“Cõi nhân gian” – Khao khát thiện lương và cảnh tỉnh

Vanvn- Trong “Cõi nhân gian”, Nguyn Phúc Lc Thành chu ảnh hưởng khá rõ của tư tưởng triết học Pht giáo, tinh thn bi, trí, dũng; đức hiếu sinh t, bi, h, x; thuyết nhân qu; nhng tht tình lc dc của đời người: tham, sân, si, h, n, ái, ; coi trng ch tâm, chữ đức, s giác ngộ, hướng về đời sống tâm linh đẹp đẽ, nhân văn. Tác giả nhn rõ bi kch ca lòng tham, nhng ham mun bản năng, tội li, ti ác ca cõi đời, cõi người để cnh tnh, thc tỉnh, báo động các nhân vt ca mình, góp phn cu ri tâm hn họ, đưa họ tr v vi thiện lương, tốt lành, hnh phúc.

Tôi đã đọc “Cõi nhân gian” một mạch liền, khó dứt ra. Đó là sự không bình thường, khá hiếm hoi với tôi nhiều năm lại nay. Đọc sách, thấy trong đó hình như có một phần của mình, người gần mình, người khác mình, và những kẻ đối lập khó thỏa hiệp. Trong đó, hiện lên nhiều giai tầng, lứa tuổi, giới tính, tính cách, vùng miền, lĩnh vực đời sống xã hội…trong một bối cảnh rộng lớn, thênh thênh mà nhiều khi chật chội, ngột ngạt. Đọc “Cõi nhân gian”, thêm tin điều mình đã yêu tin, xót xa, trắc ẩn, thấy cả điều mình căm ghét, ghê sợ, thậm chí bàng hoàng…Thế thì hiện thực đời sống trong “Cõi nhân gian” là thực hay hư; thật hay giả; tốt hay không tốt, chưa tốt; hiện tại hay quá khứ hay đã vượt chạm đến tương lai xa ? Có ai suy nghĩ, an yên, chấp nhận hay băn khoăn, day dứt, nóng bỏng ? Một tác phẩm văn chương, nghệ thuật mà khi vừa ra mắt được bạn đọc, đã có được cảm xúc, tâm trạng, dư luận đại loại như thế thì đó là tín hiệu của một thang bậc trên mức bình thường, đúng hơn, ở mức cao, mức hiếm.

Nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành

Đọc 8 tập “Cõi nhân gian”, tôi thật sự bất ngờ, ngạc nhiên về tác giả của nó – nhà thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành. Lâu nay, bạn văn chương và công chúng vẫn gọi anh là nhà thơ. Dĩ nhiên. Nhưng qua bộ trường thiên tiểu thuyết này, nếu vẫn gọi anh là nhà thơ, thì có gì đó bất ổn, có vẻ sai sai. Tôi bất ngờ và nể phục về vốn sống, sự từng trải, sự dấn thân, chiêm nghiệm, tích lũy hiện thực, lý giải và cấu trúc nó, thể hiện nó, mổ xẻ nó, làm chủ nó… của tác giả. Cái vốn hiện thực đời sống ngồn ngộn mà Nguyễn Phúc Lộc Thành có trong tay mình, đã tạo ra sự hơn hẳn, sự khác biệt giữa anh với khá nhiều người cầm bút khác. Anh là nhà văn, là doanh nhân, chủ một doanh nghiệp lớn đã sống, kinh doanh và viết trong thời kỳ đất nước dùng dằng giã từ cơ chế kinh tế hậu chiến tranh, tập trung quan liêu, bao cấp, khá dễ dãi và nhiều ấu trĩ sang cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, mạnh mẽ, cuồn cuộn. Có thể gọi đó là một “cơn đau đẻ” không dễ dàng. Quãng thời gian đó chừng hơn hai chục năm, kết nối hai thế kỷ XX và XXI. Dù các nhà nghiên cứu lý luận về kinh tế-chính trị học (hay chính trị-kinh tế học) có đề xuất, chứng minh, khẳng định đó là “nền (hay cơ chế) kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì cái tính chất “thị trường” luôn nổi bật, cả mặt mạnh, tích cực, cả mặt trái tiêu cực, chất hoang dã, nhiều khi tàn bạo mà xã hội đương thời không dễ nhận biết đầy đủ, sâu sắc và áp chế, đẩy lùi nó một sớm một chiều. Sẽ còn lâu, phức tạp, nhiều chiều, ghềnh thác hơn là những gì chúng ta biết. Tôi nhớ một câu nói của một nhà lý luận điện ảnh nước ngoài mấy chục năm trước, đại ý, nếu anh biến hiện thực đời sống thành con lợn, đàn lợn, thì anh cũng chỉ là người mổ lợn mà thôi

Nhiều nhà văn trong chúng ta sống cùng thời, có thể cùng chung nhiều cảnh huống, tình thế, cùng đón nhận cả ngọt bùi lẫn đắng cay, vui vẻ, bằng lòng lẫn bức xúc, giận giữ, thì suy cho cùng (thực chất là), hầu hết chúng ta vừa là người trong cuộc, lại vừa là người ngoài cuộc, “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời/ Ái ân nht nho…” (Hai sắc hoa Tigon, TTKH). Nguyễn Phúc Lộc Thành không “nhạt nhẽo” bởi anh đã sống trọn đầy, đã “chịu trận”, đã bầm dập, đã khao khát, đã có những thành công; có lúc anh bơi xuôi dòng, ngang dòng, lúc lại quẫy đạp, ngụp lặn ngược dòng…Do đó, khi phản ảnh hiện thực, xử lý số lượng, dung lượng, tầm kích các nhân vật, sự kiện, chi tiết, mâu thuẫn đồ sộ, hỗn mang, anh đã biết cách  thoát ra bên ngoài, bình tĩnh, khách quan, đúng mực, chắc tay.

Cái hiện thực trong “Cõi nhân gian”(hay cõi đời, cõi người) đủ các thành phần: Doanh nhân, doanh nghiệp – rõ rồi, là môi trường và dấu ấn của chính tác giả. Đây là phần đậm nhất, nhiều thành công, xuyên suốt, kết nối với các thành phần, bối cảnh, thời gian, nhân vật, sự kiện (nào là Hương, Vy, Hoan, Chiến, con Hương, ông bà Công Hoài, nào là ông Tám, bà Tám, Sinh, San, An, Hồng Anh, Tám-Cẩu, Thịnh, Sy, ..). Là giới trí thức (và văn nghệ sỹ, báo chí – khéo thế !), thông minh, có người tài giỏi, nhạy cảm, dễ nhận ra và đi theo cái mới lạ (Hương, Hảo, Thụy An, cô Tú, …), cũng có những người dễ thỏa hiệp, đổ đốn, tha hóa (Bính, Quang, Giáo sư Phan Huệ, Thiên, Huy chồng Hòa,..). Là giới quan chức, công chức, kể cả viên chức nhỏ, có người đàng hoàng, tốt  đẹp, ngay thẳng (ông Thiện, bà Hiền, anh Hóa-Thứ trưởng Bộ Công an Nội địa, Ánh, Vương Triều, Hoàn Thư…); cũng có không ít người bị “con đĩ đồng tiền” (chữ dùng của William Shakespeare, nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại người Anh) lôi kéo, hành hạ, bắt làm nô lệ, dẫn đến nhắm mắt (và cả khi mở mắt) lạm quyền, tư túi (Chủ tịch Danh, Bộ trưởng  Hoàng Trịnh, Thông, một số vị ở Tập đoàn sở hữu vốn quốc gia ABX…), chạy chức, chạy quyền, tham nhũng đủ kiểu, gây ra những tội lỗi, tội ác, điển hình nhất là Chủ tịch Yên. Là những người dân nghèo ở thành thị và nông thôn, nhiều người “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” (Vân, Thêu, Dự, con Hương…), nhưng cũng không ít người trong quá trình công nghiệp hóa, đô thì hóa đã bần cùng hóa, tha hóa, lưu manh hóa, vừa đáng thương, đáng trách, đáng lên án (ông Thiên mặt Phât, Bảo, cha cô Tú, Lung quan tài, Hạnh, Lan, Hưng, Tề, Quân “ba số”, Vụ, Hải, Trường…). Là những Việt kiều về nước làm ăn lương thiện, tử tế như ông Công bà Hoài và ma mãnh, dối trá, độc ác như David Trần (Sinh), như Chủ tịch doanh nhân Việt tại Đông Âu). Là giới “xã hội đen”, tội phạm (Ông Tám, bà Tám, Sinh (David Trần), Đồng còm, Bính, Hồng…). Sự liệt kê ngẫu nhiên này không nhằm phân chia hai hay ba, bốn, năm nhóm người, loại người tốt và loại người xấu. Trong “Cõi nhân gian”, không có nhân vật một chiều, được “đóng đinh” tính cách, phẩm chất. Người nhiều ưu điểm, thiện lương vẫn có khi mắc sai lầm, sa ngã, nhân vật “tôi” – Nguyễn Thiện Hương, là một ví dụ. Người nhiều tiêu cực, tội lỗi vẫn có lúc tử tế, phản tỉnh, hướng thiện như ông Tám, bà Tám, cô Bảo, cô Lan, thằng Hưng… Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ, có khi giằng xé, tranh đấu trong chính họ và với xã hội, “là một loài xã hội”. Sự biến đổi, phát triển hoặc sa sút nhân cách có tác nhân bên ngoài và cả bên trong, biện chứng và logic. Bằng dụng ý, dụng công, tác giả luôn hướng hầu hết các nhân vật trong tác phẩm (trong cõi người) đến cái thiện, cái tốt đẹp; đấu tranh bền bỉ, quyết liệt với cái ác, cái xấu xa, thấp hèn. Tác giả phản ánh, mô tả cái tiêu cực, mặt trái, những tha hóa của các kiếp người, nhưng không nhằm bôi đen, bới móc, hằn học, ám chỉ, càng không đẩy nhân vật xuống hạng thú vật dù hành động có lúc tạm rời xa phẩm chất người. Cái đích hướng tới là muốn xã hội thay đổi để mọi thứ tốt lên, cái xấu, cái ác bị đẩy lùi, dù không dễ dàng, đơn giản.

Tiểu thuyết “Cõi nhân gian (trọn bộ 4 quyển) của tác giả Nguyễn Phúc Lộc Thành.

Trong “Cõi nhân gian”, Nguyễn Phúc Lộc Thành chịu ảnh hưởng khá rõ của tư tưởng triết học Phật giáo, tinh thần bi, trí, dũng; đức hiếu sinh từ, bi, hỷ, xả; thuyết nhân quả; những thất tình lục dục của đời người: tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố; coi trọng chữ tâm, chữ đức, sự giác ngộ, hướng về đời sống tâm linh đẹp đẽ, nhân văn. Tác giả nhận rõ bi kịch của lòng tham, những ham muốn bản năng, tội lỗi, tội ác của cõi đời, cõi người để cảnh tỉnh, thức tỉnh, báo động các nhân vật của mình, góp phần cứu rỗi tâm hồn họ, đưa họ trở về với thiện lương, tốt lành, hạnh phúc. Đại văn hào Nga Lev Nikolayevich Tolstoy từng bày tỏ “Tôi sáng tác dưới ánh sáng của Chúa”.

Không chỉ phản ảnh hiện thực, một hiện thực khá nhiều gam màu sáng tối, tốt xấu, vui buồn đan xen, nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành còn đưa ra những cảnh báo, báo động rất cần thiết cho hiện tại và tương lai. Đó là những mặt trái, mặt tiêu cực khi đất nước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, sang cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng. Một chặng đường mới, rất mới, đầy khó khăn, nhọc nhằn, thách thức. Nhiều hệ lụy về kinh tế-xã hội, nhưng hệ lụy rõ nhất, mạnh mẽ nhất, đau xót nhất là sự tác động tiêu cực đến lĩnh vực văn hóa, đạo đức, nhân cách của con người. Cảnh báo và đòi hỏi phải thay đổi nhiều cơ chế, chính sách đã lạc hậu, đã làm xã hội trì trệ, làm tha hóa con người, làm hư hỏng bộ máy ở chỗ này, chỗ kia, lúc này, lúc khác. Cảnh báo về việc giáo dục, đào tạo, bố trí, giám sát, sàng lọc, xử lý đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền, nhất là ở những lĩnh vực quan trọng, đặc thù, những kẻ tha hóa tồi tệ, nguy hiểm  ở các mức độ khác như Yên, Chủ tịch Danh, Bộ trưởng Hoàng Trịnh, Thông, Hoàng Hạc, Long, Kim, Ân…để họ không có cơ tồn tại, chui sâu, leo cao, gây họa cho đất nước, cho cộng đồng. Doanh nhân cao tuổi là ông Công – một Việt kiều, đã mấy lần nhắc đi nhắc lại câu nói, câu nhận xét: “Thằng cha Yên này, tôi đã bảo từ lâu rồi, hắn không phải thường nhân đâu. Hắn siêu lắm, hắn sẽ vượt qua được tất cả khó khăn, không cẩn thận hắn sẽ còn lên nữa…”. Để đến thời điểm đêm mồng một Tết, khi căn nhà số tám Hồng Phúc bị thiêu rụi, “hai người chết trong đó, một nữ, một nam” (báo chí đưa tin), Bà Hoài, vợ ông Công đã lo lắng “Rồi ông ấy sẽ lại thoát thân đầy ngoạn mục, chẳng ai làm gì được ông ấy…”. Mặt khác, cần ca ngợi, kính trọng, tôn vinh, nhân lên những con người tốt đẹp như bác Thiện, chị Hiền, anh Hóa thứ trưởng Bộ an ninh Nội địa và không ít người khác. Trong nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện, nảy nở nguy cơ tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, quan chức bí mật đầu tư, hùn hạp vào một số doanh nghiệp tư nhân, “cho” dự án của nhà nước, chống lưng, chạy tội cho doanh nghiệp xấu. Báo động về những “vòi bạch tuộc” như Red Sun Group “từ Canada” của các Việt kiều David Trần, Mery Trần (tập đoàn Sinh, San, có sự trợ lực của Bính – luật sư trong nước) tuy chưa thật lớn nhưng đã âm thầm hoặc lộ liễu xâm nhập, cạnh tranh, thâu tóm một số doanh nghiệp trong nước như Infacus, Bebeco, Thiên Lương, ThapCham Red Wine; núp bóng cái gọi là nước Mỹ, Canada, châu Âu để bắt tay với doanh nghiệp Trung Quốc sản xuất, tiêu thụ hàng nhái, hàng đội lốt các thương hiệu nổi tiếng; “đi đêm”, hối lộ quan chức và các cơ quan chức năng. Còn rất nhiều cảnh báo, báo động nữa, kể cả về lối sống dễ dãi, buông thả, sa sút nhân cách của lớp trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo như Hương, Quang, Hảo, Thụy An, Tú, San, Thiên…; cả tầng lớp bình dân như “chị” Thảo, Thanh, Quang thợ điện, cựu giáo chức Lưu…

Dẫu “Cõi nhân gian” như là “Tn trò đời”, không ít kẻ xấu, những “dị nhân”, “quái nhân” thì cuối cùng niềm tin vào luật nhân quả, vào cái thiện, vào pháp luật cũng được sáng tỏ, tội ác sớm muộn cũng bị trừng phạt, nhiều con người sa ngã vẫn muốn tự “chuộc mình”, muốn hoàn lương, tin vào điều tốt đẹp, con người tử tế, xã hội tử tế. Anh Hóa, một cán bộ công an cao cấp, một nhân vật nhiều phẩm chất cao quý đã nói về “tay Yên” trượt dài tội lỗi, tội ác: “Khi biết mình bị bắt, ông ấy đã kịp lao đầu từ tầng hai mươi tám tòa nhà Ủy ban Liên thành phố xuống đất. Thây xác vữa nát, một đống thịt bùng nhùng, không ai còn nhận ra mặt ông ấy cả…”.

Thêm điều nữa, chúng tôi muốn nói về nghệ thuật viết tiểu thuyết của tác giả “Cõi nhân gian”. Đó là cách, là tầm Nguyễn Phúc Lộc Thành xử lý vốn hiện thực, xử lý các mối quan hệ chằng chịt, phong phú, phức tạp, nhất là các mâu thuẫn, xung đột. Anh không bị rối, không dễ dãi. Mỗi nhân vật, dù đậm hay nhạt, chính hay tà, hay nhờ nhờ, đều có tính cách khá rõ, khá riêng “xem mặt mà bắt hình dong”, từ hình dong đến lời nói, hành vi, tính cách. Những nhân vật chính diện (nhưng không hoàn toàn mỹ mãn) như ông Thiện, bà Hiền, anh Hóa, Ánh, Vương Triều, Hoàn Thư, Thiện Hương, Vy, Hoan, con Hương… gây ấn tượng mạnh, nhiều hảo cảm. Phần kết của bộ tiểu thuyết, hình ảnh/hình tượng cô Hoan bị trọng bệnh cùng một sinh linh chào đời đẹp và cảm động vô biên. Hình tượng con Hương nhọc nhằn, khổ nhục từ nhỏ, như cây còi trưởng thành giữa gió bão, mưa sa, tìm được hạnh phúc đích thực và vững chãi với Dự và hai đứa con yêu dấu. Các cặp vợ chồng Vân – Tề,  bộ ba Quân “ba số”- người vợ hơn tuổi ở quê và Thêu (em thằng Trường), bộ ba Hảo-vợ Hảo-cô Năm và ba đưa con cùng cha khác mẹ…làm người đọc hết giận rồi thương. Những nhân vật phía phản diện (nhưng không hoàn toàn xấu, hư hỏng hẳn) cũng “mỗi người mỗi vẻ”, từ ông Tám, bà Tám, Yên, Sinh, Bính, An, Hồng Anh, Tám-Cẩu. Kịch tính hơn hết là quan hệ giằng xé, bi hài, hỉ nộ, ái ố giữa Bính – San; Lan – Hương; Bộ trưởng Hoàng Trịnh – Tú; Yên  – bà Tám- Thảo… Rốt cuộc, Bính chỉ là chồng hờ của San, bình phong cho Sinh; Chủ tịch Yên từng là, đang là chồng hợp pháp của bà Tám, bà Tám lại là vợ của ông trùm Tám nhưng ông Tám lại có con với chị San, vợ hờ của Bính, vợ chính thức của Sinh. Việc con Hồng Anh cứ tưởng là con đẻ của Yên-Thảo, nhưng khi Yên cho xét nghiệm AND thì một sự thật đau đớn lộ ra. Tính hình sự, ly kỳ, nhiều kịch tính, nhiều bất ngờ xuyên suốt tám tập sách làm nên sự hấp dẫn, lôi cuốn, ma mị người đọc. Thêm ví dụ dở khóc, dở cười khác, ấy là khi vợ chồng Huy – Hòa cùng Quang, Thụy An và Thiên Hương căng thẳng, gay cấn chuyện cái thai trong bụng Hòa; Quang, Thiên Hương nghe tin và “đoán định” cái thai trong bụng Thụy An như cô này “công bố”…

Nguyễn Phúc Lộc Thành rất có ý thức sử dụng và sáng tạo ngôn từ trong tác phẩm của mình. Ngôn ngữ tự sự, mô tả, độc thoại, khi thô ráp, khi huyền ảo. Quang Giám đốc sở sống buông thả, tha hóa dài dài, thường xuyên “quên kéo khóa quần” sau mỗi lần cưỡng bức hay thông dâm với cấp dưới cứ bô bô “Tự nhiên thèm, kiềm chế thế đếch nào được”. Bà Tám tâm đắc câu nói cửa miệng của ông trùm Tám lúc sinh thời “Làm người, phải để lại tiếng thơm trăm năm hoặc tiếng xấu muôn đời”)…

Câu cú trong “Cõi nhân gian” phần lớn ngắn gọn, mạch lạc, tiết tấu nhanh, mạnh, giàu sức biểu cảm. Một số từ ngữ được dùng khá sáng tạo, đắc địa, mới lạ. Ngay việc đặt tên cho nhân vật, sự vật cũng có dụng ý (dù tên gọi con người, sự vật không liên quan đến bản chất của họ/của chúng): Công ty Thiên Lương, Hương đổi tên mình thành Thiện, tên con trai là Lương, cô Nghĩa, Hoan, bác Thiện, chị Hiền, ông Công, con Hương, thằng Hân, anh em Hạnh, Phúc, Nhân, Hớn…Những người tốt đang lớn lên, đang khẳng định mình nhưng đừng quên rằng, giới tội phạm nguy hiểm, tinh vi như David Trần, Đồng còm, An, Hồng Anh… vẫn còn đó, chúng có thể lớn lên, lẩn quất đâu đây. Lưu thế Hoa, một người mang hai dòng máu Việt, Hoa đã về lại bên kia bên giới, tiếp tục là một ẩn số.

Về một vài góp ý nhỏ, thiển nghĩ, giá một số phần trong bộ trường thiên tiểu thuyết tám tập “Cõi nhân gian” được viết gọn hơn, súc tích hơn, bỏ đi những trùng lặp không cần thiết; khi đăng thơ của nhân vật, có cần đăng cả bài hoặc đăng dài như thế không. Một vài câu nói khá “nhạy cảm” của “nhân gian”, tác giả nên khéo léo làm rõ, để không bị hiểu nhầm là của chính tác giả.

“Cõi nhân gian” đã có nhiều thành công, là một hiện tượng đáng ghi nhận của văn chương Việt hôm qua chưa xa và  hôm nay. Điều đó cũng đánh dấu tài năng, sự trưởng thành vượt bậc của nhà văn Nguyễn Phúc Lộc Thành, của văn chương nước nhà, là tín hiệu thực sự vui hôm nay và thời gian tới.

PGS-TS NGUYỄN THẾ KỶ

Báo Nhân Dân cuối tuần 4.22

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *