Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 3

Vanvn- Tôi đã đóng kịch rất đạt, trong trạng thái bình tĩnh đến không ngờ trong suốt chặng đường. Gần như tôi không còn biết sợ khi đi qua con đường ấy, khi nhìn vào mặt những người lính canh – cả người Pháp lẫn người Việt. Bởi tôi biết cuộc đời của tôi từ nay thay đổi. Mà nếu tôi không ra đi, nếu tôi ở lại Sài Gòn, thì cuộc đời cũng sẽ thay đổi, nhưng hoàn toàn ngược lại…

Nhà văn Trần Thu Hằng

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 3

>> Nhân vật anh hùng đa diện trong tiểu thuyết “Trên mảnh đất này”

>> Vén sương, nhìn núi

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 2

>> Chùm thơ Nguyễn Đức Phước

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 2

>> Chuyện nhỏ bên hồ tràm – Truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 1

>> Trở lại Đắc Lua – Bút ký của Lê Đăng Kháng

>> Thơ Trần Ngọc Tuấn: Tôi ngồi vẽ núi lạnh mười ngón tay

>> Má Năm – Truyện ngắn của Nguyễn Trí

 

Tôi kể điều đó để anh hiểu câu chuyện tuổi trẻ của chúng tôi. Trong khi tôi yêu anh Trần Hồng Dương đúng nghĩa một tình yêu bồng bột, lãng mạn, thì chị Hai Huệ luôn thầm lặng đi bên cạnh chúng tôi. Chị dành cho anh ấy một tình yêu sâu sắc, đầy hy sinh, và dành cho tôi một tình cảm bao dung cũng lớn như thế, sâu thẳm như thế, vì tôi là người mang đến hạnh phúc cho anh ấy. Tôi chỉ biết được điều đó vào năm 1973, khi được theo một đoàn công tác đến Hà Nội, và tiếp xúc với một người bạn tù lâu năm của chị, đọc những bài báo viết về chị; còn chị khi đó vẫn còn bị giam cầm ở Côn Đảo. Ở chốn địa ngục trần gian ấy, chị đã chết đi sống lại nhiều lần, nhưng trong lòng vẫn tin, vẫn hy vọng anh Trần Hồng Dương còn sống, và biết đến tình yêu của chị… Còn vào ngày hôm đó, khi chị Hai Huệ đã ra về, tôi nắm chặt trong tay lá thư của anh Trần Hồng Dương mà không dám mở ra đọc. Bởi cha tôi đang tự dằn vặt mình trong nỗi đau khổ triền miên, mẹ tôi đau đớn khắp châu thân, răng cắn chặt không nói một lời. Thậm chí tôi tự hỏi chính mình, rằng tình cảm của tôi dành cho anh Trần Hồng Dương có phải là tình yêu không; hay cũng giống như thời gian hứa hôn với Pierre, tôi đã lầm lẫn và rồi phải trả giá một cách khủng khiếp?

Không phải, chắc chắn là không phải. Tôi nhớ rằng tôi đã trao hết sự yêu thương, trìu mến cho anh khi chủ động nắm tay anh, và nói rằng: “Anh không thể chết. Tất cả mới bắt đầu thôi mà…”

Đứng lên ngồi xuống nhiều phen mà tôi vẫn không biết mình phải làm gì vào lúc đó. Tình yêu trong tôi non tơ như hoa cỏ đầu mùa, thoáng chốc đã trở thành giông tố, thành bão táp… Rồi chính mẹ tôi đã giật lấy lá thư tôi mân mê trên tay, xé tan thành không chút thương tiếc. Bà buông một câu:

– Mày có biết rằng cha mày là giống không thể đội trời chung với Việt Minh không? Một chút công danh của ông ấy vì những con người như thằng Trần Hồng Dương mà tiêu tan hết. Mày còn muốn gì nữa?…

Khi mẹ tôi quay đi, tôi đã nhào khỏi chỗ ngồi để nhặt lấy những mảnh thư. Mang về phòng riêng, tôi quỳ xuống đất, sắp xếp lại từng mảnh nhỏ, để cuối cùng đọc được thông điệp anh dành cho tôi:

“Anh tôn trọng mọi suy nghĩ và hành động của em. Anh luôn nhớ lời em, mọi thứ đều mới khởi đầu… Ba Dương!”

 ***

Thứ ba, ngày 19/1/1988

Để khỏi cuồng chân tay, Phillipe Leroy đi lòng vòng qua mấy tầng lầu, ngắm nhìn khung trời đang dần sáng rõ. Anh cảm thấy mình đã hoàn toàn khỏe mạnh, không cần sự trợ giúp nào về y tế cả. Song trong lúc lang thang giữa những dãy phòng bệnh còn sáng đèn, anh tự nhủ phải tìm ra lý do gì đó để ở lại, ít nhất là ngày hôm nay nữa. Kinh nghiệm cho thấy chỉ cần qua được giờ khám bệnh buổi sáng, là đảm bảo sẽ được lưu bệnh ngày hôm đó. Anh nóng lòng muốn sang gặp bà Thùy Mai, nhưng có lẽ giờ này bà đang ngủ. Từ 8 giờ đến 11h30’ sáng là thời gian khám bệnh dài lê thê, bệnh nhân luôn được nhắc nhở phải ở lại giường nằm, nên hầu như anh không đi đâu được cả. Anh chỉ có thể gặp bà trong chốc lát vào giờ ăn sáng, nếu sức khỏe của bà đã khá hơn.

Leroy đã giấu kỹ cuốn sổ tay vào túi xách cá nhân của mình. Anh biết rằng không cần phải hỏi về cái sự “khởi đầu” của mối tình ấy nữa, vì rốt cuộc người thiếu nữ ấy đã quyết định đi theo tiếng gọi của tình yêu, mặc dù thái độ của cha mẹ là quyết liệt ngăn cấm. Điều đáng nói tình yêu ấy được khởi đầu cùng với bao nhiêu biến cố của một đất nước, và dẫn tới một cuộc ra đi kỳ lạ của người thiếu nữ ấy, tính đến nay đã 40 năm? Như bao câu chuyện cuộc đời anh đã gặp, đã nghe, thì tình yêu luôn là sự lựa chọn của số phận con người. Mỗi thân phận, mỗi cuộc đời đều là dấu vết của những mối tình; phải sâu đậm đến thế nào con người mới ghi nhớ và kể lại với một người bạn đường khác vào cuối cuộc đời… Không thể biết được. Đối với câu chuyện này, Leroy đã ghi chép cẩn thận như thói quen nghề nghiệp vốn có của mình, nhưng anh cảm thấy do dự khi đặt bút viết một thứ gì đó đại loại như một đầu đề, một câu ghi chú, bình luận… Anh đã xác định, người phụ nữ trong bài viết của anh chỉ được gọi là M. Chỉ là một câu chuyện không có hình ảnh cụ thể, cho dù đó hình ảnh chụp từ phía sau, khi người phụ nữ ấy quay người ôm lấy một thân cây giữa rừng cao su bạt ngàn, và nức nở. Vì nếu anh không viết được những điều cơ bản nhất trong câu chuyện này, thì đó không chỉ là một sự lãng phí, mà còn như có lỗi với quá khứ. Cho dù anh đã hứa với bà Thùy Mai…

Và đây sẽ là bài cuối trong loạt bài viết về chuyến đi này. Anh nghĩ.

Mấy phút sau, anh lại xuống sân, ngồi trên ghế đá nhìn ra cổng bệnh viện, giống như những người bệnh đang ngóng chờ người thân của mình. Chỉ trong vài phút ngồi im lặng ở đó, trước khi bà Thùy Mai đến gần anh, anh chợt nhận ra rằng mình không có ai để mong đợi ở nơi này, và kể cả ở Pháp. Ở tất cả mọi nơi, anh như một cánh chim mỏi mệt, cô đơn, không nơi nương tựa. Những giây phút hạnh phúc nhất trên đời, anh đã dành cho công việc làm báo và những bức ảnh đẹp. Những người phụ nữ, những mối tình không thành… thực ra không để lại dấu ấn nào sâu đậm trong cuộc đời anh. Anh ngồi trên chiếc ghế đá, như những người bệnh đang muốn rời bệnh viện, thực ra chỉ là một hành động bắt chước. Bởi vì sau khi rời khỏi đây, anh lại phải khởi đầu một chuyến đi dài – một chuyến đi dài và bắt buộc. Trở về Pháp, anh lại tiếp tục công việc của mình. Những công việc được sắp xếp theo đúng trình tự, chứ không nói lên được ý nghĩa gì trong cuộc đời anh…

Tiếng sỏi vang lên lạo xạo, và bà Thùy Mai trong bộ đồng phục bệnh nhân bước đến gần, ngồi xuống bên cạnh anh, vui vẻ hỏi thăm về giấc ngủ và những trải nghiệm của anh tại bệnh viện. Lòng Leroy ấm lên. Anh muốn cất lên câu hỏi: Vì sao người phụ nữ đi qua gần hết cuộc đời với nhiều điều đau buồn, bi thảm đến vậy, lại có thể giữ được niềm vui, sự duyên dáng, đáng yêu… cho đến tận lúc này? Và dành điều đó cho anh, người bạn đường bất đắc dĩ? Trong khi đó, anh là một nhà báo đang trong độ tuổi sung mãn nhất, lại nhận ra mình mệt mỏi và vô cảm với chính mình trên mỗi nẻo đường.

– Bà Thùy Mai, bà không ngủ được sao?

– Anh nghĩ thế nào mà tôi có thể ngủ được khi trở về quê hương? – Bà Thùy Mai nói. Rồi tâm trạng của bà như bất ngờ chùng xuống. Bà nói: – Tôi đã vẽ ra một cảnh tượng khác cho chuyến đi này, nhưng không ngờ mọi điều lại diễn ra như thế này. May mà có anh đã giúp đỡ tôi rất nhiều, Leroy ạ. Mong rằng đối với anh mọi thứ cũng không quá tệ. Nhất là sau khi trở về Pháp, anh sẽ không gặp rắc rối với tòa báo của anh.

Leroy mỉm cười. Anh bất chợt hỏi một câu chưa hề có kịch bản phỏng vấn của mình:

– Bà dự định sau khi về Pháp sẽ làm gì, thưa bà?

Có vẻ hơi bị bất ngờ, bà Thùy Mai quay sang nhìn anh, rồi đáp:

– Thì tôi hoàn thành cuốn sách về địa lý, cho xong phần việc của tôi. Rồi tiếp tục sống như những giáo viên đã về hưu, thế thôi…

– Ý tôi muốn hỏi bà có muốn quay trở về Việt Nam nữa không? Bà có muốn tìm ai nữa không? Hoặc là… sẽ viết một cuốn sách về cuộc đời của mình chẳng hạn…

Những ý tưởng bất chợt thoáng qua đầu Leroy, bắt anh phải nói ngay. Gương mặt bà Thùy Mai đang trắng bệch và phờ phạc giãn ra, thoáng nét tươi vui. Bà nói với anh bằng vẻ biết ơn.

– Quả là những việc làm có ý nghĩa to tát, xuất phát từ cái đầu của một nhà báo trứ danh. Nhưng quả thật tôi không nghĩ đến những điều đó, vì tôi có những công việc phải làm hàng ngày, những mục tiêu nhỏ hơn, cụ thể hơn. Tôi thật sự xin lỗi anh, vì tôi hiểu, theo suy nghĩ của anh, đối với cuộc đời đầy những sóng gió như tôi, thì về cuối đời, tôi phải làm được điều gì đó lớn lao, khác thường… Quả thực tôi cũng từng nghĩ như thế. Nhưng sau một đêm ở núi Chứa Chan, chiêm nghiệm về cuộc đời, tôi lại nghĩ nếu tiếp tục sóng gió cũng tốt, mà bình yên thì còn tốt hơn. Tôi đã có một cuộc đời gần như trọn vẹn, hơn những người bạn khác đã phải chết trong chiến tranh; hơn cả cha mẹ tôi những năm tháng sống nơi đất khách quê người…

Leroy im lặng hồi lâu. Anh biết mình lại chạm vào một tâm sự sâu kín trong lòng bà Thùy Mai. Nhưng không thể tránh được, cần phải có sự thông hiểu lẫn nhau thôi. Anh biết, những người lớn tuổi thường rất độ lượng, bà Thùy Mai lại là cô giáo cũ của anh từ thuở thiếu thời. Anh tin tâm sự này của bà là thật, bà sẽ không giấu anh trong mọi chuyện, ngay cả những dự định trong tương lai.

– Cha mẹ của bà…?

– Họ đã mất rồi, cách đây không lâu, Leroy ạ.

Trong một thoáng, Leroy cảm thấy mất bình tĩnh. Số phận của người con gái duy nhất, trong một gia đình người Á đông quả thật là không bình thường. Nhưng chẳng lẽ chỉ vì cha mẹ mình? Và bà Thùy Mai gọi như vậy là “một cuộc đời gần như trọn vẹn” sao? Anh lặng lẽ quan sát thần thái u buồn nhưng nhẹ nhõm của bà, rồi lựa lời hỏi lại:

– Hẳn là cha mẹ bà đã hiểu ra mọi điều, và chúc phúc cho bà?

Bà Thùy Mai quay ngoắt đầu lại để nhìn Leroy bằng đôi mắt cận thị. Cái nhìn có vẻ dữ dội, đầy thất vọng, rồi sau đó dịu lại ngay. Bà lắc đầu:

– Không, cho đến khi chết cha mẹ tôi vẫn không bằng lòng về tôi. Mẹ tôi bảo thà rằng tôi là một đứa con trai, thì bà sẵn sàng chiều theo những ý muốn của tôi. Còn cha tôi thì sống trong một quãng đời dài u uất, từ khi rời đất nước sang Pháp, sống trong trại tị nạn Grand Arènas ở Marseille, cho đến khi mất đi. Thậm chí họ còn không muốn tôi quay trở về Việt Nam bất cứ một lần nào. Tôi có cảm giác như là cha mẹ tôi đã chết ngay khi xuống tàu biển để ra đi, song họ không chấp nhận cách tôi đi tìm cuộc sống mới, dù rằng lúc nào tôi cũng chọn sống bên cạnh họ.

– Gia đình bà đã từng ở trong trại tị nạn sao?

– Đúng vậy, và ở đó đến 17 năm. Tôi đã tìm mọi cách thoát ra khỏi nơi ấy bằng cách học lại cao đẳng và lấy cho được bằng sư phạm để đi dạy học. Khi đã có thu nhập ổn định, được nhập cư chính thức, tôi tìm mọi cách để đưa gia đình ra khỏi trại tị nạn. Nhưng cha mẹ tôi đã không muốn đi, vì họ tin vào lời những gia đình khác, tin vào lời hứa của chính quyền Pháp sẽ giao việc và khôi phục chế độ lương bổng cho cha tôi. Đó là điều không thể có vì sau khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, nước Pháp chìm ngập trong những món nợ khổng lồ. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương cũng để lại những dư vị đắng cay khiến họ muốn quên đi hơn là muốn nhắc tới những “công dân” bất đắc dĩ như cha mẹ tôi. Cha tôi đã mê muội, ông đặt niềm tin quá lớn vào những điều không có thực, để rồi mất tất cả. Leroy ạ, không bao giờ tôi quên được nỗi đau chất chứa trong lòng cha tôi, khi ông bị đối xử một cách khinh miệt đến tàn nhẫn của cả người Việt lẫn người Pháp ở trại tị nạn. Tôi cũng không bao giờ quên được sự cô đơn lạc lõng của ông nơi đất khách quê người, và nỗi sợ hãi vì không gặp được một người thân nào ở đó, cho tới chết… Anh có nhớ là tôi đã từng kể, sau cuộc đảo chính của người Nhật, ông bà, chú bác bên nội của tôi đã lần lượt sang Pháp không? Không hiểu vì lý do nào đó mà họ biến mất, không để lại một manh mối nào để liên lạc…

Leroy gật đầu. Anh không ngờ câu chuyện đã diễn ra phức tạp hơn anh tưởng rất nhiều. Bà Thùy Mai ngừng lại để thở, sau ít giây, bà nói tiếp:

– Nhưng quả thực, chính cha tôi cũng không hề có ý định tìm lại gia đình, người thân của mình trên đất Pháp. Ông như một con thú bị thương, vĩnh viễn không còn khả năng phản kháng nên sống thu mình trong im lặng cho đến cuối đời. Thật đáng sợ. Nhưng tôi kể cho anh nghe lý do vì sao lại như vậy. Sau khi cha mẹ biết tôi có tình cảm với anh Trần Hồng Dương, họ đã cấm cố tôi tại nhà, không cho đi đâu hết. Cha tôi thì đòi tự tử, nếu tôi còn qua lại với anh ấy. Hoặc có lúc lên cơn điên, ông lại lôi mẹ tôi ra hành hạ không thương tiếc. Hơn ba tuần lễ gia đình tôi như sống trong địa ngục. Cảnh sống ấy dần dần làm cho tôi muốn quy hàng, tôi muốn nói với cha mẹ rằng tôi sẽ từ bỏ tất cả để cho cha mẹ vui lòng. Nhưng lòng tôi nghẹn lại. Không thể nào có thể nói ra được điều ấy, khi mà trái tim muốn điều hoàn toàn ngược lại. Tôi mong ước được gặp lại anh Trần Hồng Dương, dù chỉ một phút, một giây thôi. Rồi chết cũng cam lòng…

Nhưng ngay sau đó, người Pháp đã quay trở lại Sài Gòn. Sau này tôi mới biết là họ theo chân quân đội Anh để dọn dẹp những “tàn tích” của quân Nhật để lại. Trước ngày 23/9, những sĩ quan và binh lính Pháp bị giam ở Sài Gòn đều được thả ra, và họ đã nổ súng, tái chiếm Sài Gòn một cách nhanh chóng không tưởng tượng được. Nghe tiếng súng nổ ở một góc nào đó của thành phố, cha tôi chưa kịp hiểu điều gì đang xảy ra thì thật bất ngờ, Pierre Fournier và một nhóm lính Pháp đã đến nhà tôi trên một chiếc xe hơi mui trần. Tôi nghe ông kêu lớn cái tên ấy, run rẩy đến choáng ngợp. Và ngay lập tức tôi chui xuống hầm để trốn.

Bất ngờ không Leroy? Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra chớp nhoáng. Pierre mang đến một chai rượu vang, và cả chiếc nhẫn đính hôn anh ta đã từng giật khỏi tay tôi. Cha tôi nói dối rằng tôi không có nhà, nhưng khi anh ta đi rồi, ông đã đến trước cửa hầm gọi tôi. Mẹ tôi ngồi chờ sẵn ở thư phòng, đôi mắt không buồn không vui nhìn tôi, trong khi cha tôi cho biết rằng Pierre đã được phục chức ở Xuân Lộc. Đất đai, điền trang bị quân Nhật chiếm đóng đã được trả lại toàn bộ. Đây là chuyến anh ta về Sài Gòn nhận lại quân hàm, và sau khi ghé nhà tôi, anh ta trở lại Xuân Lộc để tiễu trừ bọn thảo khấu, truy lùng Việt Minh hòng lập công lớn. Pierre hẹn sau một tháng sẽ quay về làm lễ cưới với tôi, và gần như “lệnh” cho cha tôi phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Tất nhiên, cha tôi với tư cách là gia trưởng, đã tuân lệnh ngay lập tức mà không dám có điều kiện gì kèm theo. Ông trao lại cho tôi chiếc nhẫn kim cương, và nói một cách vắn tắt:

– Thượng nhân Pierre đã giúp con sửa sai rồi đó. Con hãy ngoan ngoãn mà đoái công chuộc tội. Cha mẹ bỏ qua chuyện tên Việt Minh tên Trần Hồng Dương, sẽ vĩnh viễn không bao giờ nhắc đến cái tên ấy… – Ông hướng cái nhìn qua mẹ tôi rồi nói: – Nhất là không bao giờ được nhắc trước mặt của thượng nhân Pierre, bà có hiểu không? Còn cha, trong ngày một ngày hai nữa cũng sẽ quay trở lại Hội đồng thuộc địa để làm việc. Cha sẵn sàng đưa mẹ con đi Lào, đi Cambodia hoặc sang Pháp để tiếp tục làm việc. Nhưng có lẽ là sang Pháp…

Tôi đưa hai tay nhận lấy chiếc nhẫn, cái đầu trống rỗng, không có một chút cảm xúc nào trước viễn cảnh cha tôi vẽ ra. Nhưng cùng lúc ấy, một phần nào đó trong con người tôi trỗi dậy, đó là một thứ bản năng yêu thương, tìm kiếm được phát lộ một cách quyết liệt. Tôi nói với cha tôi.

– Cha cho phép con gặp lại mấy người bạn gái đồng học của con, trước lúc làm hôn lễ với Pierre, được không cha? Con muốn đường đường chính chính thông báo việc hôn nhân ấy với xã hội, chứ không muốn mang tiếng là cưới chạy, cưới gấp…

– Không thể được – Mẹ tôi cướp lời tôi – Nó sẽ tìm cách trốn đi đấy, ông không được buông lỏng nó. Tôi muốn làm cách nào đó báo cho cái gã Trần Hồng Dương kia biết rằng, con gái tôi chuẩn bị lấy chồng, chứ tôi không quan tâm gì đến lũ con gái ấy…

Cha tôi đã chạnh lòng khi thấy tôi đứng ở đó, nước mắt vòng quanh và bối rối vặn vặn, xoay xoay chiếc nhẫn. Trước cơn giận dữ của mẹ tôi, ông đã có một quyết định để che chở, hoặc an ủi tôi, vì, có lẽ chính ông cũng được an ủi:

– Thôi được, con muốn gặp bạn gái nào cha sẽ cho mời người ấy đến. Con nên nhớ lừa dối cha mẹ là vô ích. Cả cuộc đời này con không có cơ hội hối cải đâu…

Tôi quay về phòng riêng, tự nhốt mình trong đó. Chốc, chốc, cha hoặc mẹ tôi mở cửa phòng ra để xem tôi còn ở đó hay không? Biết không thể qua mắt được họ, nên tôi không thèm làm gì cả, cũng không nói năng gì trong lúc mẹ tôi huyên thuyên về chuyện cưới hỏi, về tương lai của tôi và Pierre. Trong lòng tôi chỉ có một mơ ước cháy bỏng không nói thành lời: Gặp lại anh Trần Hồng Dương, dù chỉ để vĩnh biệt anh. Những ngày đó lòng tôi rối bời bởi ý nghĩ biết đâu anh đã không còn trên cõi đời này nữa. Súng đã nổ thì máu lại đổ, làm sao tránh được cái chết khi người làm cách mạng có quá nhiều kẻ thù không đội trời chung như thế? Nhưng dù anh đã chết đi nữa, thì tôi vẫn muốn được nhìn thấy anh. Chỉ có thể là anh thôi, rồi cuộc đời tôi mai sau thế nào cũng được…

***

Hai ngày sau, cha tôi đã mời các chị đến. Họ đến đủ mặt, vẫn là các chị Hai Huệ, Năm Quỳnh, Ba Gái, Lan Hương. Đích thân mẹ tôi chủ trì cuộc họp mặt ấy, để thông báo cho các chị biết cuối tháng 10 năm ấy tôi sẽ kết hôn với Pierre.

– Trong số các cô, nhất là cô Hai Huệ, có ai định rù quyến con gái tôi theo Việt Minh thì tôi khuyên là hãy từ bỏ ngay lập tức ý định ấy. Ông ký Thái đã quay lại nhiệm sở, và có thể bắt bỏ tù ngay kẻ nào muốn chống đối chính quyền. Và tôi cũng khuyên các cô đừng học đòi làm cách mạng làm gì. Pierre Fournier kể riêng và người Pháp kể chung sẽ chẳng sai lầm một lần nào nữa đâu… Hãy cứ biết như vậy nhé!

Không biết mẹ tôi đã tìm được lời lẽ đanh thép ấy ở đâu ra. Nhưng trong lúc ngồi im, cúi gằm mặt xuống, tôi không khỏi rùng mình sợ hãi. Chị Hai Huệ cũng ngồi im lặng, không dám nói gì. Nhưng chị Năm Quỳnh lại đon đả nói ngay:

– Dạ thưa bác, tụi con đâu có dám manh động như vậy. Chuyện hôn nhân sắp tới của Thùy Mai với ngài capitane Pierre Fournier quả là kỳ tích, tụi con có muốn cũng không thể nào sánh được với sự may mắn của Thùy Mai. Hai bác cũng nên nhanh chóng tổ chức hôn lễ cho Thùy Mai, vì cuối năm nay cha con cũng đưa con sang Thái Lan để kiếm chồng, các chị này cũng phải đi theo gia đình để phát triển kinh doanh… Chúng con nào dám cãi song thân, mà cha mẹ chúng con cũng chẳng dám cưỡng lại lệnh quan trên. Dạ thưa bác, mẹ con có khúc vải lụa này mua từ Thái Lan, bảo con mang sang tặng bác. Nếu bác thích thì con sẽ đưa bác đi may để mặc trong đám cưới Thùy Mai. Còn có bao nhiêu chuyện phải lo, nào là đi chùa, đi coi thầy, định ngày đám cưới… Có gì bác cứ gọi, con xin phụ giúp bác một tay…

Không ngờ khúc vải lụa màu mật ong đã cứu tôi khỏi tình cảnh nghiệt ngã này. Mẹ tôi vốn là thợ may, là chủ tiệm vải lớn nên bà nhận ngay ra giá trị của khúc vải lụa chị Năm Quỳnh mang đến. Trong lúc bà hớn hở ướm thử tấm vải lên người thì tôi quờ lấy tay chị Hai Huệ. “Chị ơi!…” Tôi nói trong hơi thở, sợ mẹ tôi nghe thấy. Chị giơ một ngón tay lên ra hiệu bảo tôi im lặng, rồi tuồn cho tôi một lá thư. Tôi đã chạy ngay vào nhà vệ sinh để đọc nó. Không phải thư của anh Trần Hồng Dương, mà là của chị Hai Huệ. Chị báo cho tôi biết anh Trần Hồng Dương và nhiều người khác đã phải rút về Xuân Lộc để tránh sự trả thù của quân đội và chính quyền Pháp, vốn đang rất hung hãn khi quay lại chiếm giữ Sài Gòn. Chị cũng sẽ về Xuân Lộc, tham gia vào đội quân giải phóng, và hỏi tôi có muốn cùng về nơi đó hay không? Chị viết trong thư: “Anh Trần Hồng Dương đang rất mong chờ em, nhưng anh ấy không thể xuất hiện được, nên nhờ chị chuyển lời: “Yêu quý Thùy Mai!” Chị chờ câu trả lời của em, chiều mai, ở Nhà thờ Đức Bà, lúc 4 giờ chiều. Em cứ nói là muốn xem lễ để chuẩn bị hôn lễ với Pierre. Nhất định cha mẹ em sẽ đồng ý…”

Khi tôi hủy xong bức thư trong cầu tiêu rồi chạy ra thì đúng lúc chị Hai Huệ đứng dậy, cung kính nói với mẹ tôi: “Dạ thưa bác, con xin lỗi bác!” Nói rồi chị ra về. Tôi bước theo song bị mẹ tôi ngăn lại. Trong đầu tôi ong ong câu hỏi của chị; sao lại hẹn tôi ở Nhà thờ Đức Bà, chứ không phải ở chùa? Làm sao tôi có thể đến đó vào lúc 4 giờ chiều mai? Tôi nhìn các chị bạn gái cầu cứu, nhưng không ai có thể giúp được tôi. Họ lần lượt ra về, để lại cho mẹ tôi sự hài lòng khiến tình hình trở nên thoải mái, dễ chịu hơn. Tôi đánh bạo nói với mẹ.

– Mẹ ơi, chiều mai mẹ đưa con ra Nhà thờ Đức Bà xem lễ nha mẹ. Con nghĩ thế nào Pierre cũng muốn làm hôn lễ trong nhà thờ, nên con muốn xem họ cử hành như thế nào…

Mẹ tôi dò xét nhìn tôi, vẻ mặt bà trở nên không bình thường, song tôi chẳng còn cách nào khác là cố sức tỏ ra thành thật. Không ngờ mẹ tôi đã đồng ý, còn sắm cho tôi chiếc áo dài trắng và đôi găng tay trắng. Và chiều ngày hôm sau, bỏ mẹ lại trong nhà thờ, khoác lên người một chiếc áo choàng màu đen, tôi đã theo chị Hai Huệ lên một chiếc xe kéo, hối hả đi về hướng Thị Nghè.

Chị Hai Huệ đã chuẩn bị hai chiếc thẻ căn cước giả cho cả hai người. Chuyến đi trót lọt mặc dù chúng tôi phải dừng lại rất nhiều lần ở các đồn canh từ cửa ngõ Sài Gòn cho đến Xuân Lộc, vì lính Pháp gia tăng kiểm soát, bắt bớ người theo Việt Minh, thậm chí ngăn chặn việc tiếp tế thuốc men từ Sài Gòn về Xuân Lộc. Để lính canh không nghi ngờ, tôi và chị Hai Huệ đã cải trang cho thật già, thật xấu, trông như người nhà quê chính gốc, và hoàn toàn không mang theo tài sản gì. Anh cũng hiểu là, khi ra đi trong hoàn cảnh như thế, thì tôi hoàn toàn không thể mang theo thứ gì. Trong túi áo trong của tôi là tấm thẻ số hiệu của anh Trần Hồng Dương, vài cây kim may và cuộn chỉ đen của mẹ. Tôi mang chúng theo như mang tấm bùa hộ mệnh. Bộ áo dài màu trắng và đôi găng tay xinh xắn tôi đành để lại ở Thị Nghè, đành phụ tấm lòng đặt trên từng đường kim mũi chỉ của mẹ tôi.

Tôi đã đóng kịch rất đạt, trong trạng thái bình tĩnh đến không ngờ trong suốt chặng đường. Gần như tôi không còn biết sợ khi đi qua con đường ấy, khi nhìn vào mặt những người lính canh – cả người Pháp lẫn người Việt. Bởi tôi biết cuộc đời của tôi từ nay thay đổi. Mà nếu tôi không ra đi, nếu tôi ở lại Sài Gòn, thì cuộc đời cũng sẽ thay đổi, nhưng hoàn toàn ngược lại. Chị Hai Huệ thỉnh thoảng nắm lấy tay tôi, truyền bằng mắt sự động viên, khích lệ. Tôi tựa vào đó mà lấy thêm dũng khí. Không ngờ tôi đã rời bỏ cha mẹ, gia đình để ra đi trong một hoàn cảnh chóng vánh đến như vậy.

TRẦN THU HẰNG

(Trích tiểu thuyết Chuyện tình ở Hầm Hinh)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.