Đọng mãi “Lời yêu” của Trần Đàm

Vanvn- Đi sâu tìm hiểu nét khái quát tập thơ, tôi có cảm nhận ngay từ “Ngày ấy” đến bây giLời yêu” trong thơ ông vẫn đằm thắm nồng nàn cháy bỏng. Luôn bộc lộ những “khát khao giao cảm” với đời, với thiên nhiên với người mình yêu. Và là mạch nguồn cảm xúc khởi đầu cho mạch chảy bất tận cho cả tập thơ. Vâng! Thơ ông là thế. Vẫn là con tằm nhả tơ kết tinh cho đời những giọt thơ trong suốt.

Nhà thơ Trần Đàm

Lang thang dạo chơi vào miền thơ tìm gặp các thi sĩ, bỗng tôi bắt gặp hình ảnh một người đặc biệt có mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Tò mò đi tìm danh tính trên trang, cốt yếu xem thiên hạ đồn về ông có đúng đa tài không? Và thế rồi, vào một buổi chiều cuối năm, không hiểu cái duyên có từ bao giờ, tình cờ tôi đã gặp ông cùng trong một chuyến đi thực tế sáng tác ở Sầm Sơn và Quảng Xương, Thanh Hóa. Ông chính là nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo, nhà thơ Trần Đàm.

Với cái tuổi bát thập, nhưng trông ông còn minh mẫn và tinh anh lắm. Nở nụ cười trên khuôn mặt phúc hậu, ông đã trao tôi cái nhìn thân thiện như đã quen từ lâu. Tôi rất vui khi được ông tặng tập thơ “Lời yêu” – NXB Hội Nhà văn 2018. Tập thơ in đẹp. Gồm 138 trang với 87 bài thơ. Tôi đã đọc kỹ và lướt qua đôi nét về cuộc đời sự nghiệp của ông, mới thấy tiếng đồn quả không sai. Ông đến với thơ như một cái duyên, với đặc tính yêu văn chương từ hồi còn trẻ. Đến nay đã xuất bản 3 tập thơ: “Dâng mẹ”, “Xuân lòng” “Lời yêu”.

Ông cho rằng: Trên sân chơi của đời thường, sáng tác thơ tặng bạn bè cũng là một thú vui. Vì thơ chính là cuộc đời. Là những nốt trầm xao xuyến mà người làm thơ muốn trao gửi tâm sự nỗi niềm đến mọi người để giãi bày tâm sự, kể cả những thầm kín mà chỉ có những người cùng cảnh trạng mới thấu hiểu. Còn tôi, sau khi đọc thơ ông, tôi coi tác phẩm “Lời yêu” thơ Trần Đàm là món đặc sản trong cái thú chơi tao nhã mà ông đã đem đến cho mọi người thưởng thức rất độc đáo.

Tập thơ “Lời yêu” của Trần Đàm

Tập thơ “Lời yêu” của ông là một trang đời trải nghiệm trong những chuyến đi. Là những phút giây tỏ lòng tâm sự trước cuộc sống đa dạng sắc mầu mà ông bắt gặp. Khi thì nồng nàn tha thiết, lúc lại bâng khuâng trong những câu chuyện mà ông đã thầm yêu trộm nhớ. Kể từ hồi còn trẻ đến bây giờ, thơ ông vẫn thế, vẫn dạt dào cảm xúc. So với các tập thơ trước, đến “Lời yêu” có độ đằm thắm và sắc sảo hơn. Tính triết luận không kém phần sâu sắc trước cái nhìn thời cuộc.

Đi sâu tìm hiểu nét khái quát tập thơ, tôi có cảm nhận ngay từ “Ngày ấy” đến bây giờ “Lời yêu” trong thơ ông vẫn đằm thắm nồng nàn cháy bỏng. Luôn bộc lộ những “khát khao giao cảm” với đời, với thiên nhiên với người mình yêu. Và là mạch nguồn cảm xúc khởi đầu cho mạch chảy bất tận cho cả tập thơ. Vâng! Thơ ông là thế. Vẫn là con tằm nhả tơ kết tinh cho đời những giọt thơ trong suốt.

Với bài thơ mở đầu “Lời yêu ngày ấy bây giờ” có sức gợi, tạo sự chú ý ngay từ phút đầu, khi mà người con trai đã hóa thân vào người dân bản để thể hiện  những khát khao. Đó cũng là sự trẻ trung, giàu nhiệt huyết của chàng trai: “Ngày ấy mày coi tao như mảnh trăng non/ Như búp măng mới nhú trong vườn/ Như nước suối ngọt khi mày khát/ Như cây cầu tre nối hai bờ thác”.

Bằng chất liệu ngôn từ mộc mạc kết hợp với tính từ gợi cảm, đã hình tượng hóa đối tượng chủ thể trữ tình, mang đến sắc màu mới. Những hình ảnh trong vắt “Mnh trăng non”, “Búp măng mi nhú” đi vào thơ cứ ngọt ngào, da diết như câu chuyện cổ làm ánh lên vẻ đẹp của chàng thanh niên căng tràn nhựa sống. Và cũng từ “Ngày ấy” trên những ngọn núi cao, anh đã chứng kiến sự run rẫy khi “mày cầm tay tao”. “ Mày là của tao”, “vì mày nói dân bản nghe hết”. Nặng ân tình từ những rung cảm đầu đời. Khát vọng cháy bỏng con tim, đã rung lên tiếng đàn bằng thơ xao động “Ngày ấy/ Mày nắm tay tao mày còn run/ cài cúc cho tao mặt mày đ l”. “Lời yêu” như một lời trách cứ, nhưng sức nặng ân tình rất lớn lao. Nhiều câu chữ là lời bộc bạch rất dễ thương, mang đặc trưng của người dân tộc, rất mộc mạc nhưng lắng động bồi hồi.

Ngày ấy,

tao không vượt được ngọn núi cao

không bỏ được cầu thang gỗ nhỏ

không rời được máng nước róc rách

không xa được mùa nương nếp

nên tao mất mày

có giá trị mang tính khái quát cao:

Nhìn ảnh của mày bụng tao sôi lật

Đc thơ của mày ngực tao rung trống

Nhìn lũ bạn thương mày đầu tao vui sướng

Tao không phải của mày

Nhưng mày mãi là của tao

Hết c đi, mày ở nguyên trong ngực tao”.

Câu thơ như rượu ngon, càng uống càng nồng, càng say, càng thao thức. Là men tình say đắm. Hình như cái duyên ấy, cứ nối dài cảm xúc. Nó không dừng lại ở ngôn từ sắc cảm mà còn âm vang bởi những âm thanh vọng vào đá núi trong bài thơ “Tiếng khèn”.

“Tiếng Khèn vọng vào vách đá

ngân xa, ngân xa.

Tiếng khèn trèo lên sàn nhà

rót vào tai m rót vào tai cha

rót đầy chum rượu

rót đy ngc em”.

(Lời yêu ngày ấy …bây giờ)

Hình tượng tiếng khèn như một đặc trưng. Nó là âm thanh của núi rừng vọng vào vách đá, ngân xa, ngân xa rồi quay về với ngôi nhà sàn ấm lửa. Đó là cả một sự sáng tạo trong sử dụng thi ngôn, thi ảnh của ông. “rượu rót đầy ngực”. Có lẽ cả nhà, cả bản đều có chung cảm nhận từ tiếng khèn, họ đã hiểu nhau, yêu quí nhau đến độ thắm thiết không rời nên họ đã uống say. Mà uống say là đỉnh của tuyệt vời. Cái mới trong thơ ông ở đó. Con chữ đã dùng đắc địa, đẩy tứ và ý cùng cảm xúc thăng hoa hơn lúc nào hết. Thơ hay cần phải có những câu thơ xuất thần như thế mới tạo nên vẻ đẹp, kéo theo mạch  nguồn cho hình tượng thơ tỏa sáng. Men ngấm rồi khi được rót đầy vào ngực em thì họa chăng bão có đến thì tình vẫn say, vẫn rực lửa, không thể nào xóa được. Cái đỉnh tận cùng đã đưa thơ lên đỉnh của cái hay cái đẹp. Đây là phong cách thơ Trần Đàm mà người đọc rất thích thú.

Dọc theo thời gian, trong những bài thơ biểu lộ tình yêu, Trần Đàm thường xây dựng tứ thơ trên cơ sở cảm hứng thực tại. Đến với vùng miền lãng đãng sương giăng trên đỉnh Pù Luông, còn có hình ảnh đẹp trong cách miêu tả đậm chất thẫm mĩ: “Trăng nghiêng rọi vào mắt lá

Để tay giữ chặt bàn tay.

Phù Luông xanh ngắt rừng cây

Suối reo róc rách đêm ngày

Em là nàng tiên ở đấy

Ta về lòng ngấm men say

(Trên đỉnh Phù Luông).

Với con mắt thi sĩ, nàng thơ đã đậu trên những “Chòm đốc” bản làng. Ở đó, thơ ông như được cắm rễ, được nuôi sống từ mạch đất của núi rừng xanh biếc. Của những ruộng bậc thang mà ông đã có những phút giây thăng hoa ghi lại bằng máy ảnh của mình. Bài thơ “Chòm đc chiu cui thu” mà ông đạt giải trong cuộc thi thơ, đã nói lên những cung bậc cảm xúc rất đáng tự hào. Là dấu vết ghi lại tình cảm thủy chung trong một lần ông trở lại thăm chốn này, sau nhiều năm xa cách. Thế rồi tình yêu và nỗi nhớ đã ùa về trong ký ức. “Người đâu khói bếp ngẩn ngơ/ Một luồng gió lạnh vương bờ vai em”. Một câu hỏi tu từ đặt vào khoảng trống “Người đâu” mà chỉ có khói bếp ngẩn ngơ. Cái thần của câu thơ là vương vào cảm xúc. Cảnh cũ thì vẫn còn đó nhưng người xưa thì ở đâu rồi? “Một luồng gió lạnh vương bờ vai em” như nói lên tất cả tâm trạng của ông. Một nỗi nhớ như có gì xa xót chạm vào ký ức làm lay thức ông đến nao lòng. Ông đã đặt “dấu lặng” vào thơ, tạo thêm hình ảnh cho yếu tố bất ngờ. Những từ tượng hình, tượng thanh cứ lung linh trong cảm xúc dâng trào: “Vẫn còn đây cái nắm tay/ Vẫn là đây những tháng ngày bông lau/ Bờ sương bịn rịn áo nâu/ Suối sâu không bóng mây màu thiên di”. Cách sử dụng nhịp điệu, gieo vần, từ ngữ tinh tế đã nói lên cái tài của ông trong sáng tạo, mới có những vần thơ lục bát hay như thế.

Ở bài thơ “Chiều bến En”, tác giả như đắm chìm, thả hồn trong cảnh đất trời sông nước. Nhà thơ như hóa thân vào nơi này để biểu lộ cảm xúc. Tôi cho đây là một bài thơ hay có nhiều nét đẹp trong ý tưởng, từ cách sử dụng ngôn từ.

“Chiều Bến En ngã mình trên thảm cỏ

 Nghe thanh âm ríu rít chuyền cành

Ly rượu mềm uống cạn giữa trời xanh

Mắt của núi của rừng thao thiết thế?

(Chiều Bến En).

Với bút pháp đặc tả hòa theo cảm xúc, hình ảnh Bến En trong thơ ông cứ hiện lên như gợi về một thời xưa cũ, để khắc họa cái bóng dáng của rừng cây cổ thụ soi bóng xuống mặt hồ để buông thả những lời tình tự. Câu thơ có hình ảnh của núi rừng, có men say của tình người in bóng. Vừa đặc tả cái chất thi sĩ vừa gợi lên không gian thi ca trong cảm nhận “Chiều Bến En lá chao trong mắt trẻ/ Thảm tre già che khuất mấy ngàn năm”. Thẩm thơ Trần Đàm, thấy ông là người có cái chất nghệ sĩ như cái nghiệp đã vướng vào đời. Rồi những phút tĩnh lặng, suy ngẫm khi nhìn về đời sống xã hội có phần xô bồ. Chất ngông trong thơ ông không bị lấn át mà ngược lại đã có nhiều câu thơ hay, thêm phần hấp dẫn.“Chẳng còn trai tráng lực đin/ Chng còn rủng rỉnh túi tiền như xưa”. Nhưng ông vẫn quan niệm. Cái quí nhất ở trên đời là bạn bè vẫn giành tình cảm cho nhau. “Thế mà vì nghĩa vì tình/ Anh em bè bạn hết mình cho nhau.”. Đến đây tôi như bị khuất phục, bởi những câu thơ đượm mầu ân nghĩa của ông đối với bè bạn thật cao quí, thủy chung.

Với văn chương, ông luôn giành một khoảng lặng để chiêm nghiệm cuộc đời với thế sự. Dẫu cho dòng đời cuộn chảy, hình ảnh quê hương vẫn luôn đọng lại thơ ông những gì đẹp nhất, đó là “Hồn làng”. Chả thế mà nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết “Muốn tìm thơ hay, thơ thứ thiệt hãy về với gốc quê”. Đối với Trần Đàm, không phải ngẫu nhiên mà ông có một “Hồn làng” da diết vời vợi như thế! “Có theo câu hát thì theo/ Không theo tim cũng đã neo hồn làng” (Hồn làng).

Bạn bè, đồng nghiệp và người thân chúc mừng tác giả trong ngày ra mắt tập thơ

Chuyên đề Văn học xứ Thanh:

>> Chùm thơ Mai Hương: Giữa ngổn ngang chữ nghĩa

>> Nhà văn Kiều Vượng với trường đại học Hồng Đức

>> “Màu tím hoa sim” – Bi kịch của Hữu Loan

>> Cảm nhận khi đọc “Mạch ngầm con chữ” của Thy Lan

>> Chùm thơ Anh Dũng: Ăn sương muối gội sương mai

>> Linh hồn xứ Thanh

>> Những đặc sắc của văn học Thanh Hóa

>> Nhà thơ Lâm Bằng với miền biên ải xứ Thanh

>> Chùm thơ Sơn Ca: Em chẳng muốn tình yêu là lửa nhỏ

>> Những nét tinh hoa văn hóa xứ Thanh

>> Nhà thơ Huy Trụ – Lòng như suối cạn sao đành với thơ

>> Chùm thơ Phạm Tiến Triều: Thơ vọng hang vang núi

>> Văn Đắc – thơ một cõi tình

>> Ngôi nhà vui vẻ nơi xứ Thanh yêu mến

>> Hữu Loan và những người đàn bà thứ hai

>> Người không đợi trước – Truyện ngắn của Ngân Hằng

>> “Nghệ thuật ca dao” của Minh Hiệu từ cái nhìn đối sánh

>> Chùm thơ Phạm Văn Dũng

>> Có một vùng văn học xứ Thanh

>> Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh – Kết nối tình yêu văn chương nghệ thuật

>> Một cuộc hội ngộ ý nghĩa của văn nghệ Xứ Thanh 

Là người Việt Nam, ít ai không có trong tâm tưởng “Hồn làng”. Với Trần Đàm “Hồn làng” là những hình ảnh thân thuộc gắn với bờ ao, cỏ cây hoa lá. Những tiếng gà báo sang canh trong những buổi sớm sương mai vơi đầy nỗi nhớ.

Cây lộc vừng vịn bờ ao/ Hoa buông mặt nước cành chờ áo ai/ Tiếng gà gáy một canh dài/ Hồn làng đánh thức sương mai vơi đầy”(Hồn làng)

Giọng điệu thơ Trần Đàm có nét riêng. Phép liên tưởng linh hoạt. Phải nhìn sâu vào nội lực thơ ông mới thấy hết cái hay, cái đẹp trong cách sử dụng hình ảnh. Đặc biệt là các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, câu hỏi tu từ…Bài thơ “Mặt sông”. Đây là bài thơ vừa trữ tình vừa mang tính triết luận. Nếu như bài thơ “Sông quê” của nhà thơ Lê Huy Mậu thực sự lay động lòng người có nhiều câu thơ hay hóa nhạc thì thơ Trần Đàm cũng day dứt ám ảnh đáng nhớ:

“Mặt sông lúc lặng như tờ

 Lúc cun sóng d lúc l đ trôi

 Mặt sông vỡ nát lòng tôi

 Khi xa thì quắt khi vơi trải lòng”

(Mặt sông).

Đi sâu giải mã mảng thơ tình ông viết thấy có nét lạ. Nhiều câu thơ ông viết cứ ám ảnh giăng mắc sự đời. Giữa cái lạ, cái thực cái mơ trong cõi người cứ đan xen quyện vào nhau. Hình như trong dụng ý nghệ thuật, ông cố tình xây dựng chi tiết thẩm mỹ như một cách gợi thêm sự chú ý thông qua hình tượng ngôn ngữ trong đặc tả. Từ ánh mắt đến hành động nhằm khắc họa đối tượng miêu tả, cốt yếu đẩy cảm xúc lên cao trào để tìm về cái mơ mộng thực tại đến tận cùng của đời sống mà con người luôn vươn tới.

“Mình gặp nhau suốt chiều mưa

 Nón nghiêng áo tím đung đưa mạn thuyền

 Hút hồn anh trong mắt huyền

Lửa tình cháy đỏ rực miền Cố Đô”.

(Đêm sông Hương).

Người đẹp hút hồn, mà lại hút hồn nghệ sĩ đa tài như ông mà ông không vướng mới là chuyện lạ. Chính vì vướng nên ông mới có những câu thơ mãnh liệt như thế!

Trong bài thơ “Hoa gạo và em” không những hay ở tứ mà còn hay ở tính tư tưởng bùng cháy trong cảm xúc. Với Trần Đàm, hoa gạo chính là nhân chứng của tình yêu. Gắn với hồn làng, với sông quê, với những triền đê xanh bờ ngọn cỏ bao giờ cũng nhập hồn vào thơ ông như một định mệnh.

Ta cài lên mái tóc em yêu

Vòng xuyến đỏ hoa tươi mùi đồng nội

Em nép mình vào ngực ta nóng hổi

Tay trong tay nắm chặt đến không cùng”

(Hoa gạo và em).

Nếu xem thơ Trần Đàm phảng phất những câu thơ đậm chất ngẫu hứng mới lạ trong cách xây dựng hình ảnh để biểu đạt ý tưởng, vẫn hoàn toàn đúng: “Ông trời xô dọc xô ngang/ Lấy tơ buộc lại để nàng gặp ta/  Nụ thơ vừa nhú kiêu sa/ mắt vừa gặp mắt đã xa nhau rồi/ Con tim thao thức bồi hồi/Mà không thốt được nửa lời cùng nhau/ Đành thôi im lặng để sau/ mong ngày lại nhớ cho nhau hẹn chờ”(Vô đề)

Về mảng thơ thế sự, ông còn có nhiều bài về góc nhìn di tích lịch sử, dấu vết các vùng văn hóa trên đất nước. Những bài thơ ấy, luôn đượm sắc thái biểu cảm có mặt ở khắp các vùng miền trong những chuyến đi. Như bài: “Cửa Thần Phù”,“Thăm cụ Nguyễn Du”,“Viếng mộ cụ Hữu Loan”.“Trước đàn Nam giao”,“Thăm đền Lê Hoàn”,“Cảm tác thành nhà Hồ”. “Chiều thu Lam Kinh”,“Tháng tư Trần Khát Chân”.v..v..

Các bài ở dạng thơ này nhiều bài ông viết dưới dạng thơ Đường.Tôi rất thích bài thơ mưa trên thành đá:

Nghìn thu đá ngủ phủ rêu xanh/

Lác đác mưa bay ướt cổ thành/

Kiệt tác thành Hồ vang thế giới/

Danh nhân đt Vit rng tri xanh”…

(Mưa trên thành đá).

Trong hành trình thi ca, từ khi tuổi trẻ đến khi nghỉ hưu, ông luôn khao khát nặng lòng với thơ. Chính vì thế, ông có nhiều bài thơ hay ca ngợi những cảnh sắc tươi đẹp nhiều vùng đất nước đang đổi mới từng ngày. Bài thơ “Thành phố tôi yêu” là một khúc ca vui, đọng lại những câu thơ hay. Tôi muốn trích dẫn để khẳng định thơ ông có nhiều bài xứng đáng trụ lại với thời gian, góp cho người đọc hiểu thêm và yêu hơn phong cách thơ Trần Đàm:

Thành phố tôi yêu

Nơi chim Hạc tìm về làm tổ

Để ngàn năm bay trên mặt trống đồng

Nơi sông Mã oằn mình dậy sóng

Cuồn cuộn phù sa bồi đắp triền bờ

Văn vắt xanh trong tháng ngày nắng hạ

Câu hò dô cháy sáng những lưng trần

(Thành phố tôi yêu).

Có thể nói, thơ Trần Đàm có chiều sâu của ý tưởng. Nhiều lớp nghĩa trong thơ đan dày cảm xúc. Đã kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực với chất lãng mạn của thi ca. Tính tự sự và tính trữ tình đan kết có đầy đủ dư vị ngọt ngào. Tất nhiên nhìn cả tập, vẫn còn một số bài cần phải chọn lọc từ ngữ tinh xảo hơn.

Nhìn chung, với “Lời yêu”, ông đã có một thế giới quan trong cách nhìn, cách cảm về cuộc sống hiện thực khá thành công. Nhiều bài thơ trữ tình đã rung động trái tim người đọc. Đọc xong, ta có cảm nhận thi sĩ Trần Đàm là một người viết thơ tình có nhiều ưu điểm. “Lời yêu” chính là mạch nguồn cảm xúc, đã chạm mạnh vào bờ sóng của thi ca. Chính cái lạ ấy càng làm cho tôi và nhiều bạn đọc muốn khám phá những điều bí ẩn trong thơ ông: “Giờ con tóc trắng mây bay/ Chỉ còn hoài niệm những ngày xa xưa/ Gói đời vào những câu thơ/ Vịn tay vào những vu vơ mà cười” (Lục bát hoài niệm).

Thơ Trần Đàm là thế! Dẫu cho bể dâu biến cuộc, ông vẫn cười, vẫn vui, vì ông nhìn sự đời luôn thấu tỏ. Để mở những câu thơ mà ông “gói đời” vào đó là cả một câu chuyện thú vị đang chờ người đọc tiếp tục giải mã. Hy vọng trong tâm khảm mỗi người, khi đọc tập thơ “Lời yêu” của nhà thơ Trần Đàm sẽ ngày càng yêu hơn. Nó là những nụ hoa kết tinh cho đời những bông hoa đẹp, góp cho dòng chảy thi ca trên văn đàn thêm một hương vị mới.

TRNH VĨNH ĐC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *