“Diễn giỏi trong đời sẽ diễn tồi trên sân khấu”

Vanvn- Cuộc trò chuyện này với NSND, đạo diễn Doãn Hoàng Giang được thực hiện từ hơn 20 năm trước. Tôi và nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã “song kiếm hợp bích” đế cùng đối thoại với người mà chúng tôi nghĩ là một trong những đạo diễn hàng đầu của nền sân khấu nước nhà. Tối nay, hay tin ông vừa qua đời, xin giới thiệu lại nội dung nhũng gì đã có một lần hạnh ngộ được trao đổi cùng ông. Thành kính phân ưu! “

NSND, đạo diễn Doãn Hoàng Giang (1938 – 2023). Ảnh: TL

* PV: Anh là một số ít những diễn viên mà lại thành đạt trong nghề đạo diễn. Thông thường các diễn viên chuyển sang nghề đạo diễn thường không thành đạt, bởi vì đạo diễn là một thiên chức khác, đúng không anh?

– NSND Doãn Hoàng Giang: Đúng, hai cái đó hoàn toàn khác nhau. Nhiều người cứ hay nói là diễn viên giỏi rồi lên đạo diễn, thật ra không phải. Có những người diễn viên giỏi nhưng muôn đời không làm đạo diễn được.

* Cũng như có những đạo diễn giỏi nhưng không bao giờ làm nổi diễn viên?

– Vì hai cái tư duy nó khác nhau lắm. Ví dụ như ông Dương Ngọc Đức chẳng hạn, là một đạo diễn giỏi thế nhưng ông ấy lên sân khấu thì “tịt”, nên không bao giờ dám bước lên sân khấu để chỉ bảo cho diễn viên. Hoặc là Đình Quang hay Nguyễn Đình Nghi cũng thế.

* Nhưng anh lại là một diễn viên khá?

– Khiêm tốn mà nói, mình là một diễn viên thuộc loại siêu. Mình bước lên sân khấu, đá thử một quả, thì coi như huấn luyện viên đá thử một quả thì diễn viên cứ thế mà làm, không thể làm hơn được nữa. Thì nó cũng có cái lợi nhưng đồng thời nó cũng có cái hại, tức là mình hay ép diễn viên theo cái sáng tạo của mình.

* Và làm hạn chế sự sáng tạo của bản thân họ?

– Làm hạn chế. Đấy là một cái mà mình phải cảnh giác. Cũng phải nói thật với em thế này, diễn viên bây giờ nó ít nghĩ lắm, thành ra những cái mình cho thì họ cứ nuốt lấy từng lời thôi.

* Anh thử lý giải tại sao, ngày xưa, nền móng văn hoá ban đầu của các diễn viên đảm bảo là thấp hơn bây giờ, sự hiểu biết chắc chắn là ít hơn bây giờ thì cái đầu của người ta lại hoạt động tốt hơn.

– Bây giờ chúng ta bị nhiều thứ chi phối quá. Thế hệ của bọn mình, với những Đặng Dũng, Thế Anh, Hà Văn Trọng, Trọng Khôi, Nguyệt Ánh, Mỹ Dung, Ngọc Hiền… có niềm say mê to lớn lắm. Lắm khi người ta khổ quá thì lại phát sinh sự say mê. Bây giờ tiếp xúc một lô diễn viên mới, chỉ thấy toàn sự xuống cấp.

* Hay là anh gặp không đúng người?

– Không phải. Mình gặp nhiều chứ, gặp hầu như tất cả. Ngày xưa bọn mình học là chỉ biết có học thôi, suốt đêm làm tiểu phẩm rồi nghĩ tiểu phẩm, rồi gọi nhau ra tập ngày tập đêm cho nó quen.

*  Có phải là tính thiêng liêng của nghệ thuật bây giờ cũng bị mất đi?

– Phải. Nghệ thuật bây giờ nó thực dụng và thô thiển hơn nhiều.

* Ngay cả trong đời sống gia đình chồng vợ, ngay cả yêu đương cũng mất đi sự thiêng liêng?

– Cái đó đúng.

* Người ta nói thế này, không ít diễn viên, diễn cuộc đời quá giỏi, diễn với lãnh đạo, diễn với người có quyền chức, diễn với những người giàu có thì quá giỏi còn lên sân khấu thì không biết diễn.

– Cái đấy anh thấy nó có thể đúng. Hơn nữa, bây giờ cũng khó hấp dẫn người ta.

* Nghệ thuật kịch nói nói riêng và nghệ thuật nói chung?

–  Nghệ thuật kịch nói và nghệ thuật nói chung không hấp dẫn người ta nữa. Ngày xưa khi bọn mình ra trường, mức lương 45 đồng đủ cho cuộc sống, ngoài ra còn có đường có sữa vứt đầy ở dưới gầm giường, gà thì một tháng cũng được bốn năm con. Nhà nước bao cấp hết. Bây giờ thì phải nói thật lương của những người làm văn nghệ thật thảm hại, thành ra nghệ thuật không hấp dẫn người ta vào làm nữa. Có phải ngẫu nhiên đâu mà nữ diễn viên bây giờ ít người đẹp lắm. Nói thật, lắm lúc ra đường, mình trông thấy một cô con gái đẹp, mình thèm nhỏ nước dãi mà ước, giá sân khấu có được những người đẹp như thế. Thảm hại quá, đến mức may mắn trông thấy một cô diễn viên đẹp thì bảo “Cô ấy đẹp như cave!” Nói cho cùng, mình xem mấy chương trình hoa hậu thời trang, có ai làm cái gì đâu, chỉ lượn đi lượn lại trên sân khấu cũng hấp dẫn.

* Sự hiện hữu của họ đã là tất cả?

– Đúng, các mỹ nhân giả lời rất kém, rất ú ớ, rất lăng nhăng… mà thiên hạ vẫn vỗ tay. Giá mà sân khấu bây giờ có được vài cô! Bây giờ nhìn các đoàn liệu có ai? Mà nếu có thì chỉ là son sắc của tuổi 30 vắt vào đến bây giờ, ví dụ như Nhà hát Tuổi trẻ còn có Lan Hương, có Minh Hằng, Đoàn Hà Nội thì còn có Minh Hoà, Thu Hà, vắt của cái thời trước đến bây giờ. * Liệu đạo diễn giỏi có phải là đạo diễn có thể từ cục đất mà nặn nên bụt. Và vì thế nên đối với anh bây giờ, cái thiếu là ở nhan sắc chứ không phải tài năng diễn xuất?

– Chưa đúng. Tất nhiên người đạo diễn có thể nâng đỡ một diễn viên còn đang kém một chút đưa lên thành khá một chút, chứ không thể gọi là từ cục đất nặn lên thành bụt. Mình nói ví dụ trường hợp bóng đá ấy, mình thì chả nhẽ nói như thế thuê Hiddink sang Việt Nam thì liệu có thể nặn những ông A ông B, cậu C cậu D, U nọ U kia để trở thành một cầu thủ ghê gớm được không? Không!

* Cuối cùng vẫn phải là thực lực?

– Vẫn phải là thực lực, tài năng, thiên bẩm cái đã, rồi rèn luyện, rồi lao động, rồi là à

* Vâng, như vậy là sự hiu hắt của sân khấu hiện nay ở trên nhiều sàn diễn là chứng tỏ không chỉ vì thiếu nhan sắc mà chính là vì thiếu những tài năng?

– Thiếu.

* Hay là thiếu những kịch bản hay?

– Cũng đúng.

* Hay là vì các đạo diễn trở nên kém đi?

Doãn Hoàng Giang ngày xưa đã từng làm mưa làm gió trên đất Hà Nội và rất nhiều vở diễn mà cho đến hiện nay người ta vẫn còn nhắc đến. Thế bây giờ cũng vẫn Doãn Hoàng Giang ấy mà ở Hà Nội, ở Nhà hát kịch thân yêu ruột thịt sắp sửa 50 năm kỷ niệm của anh, lại có vẻ như chưa làm được gì đình đám trong một hai năm gần đây. Tại sao?

– Đấy là do tình hình chung. Bây giờ mình có thể dựng một vở hay như ngày xưa đã làm, ví dụ như “Hà My của tôi”, như “Nàng Sita”, như “Nhân danh công lý” hay “Chiếc bóng oan khiên”. Mình có thể làm một vở có thể hay hơn như thế nữa thì bây giờ khán giả cũng không đến. Mà nuôi dưỡng sân khấu phải là khán giả chứ.

* Phải chăng nghệ thuật nói chung và sân khấu nói riêng không kịp thích ứng với cơ chế thị trường hoặc là không thể thích nghi được với cơ chế thị trường nên khán giả xa lánh?

– Mình cho là không kịp thích ứng. Nguyễn Du giờ có sống lại thì ông vẫn phải nói rằng Kiều vẫn chưa theo kịp cuộc sống. Mà khán giả bây giờ không xem kịch nữa. Ngày xưa trong thời bao cấp ta có cái gì để xem khi về nhà đâu nên lãnh đạo thỉnh thoảng lại hỏi có kịch gì để đi xem không? Còn dân thường về nhà cũng không có cái gì xem, ở một cái phòng mấy chục thước vuông, tối lại nhao ra đường đến cái rạp Đại Nam là thấy nó to quá. Rạp Đại Nam bây giờ là nơi bán bia hơi rồi! Hôm nọ mình nói ở trên báo: sân khấu muốn hấp dẫn, ngoài cái chuyện viết cho thật hay, dựng cho thật hay, diễn cho thật hay phải có cái nhà hát thật hay.

* Anh đã vào Trung tâm chiếu bóng Quốc gia chỗ Láng Hạ?

– Lâu lắm mình cũng không vào.

* Trước đây giới điện ảnh kêu là không có nơi để chiếu phim Việt Nam nhưng mà cái Trung tâm chiếu bóng Quốc gia, một tổ hợp “văn hoá ẩm thực bò tùng xẻo” như vậy đã mấy năm tồn tại nhưng xét cho cùng, cũng không có tác động gì lớn lắm đến việc biến chuyển trong làng điện ảnh nước nhà.

– Đúng, cái hình thức mới là chương đầu, là có cái nơi cho người ta đến và ngồi vào, sau đó thì phải có cái nội dung của anh, đó vẫn là quan trọng. Nói chung, phải có một môi trường tốt và đồng bộ mới mong chấn hưng được nghệ thuật.

* Như vậy là sân khấu không xuống cấp mà là môi trường nghệ thuật?

– Đó mới là cái quan trọng.

* Và cơ chế thị trường thì dứt khoát là cái đó là một cái rất khó tránh khỏi, bất khả kháng đối với nhiều bộ môn nghệ thuật?

– Nếu bây giờ mình làm cho Nhà hát kịch một vở, anh nghĩ là hay hơn tất cả những vở trước đã làm, nhưng nó cũng sẽ rơi vào tình trạng hiu hắt vì bây giờ mình chưa chiếm được khán giả. Bạn phải nhớ là thế này, ngày xưa mình được mệnh danh là người nắm khán giả giỏi nhất của Việt Nam. Cái đó không phải là mình tự phong mà ông Dương Ngọc Đức nói, ông Đình Quang nói, làm vở nào là đông vở ấy, bây giờ chả dám nói phét nữa (cười).

* Và cái đó không phải là lỗi của riêng ai cả mà đấy là một cái đặc điểm của cơ chế thị trường, một trong những cái mâu thuẫn lớn của thế kỷ văn minh, thực ra là thế, chứ còn như anh vẫn nói là muốn để người ta đi rạp hát khi người ta đủ đầy thì cái đó vô cùng lắm, biết thế nào là đủ?

Mà biết đâu khi đã đủ ăn rồi thì lại mất thói quen tìm đến văn hoá, anh có nghĩ thế không? Anh có mối lo sợ thế không? Bởi vì văn hoá là một sự thường xuyên và khi đã đủ ăn con người ta vẫn không nghĩ tới văn hóa, người ta mất thói quen văn hoá?

– Mình không sợ cái đó, mình không sợ, mình nghĩ là khi con người cân bằng về mặt gọi là đời sống vật chất của họ, con người lúc ấy bắt đầu phải khát khao tìm về cái đẹp, tìm về cái gì thiêng liêng bình dị mà cái đó tức là văn học nghệ thuật, còn bây giờ thì như bạn vừa nói rất đúng, Nhà hát Tuổi trẻ bây giờ dựng Macbeth thì bảo đảm rằng quá lắm chỉ diễn được mấy đêm thôi, rồi Đoàn Hà Nội đang dựng Hamlet rồi cũng vậy thôi. Người ta không có cái nhu cầu ấy mà chỉ có cái nhu cầu “Đời khóc, Đời cười” ào ạt thôi, nhất là trong Nam. Mình phải nói thế này, diễn viên miền Nam nó giỏi lắm, giỏi ở chỗ ai cũng có khả năng gây cười. Bây giờ chọc lét đã thành một cái thứ mốt, khi bước ra sân khấu mà không chọc được người ta một cái, hoặc không chọc cười được một cái thì coi đấy là kém, thành ra bất cứ một cái gì nó cũng phả vào cái đó. Sân khấu nào cũng dựng đủ các loại mà cái nào cũng nghiêng về phía tiếng cười. Khán giả chỉ muốn giải trí một tí thôi, nghe mãi rồi nó thành một thói quen. Bây giờ mà cứ nặng nề một tí là thôi, là không xem.

* Và Doãn Hoàng Giang cũng bắt buộc phải theo?

– Phải chạy theo vậy thôi, không có cách nào khác.

* Anh có sợ như thế thì cái phương châm nghệ thuật, cái tiêu chí nghệ thuật mà anh phụng sự sẽ bị mất đi không?

– Mất chứ.

* Mà anh chấp nhận?

– Không thể nào tránh được. Lúc nào đó biết chấp nhận, phải chấp nhận.

* Tức là một bước lùi để hai ba bước tiến?

– Không thể tránh được cái đó, bây giờ mình nói thế này, mình bao giờ cũng ao ước cho đời sống mình phải thế này thế nọ, phải đọc phải như thế này, học phải như thế này, con thì phải như thế này, bữa ăn thì cũng phải như thế này… Nhưng mà khi nó chưa đạt được thì tôi đành phải chấp nhận, và anh nghĩ là cái nghệ thuật sống thật ra là cái nghệ thuật vừa đòi hỏi nhưng mà lại vừa phải biết chấp nhận, bởi đòi hỏi quá thì thành một thằng điên, mà cứ chấp nhận quá thì lại thành một thằng thiếu ý chí.

* Không hợp thời?

– Ờ đấy

* Khi mà người xem quá ít, cátxê (cachet) quá thấp, sự thiêng liêng trong đời sống tinh thần gần như đã xa cách rất nhiều thì diễn viên họ lên sân khấu để làm gì?

– Trong Nam thì rõ ràng họ diễn vì cátxê. Hồng Vân là người sống khoẻ bằng nghề, Thành Lộc quá siêu về chuyện sống bằng nghề, mua xe hơi mua nhà lầu. Ngọc Sơn là 15 triệu một suất mà một đêm nó có thể làm hai suất, mà anh nói ví dụ thế.

* Là anh biết chắc chắn đấy? Hay là anh nghe tin đồn?

– Chắc chắn đấy, Ngọc Sơn nói chuyện với mình mà. Thế thì kịch là 500 nghìn một đêm, hoặc là những vở khá mà lượng khán giả nhiều là 1 triệu một đêm, anh nói ví dụ thế, thì một tháng là diễn viên có khoảng 30 triệu và họ lại chạy sô, ban ngày hoặc có những ngày lễ tết một ngày phải diễn độ 3 sô, vở dài như vở mình làm mà họ cũng còn chạy sô. Như vậy là đủ sống đàng hoàng đấy. Nhưng ngoài Bắc, ví dụ như đoàn Hà Tây, đoàn ấy là đoàn chịu khó diễn nhất ở miền Bắc, đi khắp mọi nẻo đường, đi liên hệ bộ đội để diễn, thì mình có thể nói thật là một đêm diễn cũng chỉ có vài nghìn đồng, năm nghìn, mười nghìn. Thế nhưng mà, sân khấu đôi khi vẫn cứ có cái niềm thiêng liêng.

* Năm nghìn vẫn thiêng liêng và chưa chắc một triệu đã thiêng liêng?

– Thiêng liêng. Bây giờ nói ví dụ Nhà hát kịch khi mình về dựng. Nhà hát kịch là cái nhà hát ít diễn nhất, chỉ ăn vào cái lương và mỗi buổi diễn quá lắm chỉ được hai chục nghìn nhưng mà diễn viên nào cũng đều nói với mình: Giang ơi, kỳ này cho em một vai, em yêu sân khấu lắm. Mà đấy là nói thực lòng. Thu Hà chẳng hạn, mở Eva rồi mà vẫn tìm mình để xin vai vì sân khấu vẫn luôn có cái gì níu kéo. Khi mình dựng ở ngoài Bắc vở kịch, bao giờ ở dưới sàn sân khấu, dưới khán giả bao giờ cũng có cũng có độ bốn năm chục diễn viên ở đấy để xem quá trình dựng, để nghiên cứu để học tập, để nghe tập lời, để rút kinh nghiệm… Còn trong Nam thì bao giờ diễn viên cũng nói, anh cho em cái kế hoạch tập của ngày hôm nay để biết mà chạy tới. Ví dụ, ngày thứ hai tập cảnh bốn thì cảnh có hai người thì hai người đó đến sát giờ hoặc thậm chí còn đến muộn… Rõ ràng cái không khí nghệ thuật khác hẳn. Hôm làm “Số đỏ”, báo trong ấy hỏi, mình bảo: Sài Gòn giao cho tôi những diễn viên mệt mỏi, bận bịu và lười biếng… Tránh làm sao được vì một ngày họ chạy xô như thế mà lại còn quay được khoảng 6 bộ phim. Không một ngôi sao nào ở Sài Gòn mà chỉ diễn một sân khấu. Nhưng đấy là ở sân khấu kịch. Còn sân khấu cải lương thì hiện nay cũng đang gặp khó khăn.

* Vì không tìm thấy lớp khán giả trẻ nữa?

– Một thời chỉ cần có mặt Minh Vương và Lệ Thủy thôi đã đủ để khán giả xếp hàng dồn dập đi xem. Bây giờ có những vở đầy các ngôi sao mà tê liệt. Có nhiều nguyên nhân, nhưng mà nguyên nhân lớn nhất là cải lương mà không cải lương, đấy là khuyết điểm lớn nhất, bởi vì cải lương tức là à cải biến để hoàn lương nhưng một khi anh không chịu cải biến để anh hoàn thiện anh, anh cứ ru ngủ anh trong một cái hào quang của quá khứ, mà khác gì cái ảnh một bà ngày xưa đẹp lắm nhưng mà bây giờ thì đã thành một cụ già rồi.

* Ta quay trở về ngày xưa một chút. Chị Nguyệt Ánh chiếm vị trí như thế nào trong cuộc đời của anh?

– Một vị trí rất quan trọng. Nhưng mà lạ, nói thật là mình với Ánh không hợp nhau tí nào. Cho đến bây giờ mình phải nói là mình rất quý Ánh, gặp nhau vẫn ôm cổ hôn chùn chụt. Mà Ánh đối với mình cũng thế, lúc nào cũng một điều anh Giang em, hai điều anh Giang em.

Đạo diễn Doãn Hoàng Giang và nhà thơ – nhà báo Hồng Thanh Quang chụp kỷ niệm trong một lần tình cờ gặp nhau trên phố Lý Quốc Sư, Hà Nội trước của nhà hàng Nguyên Sinh.

* Thế vì sao lại lấy nhau?

– Căn nguyên là thế này, hồi đó mình đang yêu một cô công an, phải nói đó là một mối tình dữ dội, hay lắm nhưng vì lý do lý lịch nên không lấy được nhau. Lúc đó mình tan nát cõi lòng, lại họa vô đơn chí, bà mẹ mình mất. Mình thanh niên mới lớn, tứ cố vô thân. Lúc mẹ còn sống. mẹ rất chiều, cái quần đùi bà cũng giặt cho, có hai lạng thịt thì bà cũng giã thành giò cho mình ăn. Bà mất rồi, mình không biết là cuộc đời sẽ ra sao nữa? Mai gạo mua thế nào, củi đong thế nào, đun ra làm sao, đồng thời cái vụ kia nữa. Thế là anh đi chiến trường, Ánh cùng đi, thế là tự nhiên nàng thương mình, quý mình.

* Mà chị Ánh trông đài các lắm nhỉ, đẹp xinh, hấp dẫn?

– Đài các, tự nhiên đến với anh, mà mình phải nói là Ánh là yêu Giang trước. Có lẽ là vì cảm thấy cái nỗi đau khổ của mình rồi khi ở chiến trường về là yêu nhau, cưới nhau.

* Lúc ấy năm bao nhiêu?

– Cưới năm 65, cho đến năm 77 thì ly hôn.

* Thế là hơi bị “dài” rồi đấy.

– Thực ra là quá dài, thế mà chịu nhau rồi tìm đủ mọi cách để hoà hoãn rồi thế nọ thế kia để gìn giữ, thế nhưng rồi cuối cùng, người ta nói như Marx nói: thà kết thúc khủng khiếp còn hơn là sống khủng khiếp không bao giờ kết thúc. Khi bọn mình li hôn ở toà án Hai Bà Trưng, cả tòa khóc. Nhiều khi rất lạ, mình ngồi với Ánh ở tòa mà cứ ôm vai Ánh để nói. Mình còn nhớ hình ảnh ông chủ tọa phiên tòa, ông ấy tóc dài và bạc, ông ấy ngồi ông cứ bảo, Giang ơi, tôi thấy anh chị đẹp quá, thích quá, bỏ nhau làm gì?

Cuối cùng mình phải bảo: tôi cũng phải nói thật với bác là tôi nghĩ lắm rồi và tôi xin bác đừng khuyên tôi một lời nào nữa, nếu Ánh có mắng chửi gì tôi thì Ánh cứ ngồi đó Ánh nói, tôi ngồi đây tôi nghe. Hỏi Ánh, Ánh chỉ ngồi khóc, không nói với nhau một lời nào nặng nề, còn mình cứ ngồi ôm Ánh và bảo là Ánh muốn lấy đến chiếc sơmi cuối cùng cũng được, chỉ có đứa con là tôi nuôi vì tôi có thể nói với tòa rằng chỉ có tôi giữ nó lại vì tôi có đủ điều kiện nuôi con là một, thứ hai là nó rất hợp với tôi, điểm thứ ba là nó yêu tôi hơn yêu Ánh. Quay lại hỏi Ánh luôn, em có thừa nhận không? Cô ấy bảo, thưa bác đúng. Thế ông ấy bảo, thôi, thôi, được rồi, hôm sau anh ra mà lấy giấy. “Không, không, tôi không cần lấy giấy bởi vì tôi không nghĩ đến chuyện là sau này chứng minh là tôi không có vợ nữa đâu, để tôi làm gì? Tôi xin lỗi bác tôi chỉ gặp bác đây là lần cuối cùng còn Ánh có muốn ra lấy thì đấy là việc của Ánh”. Và từ đó mình không đến tòa nữa. Khi mình dắt xe đưa Ánh đi, tất cả các ô cửa sổ của tòa đều mở hết nhìn theo.

* Đôi khi để giữ gìn tình yêu, không nên sống liền nhau mà phải có khoảng cách. Nhìn ở xa dễ thấy rõ nhau hơn.

– Không một lời oán hận, mình phải nói là như thế, cho đến tận bây giờ, đấy.

* Nhưng mà anh có nghĩ rằng là cuộc chia tay của anh với chị Nguyệt Ánh ấy, đã khiến anh nghĩ rằng không bao giờ nên gắn bó cuộc đời mình vào cuộc đời một người phụ nữ nào khác dù người ấy có yêu mình đến thế nào đi chăng nữa?

– Mình đã nguyện với mình như vậy. Sau khi thôi Ánh thì mình viết luôn cái vở “Đứa con cô đơn”, về sau cái vở ấy Hà Nội dựng, Hải Phòng dựng. Viết cái vở ấy để làm gì? Để tự răn mình. Mình viết là phê phán một đôi vợ chồng, bỏ nhau rồi người nào cũng chạy theo hạnh phúc riêng để đứa con bơ vơ để sau xã hội phải nuôi, phải đi bụi đời v.v… về sau mới được công an nuôi đấy, rồi sau trở thành bác sĩ. Viết để phê phán nhưng đồng thời để răn mình đừng bao giờ bỏ con mình như thế. Thành ra khi xa Ánh một cái thì mình nguyện tự mình không lấy vợ, nhưng đấy là mình cứ nói thế, mình nguyện trong lòng thế thôi, chuyện tình yêu thì biết nói thế nào được.

* Nhưng mà anh cũng có tình yêu rồi đúng không?

– Có chứ, có chứ, biết nói thế nào được, nhỡ có cô nào đẹp đến mức mình cứ lăn xuống chân nó quỳ năn nỉ. em lấy anh đi, anh yêu em lắm, không có em anh không sống được. Nhưng mà luôn luôn mình tự răn mình thôi, thật ra thì là mình không muốn san sẻ hạnh phúc cho một người khác, mình muốn dồn tất cả cho thằng con. Từ lúc con mình bé tới giờ, một ngày hai bố con mình phải nói chuyện với nhau một lần, dù có đi xa mấy nghìn cây số. Thằng Lâm (họa sĩ Doãn Hoàng Lâm – PV) nhà mình chưa bao giờ trông thấy ở đằng sau xe của mình một cô con gái.

* (cười): Các cô con gái đi bộ với anh chứ không bao giờ lên xe anh?

– (cũng cười): Thứ ba là tất cả các cô đến nhà chơi nhưng không bao giờ con mình trông thấy bố đi cùng một người con gái ra khỏi nhà… Thôi đành phải hy sinh và mình có cái ưu điểm thế này, tức là mình không lừa dối phụ nữ, yêu cái là phải nói thật ngay là chúng ta không lấy nhau đâu, vì những lý do: anh là người tự do, anh sẽ ở vậy nuôi con anh v.v…, Chưa bao giờ mình tỏ tình với một cô gái nào sau khi thôi Ánh. Thì đấy, anh yêu em thì có, anh săn sóc em thì có, anh có trách nhiệm với cuộc đời em thì có, anh có thể vun vén cho em tất cả mọi thứ, trừ hôn nhân, em có đồng ý không? Và có những mối tình rất say đắm…

* Anh là một người đang thành đạt nhưng mà có một lúc nào anh nhìn lại chặng đường đã qua anh cảm thấy có điều gì ân hận chăng?

– Nếu mà nói thì thế này, bằng lòng về cuộc sống không? Thì mình phải nói là hiện mình bằng lòng với cuộc sống. Bằng lòng bởi vì sao? Mình nghĩ rằng cái cuộc đời này nó cho mình cũng nhiều, cho cho một sự nghiệp, cho một mối tình, đúng không? Phải nói là như thế, một mối tình đẹp, chia tay nhau không có điều gì ân hận…

Năm 2002

HỒNG THANH QUANG – NGUYỄN QUANG THIỀU (thực hiện)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.