Duy Thảo miên man tìm bến cũ

Vanvn- Cho đến nay Duy Thảo có trên 50 năm làm thơ, viết báo. Hàng ngàn bài báo đã đi theo sự kiện và thời gian. Chín tập thơ từ Lời tin yêu, Lối Xanh, Sau mùa lá rụng, Bến mặn đến Mưa ngâu, Lộc vừng, Góc chiều, Nỗi xưa rồi Đi dọc lối xanh thì ở lại, và tôi tin nó còn ở lại với đời lâu hơn nữa bởi một lẽ giản dị: Duy Thảo nhận ra mình viết cho ai?…

Nhà thơ Duy Thảo

Duy Thảo sinh năm Mậu Dần (1938), tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, tổng Việt Yên nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ. Học xong phổ thông Duy Thảo dạt ra Vinh tìm kế sinh nhai. Đầu năm 1962 anh nhập ngũ vào binh chủng Phòng không, làm lính tiêu đồ viên, sau đó chuyển làm pháo thủ 57 ly từ số 6 đến số 1, rồi khẩu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó… Trung đoàn pháo cao xạ 280. Đấy là những năm tháng gian nan, sống chết liền kề nhưng đầy nghị lực và khát vọng. Duy Thảo nói, cái may mắn cho đời văn chương của anh là thời gian ở quân chủng Phòng không được chiến đấu, sinh hoạt cùng những người đồng đội làm văn chương tài hoa như Đỗ Chu, Duy Khán, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Tri Huân, Nguyễn Khắc Trường, Dương Duy Ngữ…

Năm 1972 Duy Thảo rời quân ngũ chuyển về  Hà Tĩnh. Cô vợ hiền thục Nguyễn Thị Phước, người Yên Lãng, Vĩnh Phúc bồng bế con theo chồng. Nhà ở làng, vợ con ở làng, còn Duy Thảo làm Thư ký Tòa soạn Báo Hà Tĩnh, rồi Báo Nghệ Tĩnh, hết ở thị xã Hà Tĩnh lại ra thành phố Vinh. Những năm 70 của thế kỷ trước, đầy cam go. Một mình Duy Thảo trong một căn phòng của khu tập thể nhà Báo, giữa sách báo, nồi niêu, mì hột, muối, mắm… Hầu như ngày nào cũng nhai mì hột, cũng canh rau cải nấu ruốc bể mà Báo vẫn ra đều, chỉn chu, vẫn văn thơ, vẫn say mê mọi chuyện đông tây, kim cổ, còn diện áo trắng, quần xanh, cổ chặt ca-ra-vát đỏ đi ngược gió Lào, đọc thơ nơi này, nơi kia. Hàng tuần cứ đến chiều thứ bảy, Duy Thảo lại lên xe đạp về nhà ở Đức Thọ cách xa hơn ba chục cây số, rồi chiều chủ nhật lại lóc cóc đạp xe đến cơ quan vùi đầu vào công việc, lại mì hột độn cơm, có khác hơn là thêm hến Chợ Thượng, nhút mít, nhúm lạc rang cháy vỏ người vợ gói ghém kỹ lưỡng bằng lá giong giềng và lá chuối khô. Anh lại gọi tôi đến, bảo chiêu đãi tình quê. Vừa ăn vừa khen ngon. Cái gì cũng ngon, mặn, nhạt, đắng chát chi cũng ngon. Thiếu và đói ngày này sang ngày khác. Vừa ra khỏi chiến tranh lại rơi vào cơn bão bao cấp, chứ đâu phải lười nhác.

Mãi sau này khi đọc những câu thơ anh viết về người mẹ tần tảo hồn hậu, bao dung, người vợ đảm đang tháo vát và mảnh đất quê hương gian nan mà đầy hương vị, sắc màu tôi mới hiểu được niềm vui của anh mỗi chuyến về nhà. Làng Đông Thái quê Duy Thảo nằm ven chân đê La Giang, ngoài đê là sông La hợp lưu sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố đẹp nổi tiếng miền Trung. Trong làng đình, chùa, miếu mạo cổ kính, những lối ngõ xinh xắn, những ngôi nhà nhỏ giản dị dưới bóng cây âm thầm. Đủ các loại cây, giống cây trên rừng, giống cây ngoài đồng, giống cây ngoài bãi sông. Bà con, láng giềng của Duy Thảo làm ruộng, cào hến, dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, làm bánh đa, bánh đúc, làm miến, bún, kẹo lạc, kẹo vừng… và đi đò dọc và hát ví trên đê, trên sông.

Duy Thảo thường kể về những chiều mùa hè, sông La như dải lụa xanh biếc, đây đó óng ánh sắc đỏ của ráng trời; những đêm trăng suông đủ rắc vàng trên ngọn cỏ may dọc bờ đê thầm lặng; những mưa bụi bạc trắng trên bãi dâu, ruộng mía; những nắng tơ trên lá tre, lá nhãn và tiếng gió reo trong kẻ hở rồng bay, hổ phù nơi đền thờ các vị danh nhân xưa cũ. Rồi tiếng ví đò đưa ướt mướt vỡ oà giữa trời cao, rụng xuống, lan ra, len lỏi vào cả trong giấc ngủ. Rồi những ngày lễ hội, đường làng rực màu xanh, đỏ, tím vàng trong làn mưa như sương khói… Nhà thơ kể về những nhà nho đầu đầy chữ thánh hiền phe phẩy quạt mo, lặng nhìn khu vườn cũ, về những người nông dân cần mẫn đi sau những con trâu gầy, sì sụp giữa đồng ruộng ngầu ngầu bùn đen, về mẹ, về người tình cũ, về cô bán hoa bên đường phố, về một cơn mưa, về một mảnh vườn, về một hạt đỗ nẩy mầm, về chút lạnh trên lá giong giềng trong sương lạnh tiết giêng, hai… cứ thủ thỉ mà ai cũng muốn nghe:

“Lãng đãng mây trời quê

Bóng đổ dài bờ đê

Miên man tìm bến cũ

Lành lạnh chút thu se”

 

“…Ngày ấy em đi theo giận dỗi

 Heo may tráng lạnh lá giong riềng

 Hạt đỗ nép vào khe đất hở

Ơ hờ nằm đợi tiết ra giêng.

“…Lối đâu xóm dệt lên đèn

Sương giăng tiếng vạc kêu đêm não nùng

Canh khuya bên ngọn bấc lùng

Câu Kiều mẹ lẩy theo chừng thoi đưa”.

Người ta muốn nghe bởi ngọn nguồn cái mới lạ trong những cái quen thuộc gần gũi của cuộc đời, của bao con người:

“Ngọn nguồn rau má, rau lang

Ngọn nguồn mái dột vách che

Ngọn nguồn chiếc áo nâu sồng

Ngọn nguồn nước mắt phân chia

Ngọn nguồn chữ hiếu chữ tình…”

Tôi cứ hình dung Duy Thảo lặng im ngồi trên bờ đê sông La, suy nghĩ, thổn thức về những gì đã qua, những gì hiện hữu, những gì sắp đến. Mãi mãi như thế.

Cho đến nay Duy Thảo có trên 50 năm làm thơ, viết báo. Hàng ngàn bài báo đã đi theo sự kiện và thời gian. Chín tập thơ từ Lời tin yêu, Lối Xanh, Sau mùa lá rụng, Bến mặn đến Mưa ngâu, Lộc vừng, Góc chiều, Nỗi xưa rồi Đi dọc lối xanh thì ở lại, và tôi tin nó còn ở lại với đời lâu hơn nữa bởi một lẽ giản dị: Duy Thảo nhận ra mình viết cho ai? Nhận ra.

“Cái thời tôi viết cho tôi

Cái thời tôi viết theo tôi

Cái thời tôi viết nhắc tôi”.

Trách nhiệm với con người với cuộc đời, trung thực với mình với con người với cuộc đời lắm mới viết ra vậy. Tôi đã thấy được như thế ở thơ Duy Thảo, ở dấu ấn ảnh hưởng thơ anh vào thơ của các bạn trẻ, ở dư âm thơ anh để lại trong lòng đông đảo bạn đọc.

Năm Duy Thảo sang tuổi bảy mươi hai. Đang yên lành thì vợ  gặp cơn bạo bệnh. Con cái ở xa, anh chạy ngược chạy xuôi, người đã gầy càng gộc đi. Vậy nhưng trên khuôn mặt hằn đầy nếp nhăn, đôi mắt đuôi dài cứ không thôi cười, cái miệng cứ không dứt cởi mở. Mờ sáng đã thấy anh xình xịch xe máy lên Bưu điện giao dịch thư tín với bạn bè văn chương, báo chí, rồi gói to, gói nhỏ ở chợ về và hì hụi, lục cục nấu nướng, rồi còng gập lưng trên máy vi tính, hết Google sang Email… Vẫn cứ thơ, cứ báo. Hôm vừa rồi anh rủ tôi vào cái quán cà phê sùm sụp bên đường Nguyễn Công Trứ. Hai anh em tìm đến cái bàn trong góc. Và ngồi xuống. Và im lặng. Duy Thảo nhìn ra đường phố cứ như không chỉ mỗi hai con mắt mà toàn bộ con người anh nhìn ra đường phố. Chẳng biết anh ta nhìn gì, nghĩ gì. Chợt đọc:

“Người đi hái lộc cành tơ

 Ta quanh quẩn gốc quét mùa lá rơi.”

Tôi nói, buồn quá. Duy Thảo quay lại, tôi lại bắt gặp cái nhìn trìu mến, sắn sàng thân thiết của anh ba mươi năm trước. Rồi anh cười nhẹ nhàng nói, ờ, có buồn, nhưng lá cứ rơi mà chẳng lẽ tất cả mọi người đều đi hái lộc ư?

ĐỨC BAN

__________________

Nhà thơ Duy Thảo tên thật Phan Duy Thảo, sinh 3.6.1938 quê quán xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, hiện phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004.

* Quá trình công tác:

– Từ năm 1958-1962 thoát ly gia đình làm công chức Nhà nước ở ngành Thương nghiệp tỉnh Nghệ An.

– Từ 1962-1972: Nhập ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm chiến sĩ, sĩ quan quân đội, phóng viên chiến trường tại Quân chủng Phòng không – Không quân.

– Từ 1972-1991: Chuyển ngành, làm cán bộ tuyên huấn Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh; rồi được điều động về làm Phóng viên, Biên tập viên Báo Hà Tĩnh, Thư ký tòa soạn Báo Nghệ Tĩnh.

– Sau chia tỉnh 1991-1998: Là Phó Tổng biên tập kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Hà Tĩnh người làm báo thuộc Hội Nhà báo tỉnh Hà Tĩnh.

– Từ 1998 đến nay: Nghỉ hưu, tiếp tục làm Trưởng Văn phòng đại diện Báo Khuyến học & Dân trí, Báo điện Tử Dân trí khu vực Bắc miền Trung.

Tác phẩm đã xuất bản: 10 tập thơ

– Lời tin yêu (in chung), Hội văn nghệ Nghệ Tĩnh 1976

– Lối xanh, Nhà xuất bản Văn hoá 1991

– Sau mùa lá rụng, Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin 1997

– Bến mặn, Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin 2000

– Mưa ngâu, Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin 2002

– Lộc vừng, Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin 2004

– Góc chiều, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2004

– Nỗi xưa, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2008

– Đi dọc lối xanh, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2008

– Mưa giao mùa, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2014

– 80 bài thơ Duy Thảo, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2018

* Giải thưởng:

– Giải Nhì ca dao Nghệ An 1963

– Giải Nhi thơ Nghệ An 1964

– Giải Đặc biệt thơ chống Mỹ cứu nước cho bài “Mừng chiến thắng trời quê” 1968

– Giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập “Đi dọc lối xanh”.

– Giải Văn học Nguyễn Du các lần 1, 2, 3, 4 (5 năm 1 lần) cho các tập: Cành xanh lá xanh, Lối xanh, Sau mùa lá rụng, Mưa ngâu, Lộc vừng và Nỗi xưa

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *