa nữa, nhà này không thiếu ngô.

“Không được!” Tiếng Xì cất lên khiến lão Sùng nghĩ cái tai nghe nhầm. Xì đừng ép lão phải nói trắng phớ ra. Họ Thào, họ Và, họ Vừ kể cả họ Lê, họ Trần, họ Đỗ… Họ nào hỏi dâu về cũng để đẻ. Tuổi đẻ mà không đẻ thì khác gì hạt ngô lép thả vào chậu, hút no nước vẫn không thể mẩy, chỉ có nổi.

“Đàn bà không biết đẻ là lúa chết non. Người không phải hoa đu đủ đực, không làm thuốc được…”. Lão Sùng từ tốn thổ giọng, hai hàm răng khít rịt, gió không tìm thấy lối để lùa vào. Thòi từ trong nhà đi ra, lia giọng nói:

– Ai làm gì mà buồn? Bà Đé ở bản Sáy còn đi hỏi vợ cho chồng. Ông Tọ nhờ thế mà thọ tới sáu mươi tuổi.
– Tôi không phải là bà Đé.

Xì ném chày vào cái hoa chuối dựng ở góc cột, cái chày bật ra văng vào cái nồi không có nắp. Ai cũng biết đàn ông là giống đi hoang nhưng nếu Thòi cứ xem Xì là người đàn bà dắt con bò đi ngang qua ngõ thì cả đời này, Thòi chỉ là một kẻ ngược đãi.

Xì không phải là loài rắn chuông ẩn mình trong cát để có thể chịu được cái bỏng rát ở nơi có đường xích đạo chạy qua. Xì là người đàn bà đổ cái bóng lòng khòng xuống cái máng, tay khoả khoả trộn cám vào củ chuối đem đổ cho ngựa…, nếu bắt Xì phải bẻ đôi chồng chia cho người đàn bà khác thì Thòi sai rồi.

Đàn bà là cái giống cố chấp, hay than thở. Hãy thôi rúc ở xó bếp, đứng dậy bước ra cửa mà nhìn, đến con gà trống nó còn có tới hai, ba bạn tình…

Ném lại ý nghĩ trắng ởn, Thòi bỏ về buồng. Hắn thả rông ý nghĩ cho tới khi hai mắt đờ ra, trắng hếu.

Năm nay đào nở muộn.
Mơ, mận trơ cồi.
Ra Tết có gió ấm, hoa mới nở.

Ngồi bên cái cối mốc đen dấu chân gà, Xì nhặt sợi tóc trong lòng cối ném ra ngoài. Bên kia đèo tiếng khèn rơi vào rãnh đá, loay hoay trong cái hốc tối om với lũ vắt đang cố phưỡn mồm ra hút máu đá.

Hội pao năm nào, tuyết cũng rơi. Cả Pua Mạ chìm trong màu khăn trắng. Sáng ngủ dậy thấy vôi tôi đầu núi, những con đường bị tẩy xoá, móng vấp phải đá và lưỡi đau như bị răng cắn.

Tiếng khèn im bặt. Đêm ngốn lấy bụi mía trổ lóng dài khẵng. Cơn gió bấc dập tắt ngọn khói vừa nhoi lên trong đống cây ngô bị đốt để lấy tro. Xì mở mắt. Một màu đen dai dẳng ùa vào mặt, mất một lúc ngô và cối mới hiện ra.

“Thụi Thụi!” Thòi đập long bản lề thì có tiếng “ét ét”. Xì mở cửa. Mặt nguội như cháo bỏ qua đêm. Cái thái độ đó là ý gì? Tôi là một kẻ tội đồ sắp tới giờ bị hành quyết ư? Mắt đỏ như đốt. Thòi cố ghìm lại vì sau lưng đang có một cô gái rất trẻ. Biết Thòi về, lão Sùng tung chăn chạy ra.

– Mày gặp nó ở đâu?
– Ở chợ. Tôi mời Xùa ăn phổi bò hết mười ngàn.

Bỏ ra mười ngàn là có vợ mới, không sớm không muộn Thòi đã lựa chọn rồi. Cảm giác là người thừa chôn cất Xì ngay giữa cái rét âm độ. Tim còn đập mà như đã lăn xuống cái hố sũng nước ở trên đồi.

Đi bên lề cuộc đời một người là lạc lối trong lõi rừng, phía nào cũng âm âm binh binh bất tận. Xì ngồi thụp xuống, bên ngoài gió vẫn đập toàng toàng vào tấm tôn vỡ.

Mờ sáng. Con ngựa già tắt thở. Tối qua, Thòi cột ngựa dưới gốc xoan để cái rét cắt gân chân, ép vỡ mật. Khói rầu rầu bay lên. Lão Sùng dặn Thòi thịt ngựa làm cỗ cưới, gác được miếng nào lên bếp thì gác.

Cỗ bày ra. Thịt đựng vào cái tô nhựa mòn vẹt, lõng bõng nước. Rượu đổ đầy số bát có trên bàn. Cái sứt tai. Cái mẻ mép. Tiết canh hãm vào ống vầu bửa đôi, mỗi người một ống.

“Đừng giã nữa…” – Lão Sùng đặt bát xôi đã tắt khói trước mặt Xì, cả ho cả nói. Lão vừa đi, chó liền vục mõm, ăn hết thì vần cái bát chạy khắp bếp. Cái bát nằm úp mặt tới nửa khuya thì có người đá vào. Mưa nặng hột thêm. Xì dốc hết ngô vào cối. Cả đêm hạt ngô bị lưu đày, sống không bằng chết.

Đêm thứ ba. Thòi ngáy rung vách nứa. Tiếng ngáy làm Xùa khó ngủ. Ngồi lên đẵn gỗ, Xùa lí nhí nói:

– Xì để tôi giã cho.
– Không. Mày ngủ đi.

Giọng Xì lạnh như gió thổi qua bụi mã đề mọc cạnh ngôi mộ mới đắp. Hai người đàn bà nhìn nhau. Xùa vét ngô cho vào chậu. Xì đi tìm can rượu. Hai cái bóng bé bằng cái dằm củi nâng nâng, hạ hạ cho tới khi trăng ngã xuống, chết dúi phía sau quả đồi trụi húi.

Trời sáng. Gà kêu chiếp chiếp. Thòi lấy ống điếu huých vào vai Xùa, gằn giọng gọi:
– Dậy! Ai cho mày uống rượu? Uống để làm con nòng nọc của tao bị say à?

Kéo Xùa đi, Thòi để Xì nằm lại với cái bì nêm chặt lõi ngô. Xì đã quen với việc bị rượu dần cho bở thịt, bở lách nhưng chẳng có độc tố nào bào, gọt da thịt ác ôn như sự lãnh đạm của người chồng.

Xì tựa vào cột nhà, đờ mắt nhìn bãi phân gà ngấn nước, nửa trắng, nửa mun. Mở cái nắp, đậy cái chát lão Sùng rít giọng:
– Mày còn rủ con Xùa uống rượu, tao đuổi ra cái chòi ở trên nương.

Mùa lóc chóc mót hạt ai rồi chả phải đi ngủ chòi. Ông cứ đuổi đi, vốn dĩ tôi đã thừa, rất thừa rồi. Xì muốn hét lên nhưng môi lại cắn chặt, mắt đỏ kè.
Nhà có khách.

A Lúi đứng chắn ở cửa. Tối nọ đi chơi, Thòi nhặt đá ném con chó, ném trúng đầu bà Léng. A Lúi đưa mẹ xuống huyện chữa hết mấy bao thóc. Cái lỗi của Thòi không thể bỏ qua được. Nhìn quanh chả có cái gì đáng giá ngoài mấy cái đầu đen tóc, A Lúi quắc mắt nói:

– Mẹ tao bị ốm. Lúa bị chim ăn hết. Mày có hai vợ, bảo một vợ về đi nương cho tao.

Tim đập rạo rạo, mặt Thòi biến sắc. Hắn nhìn lão Sùng cầu cứu. Lão trả lời bằng làn khói trắng rão, mơ hồ. Im lặng kéo chùng mái nhà xuống, kéo căng cước sự chờ đợi… rồi A Thòi cũng lên tiếng:
– Xì à, mày tới nhà A Lúi…

Xì lê cái chân tê rần về phía cối, bủn rủn ngồi xuống. Im lặng tiếp tục nhấn chìm khoảng sân vạ vầy lông gà, vỏ trấu… Vậy là, đến cuối cùng anh vẫn yêu chính anh và con ngựa có cái xoáy ở trên đầu.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

Nhà A Lúi ở cửa rừng, gà ăn đỉa cạn tiếng gáy cũng dai dách, khó xé ra.
Mùa lúa nương. Lúa gối đầu vào đá, cỏ lồng vực mọc chen với lúa. Mùi cỏ chạy tới chân núi, mất hút sau những con khe rậm rợp.

A Lúi về tới đầu hồi, dắt dao vào vách liếp. Nhìn đống lúa xếp chật lối đi, A Lúi nhẹ giọng hỏi:
– Xì có muốn đi chợ phiên không?
– A Thòi không tới tìm tôi à?

A Lúi nén một tiếng thở buồn. Tìm hay không tự Xì phải biết. Xì còng lưng cắt lúa vì yêu còn A Thòi, hắn ở đâu khi những giọt mồ hôi rơi xuống, nhiễm mặn cả một khoảnh đồi sắp bị san bằng bởi lũ ống?

Hỏi thế là Xì vẫn đợi một lần Thòi tới bản Sáy? Đợi để làm gì, để những hạt yêu còn sót lại không bị chôn sống khi vẫn đang ngoi ngóc thở ư?

Đừng hỏi những câu như vậy nữa, sẽ phí phạm những giọt muối đã hiến cho đất, vô hiệu hoá số mùn khoáng đã bón cho cây.
Lúa nương hè trồng, đông hái. Vẫn còn hai mùa, nếu muốn Xì hãy cứ đợi. Có thể Thòi sẽ tới, tình yêu sẽ quay về, rờ rỡ như trăng mười bốn.

Nhà im phắc. Hạt thóc trong bồ đợi ngày tra xuống lỗ. Con chẫu chuộc ngồi chò hỏ trên mép thùng phuy, cái mặt nhọn hoắt.
A Lúi bỏ ra ngoài rít thuốc.

Từ hôm Xì tới, đêm nào A Lúi cũng chong mắt đợi trăng đi qua cái lỗ to bằng mắt trâu ở trên mái nhà. Có hôm thuốc lào hết nhẵn, y phải nhúng mặt vào chậu nước mới sống sót trở về.

A Lúi vo gầy bi thuốc thì trăng trồi lên khỏi lũng mây đen láy. Vào cái đêm trăng bỏ đi, vợ A Lúi vỡ ối. Bà đỡ bảo thai to, cái hông bé. Dân bản gánh vợ Lúi tới con dốc giao giữa hai bản Vá, Sáy thì máu chảy ướt võng. Xương chậu vỡ, cái thai chết ngạt.
Khi ta gieo quá sớm hạt ngô sẽ vì non nớt mà chết. Hạt ngô không có lỗi, lỗi là ở sự nóng vội của người gieo và sự giảo hoạt của ông trời.

Đêm tan.
A Lúi làm lễ gọi hồn cho lúa, gọi những hạt lúa lang thang tìm về nhà. Xì ôm con gà trống. A Lúi đi dọc nương lúa. Xì bỏ sót bông nào, A Lúi sẽ hái cho vào gùi. Trẻ con bâu kín mép cỏ chờ nắm xôi cúng. Không ai nói với ai câu gì cho tới khi tà dương rang chín hạt lúa nằm dưới bụi rau má. Xì giữ miệng túi. A Lúi trút lúa vào, ân cần hỏi:

– Tối qua, Xì ngủ được không?
– C…ó.

Sợ các bà nghe thấy, Xì nói ở trong cổ, miệng không thổi lửa mà hai má đỏ bừng.
A Lúi có việc phải đi bản Vá. Hai người đi hai lối. Lối lởm cởm đá tù, đá nhọn. Lối lá ngón mọc lẫn rau răm. Bóng A Lúi tan vào lũng sương nhờ trắng. Xì ngoái cổ nhìn theo, cái bụng xào xạc như có lá trút.

Mưa về đêm.
Từng đợt gió rồ lên, tạt ướt mép phản. Xì kéo chăn lùi vào. Khuya khoắt rồi cái bụng vẫn dằn dọc. Cộc cộc! Xì gõ vào vách gỗ, dè dặt gọi:
– A Lúi à? A Thòi có nhắn gì tôi không?

Tất nhiên là không! Sao Xì cứ hỏi những câu lạnh như gió thổi qua cái chum không vào mùa giáp hạt? Sao Xì cứ phải là giông lốc để mùa lũ tới lại xói lở, rửa trôi?
Xì phải biết, đàn ông là dúm hạt nằm co ro trong lòng cối, đừng đập vỡ họ bằng những câu hỏi đau như những nhát chày bổ xuống.

Mưa to. Xì soi đèn, dém lại lá chuối che cho bò khỏi ướt. A Lúi đứng ở cửa, đợi Xì vào để hỏi:
– Xì à, trong cái bụng của Xì… có tôi không?

Xì không trả lời. Nốt vụ lúa này Xì sẽ về bản Vá. Có hạt lúa mới biết được Xì đang nghĩ gì nhưng lúa lại chẳng thể nói ra.
Chiều nào, Xì cũng thổ ngô để kịp cho vào nước vôi ấm, ngâm qua một đêm, hầm đỏ kiềng thì hạt ngô bong mày chảy nhựa. A Lúi giằng lấy cái chày, đẩy Xì ngồi xuống khúc gỗ vụn. Mỗi lần được A Lúi đỡ đần, hai má Xì đỏ rụm, muốn đòi lại cái chày mà không biết phải nói thế nào.

“Rầm ầm!” Tiếng đập cửa sao quen lạ? Ngoài sân gió bắt đầu nổi lên. Khói cậy cửa đòi ra ngoài với gió. Xì nhìn A Lúi. Hai chân ở trên đất mà như bước hụt, sa xuống hố. Người Xì hỏi, Xì đợi đã tới… Sao Xì lại đực người ra khi nghe thấy tiếng? Xì đi ra đi.
A Lúi không ngẩng cổ lên, tay vẫn giáng từng loạt chày sấm sét. Hạt ngô vỡ bột. Cối chai lỳ là thế nay cũng thấy đau lòng.
Mặt xơ như củ sắn bị bỏ quên trên rẫy. A Thòi cười nửa mép:
– Sao A Lúi lại giã ngô?

A Lúi không mở mồm, Thòi càng cay cú. Khi một thằng đàn ông thổi lửa thay đàn bà thì có nghĩa y đã nói với thần núi: “Tôi yêu người ấy, tôi muốn làm chồng”. Giữ lấy vai Xì, hắn gẩy bong từng chữ:

– Mày dám yêu thằng A Lúi? Về bản Vá ngay.
“Mùa lúa nương vẫn còn ba ngày”. A Lúi thét lên, tay nắm chặt cổ chày.

Ba ngày thì ba ngày, riêng cái kết này A Lúi không có quyền can dự. Xì theo Thòi ra ngõ, giọng khàn đặc:
– Sao A Thòi giờ mới tới?
– Xùa sắp đẻ. Bố bảo tao đi gọi mày về.

Thòi vẫn ráo hoảnh như độ nào, lúc nào cũng “bố bảo, bố bảo”. Lão Sùng mà chết thì Thòi có đào lão lên để hỏi không?
Người đàn bà đánh đổi thì con gái lấy bát phổi bò đã nằm ổ lần thứ hai còn Xì như hạt lúa rơi xuống gốc rạ, đợi cái mỏ mòn vẹt của chim rừng trờ tới, nuốt vào diều.

Đàn trâu lững thững đi qua quả đồi gầy óp, móng va vào đá để lại vết xước vàng khé. Bản Sáy đua sáng đua tối, nhìn tảng đá lại ra cái mả ăn mày.

Ra tới đường lớn, gặp A Lúi cầm dao quắm, Thòi lùi lại, hét lên:
– Mày muốn giết tao? Mày để mẹ già nằm một chỗ chờ chết?
– Mày im đi. Tao không tới đây để nói về câu chuyện ai ngu hơn ai. Tao tới để hỏi, tao phải làm gì để đưa Xì về?

Thòi gãi nốt muỗi cắn dưới cằm, cười nham nhở. Đàn bà vô giá, biết ra giá nào cho phải, có thể nào lại dễ như các bà đổi đấu thóc lấy con dê. Nếu A Lúi đã vì yêu mà bất chấp, Thòi cũng không nỡ chia cắt con ốc với nhành rêu.
– Đưa cho tao bò và xe máy. Tao chỉ đợi được tới mùa xuân.

Thòi ngửa cổ, cười vang vách đá. Bóng chiều chạng vạng. Cái mặt Thòi toè ra, bám chặt vào rặng đá trắng nhễu.

A Lúi ngồi lên mô đất phủ đặc cỏ may. Gió cuối đông rét như cái quay lưng của người yêu dấu. Mùa lúa nương đã giấu mình vào bao xác rắn, buộc kín cổ lại. Con chuột khịt khịt cái râu đợi người ra khỏi nhà sẽ chạy tới đám thóc vãi. Mùa xuân đã lấp ló ở bên kia dãy Phu Xai. Mưa thôi đì đột và giọt mỏng như một giọng hát vùi sâu trong thung lũng.

Phải chặt bao nhiêu hóp, lợp bao nhiêu mái nhà mới đủ tiền mua xe máy? Phải cõng bao nhiêu bó củi, bán bao nhiêu lứa gà mới đủ tiền mua thuốc tây cho mẹ?

A Lúi trở về, không nói một lời nào, ròng rọc đốt thuốc.
Nghèo không có lỗi gì cả.
Nghèo làm mắt đỏ, khói cay thêm.
Có lẽ nào, anh mất em chỉ vì nghèo?

Mưa liu riu.
Hạt thóc nảy mầm trong cái lỗ đủ dấu một con nhái.
Nấm mọc rễ vào rơm.

Những gốc cây cháy đen chờ sống lại.
Trống vắng hoá thành những nấm mồ chơ vơ, côi cút.
Xì à…, nương lúa gầy rộc này biết mượn cớ gì để giữ chân những con chim?

A Lúi gùi lúa về xếp kín góc bếp, bà Léng đếm đi đếm lại vẫn nhầm số bì. Bà ngủ suốt ba mùa lúa, tiếng rên xước như ống váy quệt qua bụi dền gai. Xì bê cháo tới, thổi phù phù. Kéo Xì lại gần, bà hỏi:
– Mày là vợ của A Lúi à?

Cháo nguội rồi, Xì vẫn thổi. Tiếng “phù phù” đó khiến người nghe chết ngột. Có ai đó đang lấy vữa trát kín những nang phổi, ép cho sự thở của A Lúi phải kết thúc.

Những ngày rét đậm.
Trăng bỏ đi đâu?
Bầu trời đen như tóc.

A Lúi cầm rìu đi, cầm rìu về. Cái chân không trèo qua nổi ụ đá. Cái tay không gỡ được lưỡi câu móc vào mang con cá mát.
Đêm cuối nào cũng giày vò, gào thét. Mọi thứ chực vỡ, chực chảy loang ra các cung đường.

Cái nghèo rụng như lá để gió phải chật vật thổi về một góc sân.

Có khi nào nghèo sẽ xô A Lúi về phía cửa khẩu hẻo lánh. Nơi ranh giới ngày, đêm không tồn tại chỉ có những con đường, thuốc lá và a phiến.

Dúi cho Xì năm mươi ngàn, A Lúi trầm giọng nói:
– Xì đợi tôi. Tôi đi kiếm tiền về hỏi cưới Xì. A Thòi đồng ý rồi.

Sao A Lúi phải khổ thế, tới bao giờ thì A Thòi mới hết khốn nạn? Tình yêu sẽ bị cái nghèo vắt cho kiệt xác, đàn ông lao lực còn đàn bà sẽ hoá đá vọng phu. Đừng ai ghì níu chân ai thêm nữa. Gỡ tay A Lúi ra, Xì găm chặt từng chữ:
– Tôi là ma nhà họ Thào. Tôi phải về.

Câu trả lời như rút ống thở, đẩy A Lúi rơi xuống tận cùng chân vực. Khi không có rượu xâm chiếm, Xì tỉnh tới gai người.
Tình yêu là gì? Tình yêu có thật không hay chỉ là bịa đặt, là thuốc phiện, là cù rủ, là bỏ rơi?

Có yêu nào lại đem vợ gán đi như cái cào, cái cuốc. Có yêu nào lại đồng ý để vợ sống với một người đàn ông tốt hơn mình. Có yêu nào lại gỡ tay ra. Và, có yêu nào lại không thương nhau mà đợi lấy một ngày.

Một đốm lửa loé lên không đủ sức phá vỡ bóng tối đang ngự trị trong sâu thẳm một ngọn núi cô quạnh.
Thóc xát vào người chẳng thể xót bằng sự thờ ơ của người đàn bà tự ruồng bỏ mình bởi những cố chấp, quẩn quanh.
Thôi! Xì đi về đi.

Con bò ngừng giật bụi cỏ, nắng bắt đầu phai trên đoá mua dại mọc ven đường.

Khói ri rỉ bay lên nóc căn nhà lợp bờ rô vỡ. Lão Sùng đốn gốc xoan làm củi, dưới gốc cây này con ngựa già nằm thở mót những hơi cuối, phó mặc cho mùa đông kéo về phía cánh đồng dận đầy đá cuội.

Ba năm. Ba mùa lúa. Thòi vẫn say chỗ cũ. Mặt phù. Mắt hí. Răng mẻ. Khoảng cách từ ngõ vào sân có một tiếng gọi mà xa tới ba quả đồi.

Chiều làm mưa bay.
Lá phai màu.
Tiếng chim quệt vào bông lau trắng muốt.

Xì cởi khăn vắt lên bụi dứa dại, lặng nhìn cái bóng nhỏ thó dưới khúc mương chòng chành khói rấm.

A Lúi bảo, có thể tôi sẽ chết ở con mương trước nhà Xì, đừng bắt con ốc xanh bỏ vào nồi rồi cố thổi lửa lên. Con ốc đó sẽ bò ra khỏi cái vung hở. Xì sẽ bắt nó rất nhiều lần mà chẳng thể nào ngăn nổi việc nó trở về đợi Xì mỗi khi hoàng hôn đổ máu.
Chiếc lá cuối đông trôi theo lạch nước chìm vào màn mây trắng khói. Ngày nào đó hoàng hôn không còn đỏ có phải tình yêu cũng đã ngủ im?
A Thòi nằm cạnh bãi nôn chua loét, ngô còn nguyên hạt. Chó ngồi nhìn ruồi bâu lên bãi ngô, đậu lên đầu chủ. Lão Sùng đá vào lưng Thòi, lớn giọng gọi:

– Dậy! Cái việc mày lấy hai vợ là sai, giờ đẻ con với ai thì đi đăng ký với người đó… Tao sắp lấy vợ mới. Cái nhà này chật rồi, mày ở với một vợ thôi.

Thòi bật dậy:
– Cái hôm đám cưới, cả bản tới uống rượu. Sai sao vẫn uống?
Cái lý của mày đến quả hồng ở sau chuồng bò nó cũng không nghe được. Bị Thòi hỏi vặc lại, lão cầm điếu bỏ đi. Nhà còn ba người, không ai thốt nổi lời nào ra khỏi cái cổ đắng nghét.

Lửa tàn, bóng tối ăn mòn ba khuôn mặt, chừa lại hai hốc mắt đen như bị gấu tát. Xì đợi ở Thòi một lời, mãi nửa khuya hắn mới mở được mồm:

– Xì à… Mày tới chòi lúa ở… tạm.
– Thòi nói rõ ra. Thòi đã bỏ tôi chưa?

Lần thứ hai Xì ném chày vào góc cột. Mắt đỏ kè nhìn Thòi truy vấn. Ai cho Xì nhìn chồng mình bằng ánh mắt dùi đục đó? Ai cho? A Thòi túm tóc Xì, chỉ thẳng mặt:

– Không! Không đời nào tao bỏ mày. Mày chỉ muốn nghe câu đó để về với thằng A Lúi. Mày có biết vì sao tao đòi bò và xe không? Vì tao biết, dù cõng hàng tới truỵ tim nó cũng không thể kiếm được, nếu tất cả đều quy ra ngô thì sẽ chẳng ai mất ai chỉ vì nghèo. Mãi mãi nó không bao giờ có được con đàn bà của tao. Tại sao mày không cam chịu? Tại sao mày lại đem trái tim trao cho người đàn ông không phải chồng mày? Tại sao?

Thòi đá ngã cối. Mặt đỏ như nốc. Máu không kịp thoát về tứ chi, hai hàm răng rung lên. Có thật cái thằng hời hợt, ba phải đó đang ghen tuông không hay chỉ là mèo già giữ đầu cá?

Thòi ngồi lên lưng con chó mẹ. Chó nằm yên cho hắn ngồi. Câu hỏi rơi xuống sàn, lăn vào tro bếp. Thòi à, hãy thôi đổ lỗi và đặt câu hỏi. Tốt nhất hãy bỏ nhà lên núi, sống lấy một ngày cô độc để biết cảm giác bị đàn bà từ bỏ nó đau như thế nào? Biết để làm gì ư? Để không bao giờ phải mắc kẹt trong tổn thương và làm tổn thương người khác.

Xùa bê cái bụng óc nóc đứng ở cửa. Đứa bé co chân đạp, ép những câu hỏi trào ra khoé mắt. Sao Thòi lại phải đau khi Xì ra đi?

Tôi và hai đứa con chẳng phải vẫn ở đây sao? Hãy để Xì đi đi, để tất cả chỉ còn là ký ức rơi xuống thảm lá vàng, hoai mục cùng với nấm và những cơn mưa.

Chúa trời đã ban cho đàn bà một tuyến lệ có khả năng trữ nước như một con sông. Đàn bà vì đàn ông mà rơi lệ nhưng đàn ông lại xem đó là lẽ thường tình. Đến cuối cùng, đàn bà không là của ai cả, đàn bà là của núi.

Đêm lê lết. Gió xát khô cái giẻ treo ở chái hồi. Xì ngồi với bếp lửa lặng thinh, Thòi lảo đảo đi tới:
– Mày dỗ ngọt tao làm vợ chồng. Mày yêu tao trước cơ mà… Tại sao mày lại…? Tại sao?

Thòi ném cái chai vào bóng tối, tiếng chai tắt ngóm sau tiếng éc éc của con chim lợn mới biết bay.
Sương mù về đêm trắng như tóc của bà mế già ngồi đốt củi ướt. Thòi quỳ xuống, khóc tru tru.   Hãy cứ để hắn khóc, nước mắt sẽ chữa lành cho những vết roi.

Mặt trời bò xuống chân núi Pua Mạ. Ráng đỏ chạy dọc thung khe. Một dòng mắc ma trào ra khỏi họng núi.
Bản Sáy ở kia, lối mòn ôm sát eo núi.

Xì miết tay lên miệng cái thùng phi, con chẫu chuộc đã không còn ngồi chầu hẫu rình con muỗi. A Lúi đưa mẹ đi đâu để cái cối trống trơn, cái phản lên mốc trắng?

Chim liệng về núi, bơ vơ rải đá trắng lên những con đường.

Con thú hoang có hang có hốc, hạt lúa rơi cũng có chốn đi về. Xì đưa lúa về nhà, ai sẽ đưa Xì về? Gió có thể thụ phấn, đưa hạt đi xa nhưng không thể giúp người hết cơ nhỡ.

Đêm im gió.
Xì chong mắt đợi trăng đi qua lỗ thủng trên mái nhà. Nửa đêm. Trăng chảy vào cái lỗ, in bóng xuống sàn đất. Con chuột chạy tới nằm vào chấm sáng, trăng lẫm chẫm trôi qua dúm lông màu bã mía.

Xì ngủ say rồi.
Má vẫn đỏ như một lời hứa.

TRANG THỤY

Truyện ngắn dự thi Báo Văn Nghệ 2022-24

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *