Có nhà chỉ để… nhớ – Tản văn dự thi của Ngô Thị Thu Vân

Vanvn- Tôi về thăm nhà đúng vào ngày Bến Tre chiếm vị trí đầu bảng danh sách ca nhiễm Covid-19 cả nước với 1.246 ca.

Cũng có thể mấy tháng hứng nguyên đợt dịch thứ tư kinh hoàng ở Sài Gòn, tôi có phần bình tĩnh hơn với các con số. Cũng có thể nếu không đi bây giờ thì bài vở cuối năm sẽ không kịp giao. Nhưng cái chính khiến tôi không chần chừ thêm được nữa chính là nỗi nhớ nhà sau gần một năm dịch bệnh không về được. Và khi nỗi nhớ thắt thẻo ruột gan ấy tựa như một thứ dây leo quấn riết, quấn riết lấy con tim thì tôi chợt nhận ra, hình như mình “Có nhà chỉ để… nhớ”.

Hơn 40 năm trước, trên cái nền đất lổm ngổm vảy rồng ở tại chỗ này – gọi đúng tên – là cái chòi giữ vườn. Ngoài mái nhà được lợp bằng lá dừa nước và những mảnh gỗ thông che chắn bốn bề trông có vẻ chắc chắn thì mọi thứ còn lại: từ gian chính đến buồng ngủ, chái bếp… chỗ nào cũng tạm bợ.

Căn chòi như bị nuốt chửng giữa khu vườn mía bạt ngàn. Đêm tháng Mười, gặp bữa trăng suông, vạn vật chìm trong không gian mờ ảo. Gió rúc vào khe vách thổi tu tu. Ngoài mương, tiếng nước ròng rót ra sông nghe róc rách. Vẳng xa xa, ểnh ương, ếch nhái gọi nhau ùm ộp não nề.

Về để nhà có hơi người

>> Thể lệ Cuộc thi viết “Về nhà”

Lần đầu tiên, lạ chỗ không ngủ được, tôi nằm im lắng tai nghe. Mới đầu còn rõ rệt đâu là tiếng gió, tiếng nước, tiếng bù tọt ểnh ương… nhưng càng về khuya, mọi thứ âm thanh cứ bện dính vào nhau như một bản hòa tấu dưới tay chơi của dàn nhạc công đẳng cấp. Giai điệu có lúc dồn dập, réo rắc như tiếng chuông nhà thờ giữa đêm thánh lễ, cũng có lúc ngân nga chậm rãi như tiếng chuông chùa trong đêm trừ tịch… dội miết, dội miết vào lòng tôi một nỗi niềm không tả được, nó trống trếnh đìu hiu hệt cái sân khấu đã vãn tuồng.

Bất giác bên kia nhà hàng xóm văng vẳng tiếng con nít giựt mình khóc ré giữa đêm. Bà mẹ trẻ nhừa nhựa giọng hát ru trong cơn ngái ngủ: “Con cá đối nó nằm trên cối đá/ Con chim đa đa đậu nhánh cây đa/ Chồng gần sao em không lấy, đi lấy chồng xa…”. Hình như còn mấy câu nữa mới hết bài hát nhưng giọng chị nghe đuối dần, đuối dần… Đứa trẻ cũng thôi khóc. Đêm rơi vào thăm thẳm. Nước mắt tôi tràn ướt hết một bên má, ướt luôn đôi chim loan phụng thêu trên mặt gối tân hôn còn thơm mùi vải mới.

Mãi đến thời khắc ấy, tôi mới nhận biết, thì ra cái “nỗi niềm không tả được” kia chính là nỗi nhớ nhà: Căn nhà nhỏ ở một vùng ngoại ô Sài Gòn. Căn nhà mà ba tôi đã dành cả năm trời như con ong thợ cần mẫn in từng viên gạch block, mỗi ngày một chút, xếp chúng lại xây cho các con một tổ ấm yêu thương. Ba còn tha gỗ vụn về đục đẽo ghép tên chị em tôi: Vân – Thái – Bình – An, trang trí bên trên khung cửa sơn màu xanh két.

Dưới cái ngạch cửa ấy, suốt một quãng đời thơ ấu, mấy chị em tôi thay phiên nhau, lần lượt hết đứa này đến đứa khác, chiều chiều ngồi ngóng ba về sau giờ tan sở. Ở đó có rất nhiều ngày vui và rất ít ngày buồn. Cái nơi mà mới sáng nay thôi, tôi đã lẫn lộn buồn vui từ biệt nó, đã bịn rịn bước qua ngạch cửa mà “không được ngoái nhìn trở lại”, má dặn tôi như vậy.

Má nói, để… không nhớ nhà. Thì ra nhớ nhà chính là nỗi ám ảnh của các cô dâu mới về nhà chồng, “không được ngoái nhìn trở lại” chỉ là một liệu pháp tâm lý và nó không hề linh nghiệm, ít ra là với riêng tôi.

Nỗi nhớ ngôi nhà có ba má và các em theo tôi dằng dặc đúng 27 lần ăn Tết, bất kể sau này nó đã biến thành ngôi nhà hai tầng khang trang nằm chễm chệ trong cái xóm nhỏ ngoại ô nay đã trở thành thị tứ.

Cũng ngần ấy năm, căn chòi giữ vườn giữa bạt ngàn mía lau bên ven bờ Hàm giang cũng đã được thay bằng ngôi nhà tường kiên cố. Kiên cố hiểu theo cái nghĩa nó thật sự là nhà – ngôi nhà mà tôi đã đổi bằng cả tuổi thanh xuân, mặt làm bạn cùng đất, lưng khuyến mãi cho trời, tay miệt mày cày trên bàn phím… Vậy mà, khi nó chưa kịp phủ ấm hơi người, tôi lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Nếu như gần ba mươi năm làm “con cá đối nằm trên cối đá”, tôi chưa bao giờ nguôi được nỗi nhớ nhà, thì hơn mười năm trở về làm thị dân thành phố, nỗi nhớ nhà cũng lại là nỗi nhớ đầy đặn nhất, riết róng nhất, khủng khiếp nhất trong tôi. Mặc dù nhiều năm rồi, ở đó không còn ai.

Các con lập nghiệp ở Sài Gòn, tôi bán đất chia phần cho chúng, vẫn nhất định chừa một khoảnh làm nơi “tọa lạc” cho ngôi nhà. Mỗi tháng một đôi lần, tôi trở về, mở toang từng khung cửa sổ, rủ rê nắng gió lùa vào. Hừng đông, chưa kịp rộ tiếng gà, việc đầu tiên của tôi là mở cửa bước ra vườn, hít hà đã đời cái mùi của đất còn đẫm sương đêm – cái mùi hương đặc trưng dân dã, quê mùa mà tôi đoán chắc cả mấy vị chuyên gia ngôn ngữ cũng không thể miêu tả được. Rồi gom lá quanh nhà đốt một đống un. Mượn mùi thơm của khói và tiếng lá khô lách tách khua động không gian, chờ trời sáng tỏ, pha bình trà quạu, ngồi trên chiếc ghế đá kê nơi góc sân, nhìn mấy con chim chìa vôi chuyền cành ríu ra ríu rít đến khi hết một tuần trà.

Mỗi lần về thăm nhà, tôi chỉ kịp ở lại một ngày, ngủ lại một đêm như thể truyền cho “nó” một chút hơi ấm, cho “nó” biết “nó” vẫn còn có chủ. Rồi đi. Rồi lại nhớ. Lại về. Lại đi. Lại nhớ… mặc dù ở đó không còn ai. Bạn bè biểu, sao không bán nó đi, nhà ở quê đó, không ai ở, để làm gì? Tôi trả lời vừa đủ để mình nghe: “Để… nhớ, để… về nhà”. Và chỉ mình tôi biết, rốt cuộc đó là lý do hay chỉ là cái cớ.

NGÔ THỊ THU VÂN (TP.HCM)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *