Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 2

Vanvn- Mẹ tôi nằm trên giường, toàn thân bầm tím, trong lúc cha tôi u uất uống rượu rồi ngủ trong phòng đọc sách. Tôi chạy qua chạy lại phục dịch cho hai người, nhưng cả hai đều từ chối. Trong hoàn cảnh đó, tôi cảm thấy đau khổ, ân hận thiếu điều muốn buông xuôi tất cả… Nếu như không có chuyện vài ngày sau tôi nhận được một bức thư của anh Trần Hồng Dương. Chị Hai Huệ mang thư đến cho tôi, cùng với vẻ mặt u buồn đáng sợ…

Nhà văn Trần Thu Hằng

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Chuyện nhỏ bên hồ tràm – Truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp

>> Khách của quê nhau rún – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 1

>> Trở lại Đắc Lua – Bút ký của Lê Đăng Kháng

>> Thơ Trần Ngọc Tuấn: Tôi ngồi vẽ núi lạnh mười ngón tay

>> Má Năm – Truyện ngắn của Nguyễn Trí

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 1

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu luận của Bùi Công Thuấn

>> Thơ Đàm Chu Văn: Ngọn nguồn nối mạch ca dao

>> “Lửa cháy” ngoài nhà thờ Đức Bà Paris – Truyện ngắn của Khôi Vũ

>> Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Hoàng Văn Bổn

>> Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Còn lại thiên thu một chút tình

 

– Tôi kể vắn tắt cho anh nghe nhé! – Bà Thuỳ Mai nói như bị hụt hơi, đôi mắt cận thị trông khá mệt mỏi: Còn anh Trần Hồng Dương thì vẫn luôn hết sức lịch sự đối với tôi. Những điều thuộc về bản thân, hầu như anh đều giấu kín. Tôi chỉ được biết anh là một trong 9 người con của một gia đình mộ phu trên đất cao su, và hiện giờ đang tham gia phong trào Việt Minh. Trong tổ chức, anh cũng có vai vế gì khá lớn, hoặc vì nguyên tắc đảm bảo bí mật nên anh chẳng bao giờ đi chung, ngồi chung với tôi. Vì vậy, quả thực tôi không biết anh ấy có dành tình cảm riêng tư gì cho tôi không. Nhưng đến đêm 9- 3- 1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Giữa cha mẹ tôi đã nổ ra một cuộc tranh cãi lớn chưa từng có, khi cha tôi đòi đốt nhà để tìm tàu sang Pháp, vì lúc này rất nhiều người Pháp và cả người Việt đổ xô nhau tìm tàu vượt biên sang Pháp. Nhưng lúc này quân Nhật đã kiểm soát toàn bộ đường giao thông, và phong toả đường thuỷ rất chặt chẽ. Mẹ tôi dứt khoát không bằng lòng, bà muốn gia đình lánh đi để xem tình hình thế nào. Ý bà muốn về nhà cũ, nơi có năm bà chị nuôi người Hoa kiều, để nhờ giúp đỡ. Thế mạnh của mẹ tôi là một cái tráp đựng đầy tiền vàng bà luôn ôm kè kè bên người. Tuy lấy chồng là người công chức của Pháp, bà lại không tin tưởng hệ thống ngân hàng của Pháp nên không bao giờ gửi tiền vào nhà băng. Khi các Ngân hàng gần đó bị quân Nhật vào cướp phá, thì bà vẫn bảo toàn được tài sản của mình. Và bà khăng khăng giữ rịt lấy cái tráp đựng vàng bên người và tuyên bố nếu cha tôi muốn đi Pháp thì cứ việc đi một mình, còn bà sẽ lo cho tôi. Cuộc cãi vã tưởng như không dứt được, trong lúc tiếng súng nổ vang lên rất gần khu vực nhà tôi. Cuối cùng, mẹ tôi nghĩ ra việc thuê người đào hầm ngay trong nhà để trú ẩn. Bà chỉ huy và cha con tôi phải tuân theo lời bà. Trong lúc đó tôi không ngừng nghĩ đến anh Trần Hồng Dương, rằng anh có biết hoàn cảnh gia đình tôi lúc này không? Rằng nếu tôi, hoặc anh bị trúng đạn, bị chết… thì người còn lại có biết để đi tìm không?… Tôi nhớ đến buổi ra mắt ở nhà ông Tám Thu và lần gặp gỡ anh hiếm hoi sau đó, lúc đó tôi thầm trách anh đã không báo cho tôi biết tình hình này. Và khi chui xuống cái hầm tối như bưng, còn oi nồng mùi đất mới đào, tôi tự nhủ: Như thế là hết! Có lẽ Việt Minh cũng bị đàn áp. Và biết đâu, anh cũng đã bị bắt, hoặc bị giết… Tôi nhủ thầm rằng tôi cũng đang đành phải chui vào huyệt mộ của chính mình. Giấc mơ của anh, thế là tan tác hết…

Thời gian trôi qua. Có tiếng bước chân phía trên, và có người cậy nắp hầm của chúng tôi. Cha tôi thủ sẵn con dao rựa bên hông, vội vàng vọt lên sẵn sàng đổi mạng với bọn Nhật để bảo vệ cho vợ con. Nhưng kỳ lạ thay, đó chính là chị Hai Huệ. Chị cho biết chính quyền Pháp đã đầu hàng vô điều kiện, tình hình đã yên trở lại. Chị đến tìm tôi và thấy dấu vết của căn hầm nên đánh bạo mở ra để tìm tôi. Cha mẹ tôi mừng như bắt được vàng, và lại tiếp tục cuộc cãi vã xem nên ở lại hay tìm chỗ thoát thân ở đâu đó. Mẹ tôi nhắc lại ý muốn tạm lánh về khu người Hoa, nơi gia đình ân nhân của bà đang ở. Còn cha tôi nhất quyết muốn ở lại để nghe ngóng tình hình của người Pháp. Ông nói thẳng thừng là ông muốn sang nước Pháp vì ông đã phục vụ cho chính phủ Pháp bao nhiêu năm rồi, ông có chế độ và sự ưu đãi của nhà nước Pháp. Cuối cùng, mẹ tôi đành thua ông. Chị Hai Huệ đành lên xe kéo để về, sau khi lễ phép rút lui. Trước khi lên xe, chị nói nhỏ vào tai tôi:

– Em cố gắng chịu vài ngày thôi, sẽ không sao đâu. Có người lo cho cho em mà, đừng sợ…

Tôi nhìn theo chị và giật mình nhận ra người kéo xe cho chị chính là anh Trần Hồng Dương. Trông anh không khác gì một phu xe rách rưới. Tôi vội vàng lao ra theo chiếc xe kéo đang rời khỏi cổng nhà tôi, nhưng không kịp, vì hai người biến đi rất nhanh, còn mẹ thì vội vàng lôi tôi lại. Bà đã quệt lọ nồi lên mặt tôi, cố tình làm cho tôi thật xấu xí, dị hợm, vì bà nghe nói lính Nhật là những kẻ cuồng dâm và tàn bạo. Cha mẹ tôi lại tranh cãi nhau suốt mấy ngày về chuyện tương lai, và sau cùng, mẹ tôi đồng ý sẽ theo cha tôi sang Pháp ngay vào dịp nào có thể. Vì bản thân bà không có người thân thích, bà cũng không biết sống như thế nào trong cảnh bất an này. Tôi nhớ cha tôi đã nói với mẹ con tôi:

– Ngài toàn quyền đã hứa với tất cả mọi người rồi, rằng Ngài sẽ lo cho chúng ta toàn bộ khoảng đời còn lại. Pháp lang sa không thể thua quân Nhật, hay bất cứ nước nào, chỉ vì chúng ta không đủ sự trung thành và mẫn cán để bảo vệ cho chính chúng ta thôi…

Lúc đó, tôi đã buột miệng biện luận với cha mình rằng:

– Thưa cha, sao cha không vì lợi ích của người Việt mình, mà lại chạy theo người Pháp lang sa?

Cha tôi đã không nói gì, mà mím chặt môi, nhìn tôi như nhìn một sinh vật dơ bẩn (lúc đó trông tôi nhếch nhác, dơ bẩn thật sự), và giơ tay tát tôi thật mạnh. Mẹ tôi vội đỡ lấy cánh tay của ông, khóc lóc xuýt xoa hệt như lúc khấn Phật trên chùa mà nói với tôi: “Con ơi! Con không lấy Pierre thì lấy thằng Tây khác, chứ nhất thiết không được xúc phạm cha con như thế…”

Chính vì sự kiện ngày 9/3 năm ấy mà tôi suy nghĩ rất nhiều về tương lai. Không còn đến trường hàng ngày nữa, tôi ở nhà nghiền ngẫm về cuộc đời, và âm thầm viết một lá thư, chờ có dịp nào gặp được chị Hai Huệ sẽ nhất định nhờ chị chuyển cho anh Trần Hồng Dương. Trong suy nghĩ non nớt của tôi, tôi nghĩ rằng hai người có tình cảm với nhau, còn tôi chỉ là một người có liên quan, giúp cho họ hoàn thành nhiệm vụ do tổ chức của Việt Minh giao phó. Tôi nghĩ không cần phải nói dài dòng về sự tự ti, mặc cảm của tôi lúc đó, chỉ biết là tôi cảm thấy mình nhỏ bé, thừa thãi đến thế nào trong cuộc đời này. Nên tôi viết một bức thư để tạ từ anh, kèm theo cái thẻ bài mà anh đã giao cho tôi trong cái đêm ở đồn trú Xuân Lộc. Lá thư của tôi thông báo về việc tôi có thể đi theo cha mẹ sang Pháp bất cứ lúc nào, nên tôi gửi trả kỷ vật cho anh, và chúc anh bình an, hạnh phúc… Lúc đó tôi thực sự vẫn chưa hiểu anh nhiều, cũng chưa biết Việt Minh là gì, nhưng cảm thấy bế tắc hoàn toàn trong tâm tưởng.

Đúng như tôi nghĩ, chỉ hơn ba ngày sau, chị Lương Thị Huệ trở lại. Lần này, chị mang đến một lá thư vắn tắt của anh Trần Hồng Dương, trong đó viết rằng anh cần gặp tôi càng sớm càng tốt. Vậy là quên mất lòng tự ái con trẻ, cũng quên luôn bức thư tạ từ, tôi quýnh lên tìm cách trốn ra khỏi nhà, đi theo chị Hai Huệ để gặp anh ấy. Và Leroy ạ, vì muốn gặp anh ấy mà tôi dám ra khỏi nhà trong hoàn cảnh ấy, hoàn toàn không biết sợ là gì. Quả thực, tình hình Sài Gòn khi đó cũng đã lắng dịu lại, tôi nghe chị Hai Huệ bảo rằng vua Bảo Đại chuẩn bị lên ngôi một lần nữa, dưới sự che chở của người Nhật. Sau mấy ngày vơ vét các nhà băng, trụ sở làm việc của người Pháp, lính Nhật đã rút đi, để lại cái xác nhà rỗng cho người Việt. Nghe vậy, tôi mới hiểu vì sao cha tôi lại buồn bã, cay đắng đến như vậy. Và tôi nhớ đến câu nói của anh Trần Hồng Dương trước kia: “Nếu lực lượng Việt Minh không lớn mạnh được lên thì đất nước này sẽ có thêm một kẻ cai trị mới”. Tôi nắm chặt lấy vạt áo khách để dấn bước theo chị Hai Huệ đến chỗ hẹn (bộ áo khách do chị Hai Huệ mang đến, bảo tôi cải trang cho giống con trai), trong thâm tâm, tôi biết gia đình mình không thể nào sang Pháp được, vì một sự thật hiển nhiên là người Pháp không có mặt ở Đông Dương nữa. Nhưng tiếp sau đó, gia đình tôi phải sống ra sao thì chưa rõ.

Chị Hai Huệ đưa tôi đến đúng căn phòng trọ của anh Trần Hồng Dương, nơi tôi đã tìm đến một lần. Lúc chị quay ra, tôi nhận thấy ánh mắt chị nhìn anh ấy rất buồn, rất lạ. Cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài khoảng 15 phút, nhưng tôi kịp hiểu rằng anh hết sức lo cho tôi khi tình trạng đảo chính diễn ra. Anh cho tôi một địa chỉ để gia đình có thể đến, nếu không may tai hoạ bất ngờ xảy ra. Anh dặn dò tôi giữ mình và không nên cho cha mẹ biết mình có quen với người của Việt Minh. Và điều dặn dò cuối cùng là nếu không thể sống được trong nội thành Sài Gòn, thì tôi hãy tìm về núi Chứa Chan, vì theo anh, đó là căn cứ chiến đấu lâu dài. Anh – Nhật, hay Pháp dù mạnh thế nào cũng không phá vỡ được phòng tuyến Xuân Lộc. Anh hỏi: “Em có còn giữ tấm thẻ bài của anh không? Ngay cả khi em không còn giữ nó, thì đến nơi ấy, em chỉ cần nói đến tên anh là sẽ có người giúp đỡ em…” Tôi nghẹn ngào nhìn anh, và chợt nhớ bức “tâm thư” bỏ quên ở nhà do vội vã theo chân chị Hai Huệ đến gặp anh. Lần đầu tiên tôi giơ tay sờ vào mặt anh, và trả lời rằng: “Em vẫn còn giữ nó…”.

Anh Trần Hồng Dương đã đột ngột ôm chầm lấy tôi, xiết chặt trong vòng tay cứng như sắt của anh, và nói rất nhanh: “Cảm ơn em!” Rồi sau đó chúng tôi chia tay vì chị Hai Huệ xuất hiện, đưa tôi về nhà…

– Bà vẫn chưa kể việc ông ấy ngỏ lời với bà như thế nào, bà Thuỳ Mai ạ.

Leroy cảm thấy nóng lòng, anh lên tiếng khi nhận thấy thời gian trôi qua quá nhanh, quá gắt gao, trong lúc anh có nguy cơ được xuất viện và về nước sớm hơn bà. Trong khi đó, người phụ nữ cứ thao thao bất tuyệt về mối tình thời thiếu nữ của mình, quên cả thời gian và không gian xung quanh. Bà Thuỳ Mai im lặng, hơi ngước lên để nhìn Leroy, như bất chợt muốn đo đếm sự chân thành của anh. Rồi khi cảm thấy hoàn toàn yên tâm, bà lại kể tiếp:

– Những ngày chuẩn bị cướp chính quyền, thành lập chính quyền lâm thời vào tháng 9 năm ấy, có nhiều người chết lắm. Họ là đồng đội, là bạn bè cùng chí hướng với anh Trần Hồng Dương. Thậm chí không quen, nhưng anh ấy nghe qua tên họ, rồi ghi khắc trong tim mình như một sự mất mát, đau thương. Trái tim đa cảm của anh ấy gần như bị bóp nghẹt hằng ngày vì những cái chết do bắt bớ, tra tấn và hành quyết vô lý của bọn lính Nhật. Còn tôi, khi đó là một cô gái 18 tuổi, thì càng không thể nào chịu đựng nổi cái tin người chết hàng ngày trên đường phố, nhà băng, quán ăn Sài Gòn… Cái khung cảnh tưởng chừng êm ả đó, thực ra là cả một đoạn đầu đài trá hình, mà những người Việt Minh, và cả người dân vô tội không sao tránh được. Cộng vào đó là tin tức về nạn đói từ xứ Bắc kỳ (miền Bắc Việt Nam) đưa tới, cùng với đủ thứ chuyện rùng rợn, đáng sợ về những cái chết vì đói. Tôi đã theo anh Trần Hồng Dương đi gặp gỡ vài người trong ban chỉ huy, đi tham gia những cuộc biểu tình của sinh viên, hoặc nghe các bậc trí giả nói chuyện chính trị… Mỗi lần đi đều phải lén lút, nói dối cha mẹ, bớt xén thời gian và phải lo về đúng giờ, nên hầu như không có lần nào được tham gia trọn vẹn. Nhưng đó là những lần “hẹn hò” của tôi với anh ấy, tôi nghĩ vậy. Chỉ là ngồi cách nhau một khoảng cách khá xa, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn nhau, rồi đến giờ thì anh ấy nhắc tôi chuẩn bị, nhờ người đưa tôi về. Cảm xúc yêu đương thầm lén trộn lẫn với những câu chuyện thời cuộc khiến tôi trưởng thành. Tôi hiểu rằng mình phải trở thành một người đồng đội của anh, hoặc sẽ không là gì cả.

Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết của Trần Thu Hằng

Đến ngày 20/8, anh Trần Hồng Dương cố tình gặp riêng tôi trong một cái kho chứa hàng chuẩn bị cho việc cướp chính quyền. Anh cho tôi biết anh đã được lệnh tham gia cướp chính quyền ở Chợ Lớn vào ngày 25/8, sau đó về Biên Hoà rồi ngược lên Đồng Nai thượng. Và anh nói rằng: “Lý ra anh phải tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật của tổ chức, nhưng lần đấu tranh này là một mất một còn, không thể nói trước được điều gì. Hôm nay anh ở trước mắt em, nhưng ngày mai có khi anh đã chết. Vì vậy, anh muốn gặp em để kể câu chuyện anh vẫn giấu kín về cuộc đời mình…”

Thế là trong nhà kho chứa rất nhiều thóc gạo, thuốc men của lực lượng Thanh niên Tiền phong lúc ấy, tôi ngoan ngoãn ngồi nghe anh kể chuyện. Anh đã kể hết tất cả những biến cố lớn nhỏ của đời mình, từ việc gia đình anh dắt díu nhau đến căn lán trống hoác ở đồn điền cao su, cho đến việc mẹ anh bị hãm hiếp đến truỵ thai, phải thắt cổ tự tử, cha và hai người anh lớn bị hành quyết một cách man rợ… Và chuyện ba đứa con còn lại, trong đó có anh, dắt díu nhau chạy trốn trong đói khát; chuyện anh từ chối sang Pháp và những tháng ngày đi tìm anh chị mình trong vô vọng, cho đến lúc gặp tổ chức Việt Minh… Trong lúc kể, vẻ mặt anh vô cùng nghiêm túc, mặc dù nhiều lần anh suýt rơi nước mắt. Tôi thấy mình đã lớn lên cùng với câu chuyện, để có đủ can đảm chủ động cầm lấy tay anh chia sẻ những nỗi niềm đang như sóng dữ dội về lòng anh. Tôi quỳ lên khối vải lớn, nắm tay anh và nhìn vào mắt anh. Trần Hồng Dương cũng quỳ lên, nhìn tôi và môi anh mấp máy không thành lời… Khoảnh khắc thiêng liêng ấy, tôi không biết chúng tôi đang quỳ trên hàng ngàn lá cờ vàng sao đỏ đang chuẩn bị được tung ra trong ngày cướp chính quyền ở Sài Gòn. Chỉ vài ngày nữa thôi, mảnh đất này đã hoàn toàn biến đổi. Ngay cả nơi nhà tôi ở cũng được cắm lá cờ này, khu bến xe gần đó nườm nượp những chuyến hàng cứu đói cho dân nghèo, phá cái thế bao vây của quân đội Nhật… Tôi nói với anh:

– Anh Trần Hồng Dương, anh không thể chết. Mọi thứ mới bắt đầu thôi mà…

Anh hỏi tôi:

– Vậy em cũng sẽ chia sẻ với anh sự bắt đầu ấy nhé, nếu một ngày nào đó anh có thể trở lại đây?

Tôi gật đầu, mỉm cười với anh nhưng không nói. Lần đầu tiên anh nhìn thật lâu vào đôi mắt tôi. Rồi tay anh khẽ chạm lên má tôi, cũng thật lâu, thật nhẹ và run rẩy. Thật lạ là lòng tôi lâng lâng như bay lên tận mây xanh, vậy mà tôi vẫn cảm thấy bình tĩnh đến lạ thường. Tôi im lặng nhìn môi anh áp lên tay mình, tay anh run rẩy, môi anh cũng run rẩy… Nước mắt của anh nóng bỏng, hệt như dung nham núi lửa đang phun trào từ những ngón tay run rẩy của anh… Leroy! Xin hãy tha thứ khi tôi kể lại tỉ mỉ cảm xúc của chúng tôi, và tha thứ cả sự so sánh của tôi dành cho Pierre Fournier và anh Trần Hồng Dương. Lúc ấy tôi đã tìm thấy chính mình trong trái tim của người con trai Việt Nam đáng thương ấy, điều mà tôi chưa bao giờ tìm thấy ở chàng sĩ quan người Pháp tôi đã từng hứa hôn. Chúng tôi đến với nhau không chỉ vì tình yêu và số phận, mà còn vì điều gì đó lớn hơn cuộc đời chúng tôi. Xin được gọi đó là vận mệnh, của con người và đất nước chúng tôi…

Leroy cúi gập đầu xuống. Nắm đấm tay anh đập thẳng vào ngực mình. Vì anh nhớ là chính anh đã nghĩ đến những điều bà Thuỳ Mai vừa nói.

***

Bà Thuỳ Mai kể tiếp:

– Ngay sau khi anh Trần Hồng Dương về Biên Hòa, rồi lên xứ Đồng Nai thượng, tôi đã tìm đến ông Tám Thu, cha của chị Năm Quỳnh bạn học của tôi. Mục đích của tôi là tìm một món quà để tặng cho anh ngày anh về lại Sài Gòn, và chị Năm Quỳnh đã táo bạo đề nghị tôi tặng cho anh một khẩu súng lục. Chị đã nhờ cha mình tìm mua tận ở Thái Lan khẩu súng ấy cho tôi. Câu chuyện của tôi và anh ấy khiến cho chị ngưỡng mộ, thán phục hết lời, vì từ ngày tôi đưa anh ấy đến gặp ông Tám Thu, gia đình ông đã ngầm coi anh là một người lãnh đạo cuộc cách mạng, tuy không biết rõ anh làm đến chức vụ gì, địa bàn ở đâu. Vì ông Tám Thu đánh giá anh rất cao, nên chị Năm Quỳnh mặc nhiên coi anh là một thần tượng. Chị thêu dệt, tưởng tượng ra đủ mọi thứ hay ho quanh mối tình của chúng tôi, dù rằng vì quá yêu, quá xúc động, tôi chỉ dám kể về anh rất ít…

Đó là những ngày cách mạng của đất nước tôi, khắp từ Nam ra Bắc. Làn sóng mới ấy cuốn hút rất nhiều người đi theo nó, đổi thay vì nó. Tôi nghe những thay đổi diễn ra hàng ngày, hàng giờ trước mắt mình, thậm chí qua lời nói của chính cha mẹ mình. Nhưng rất đáng buồn là cha mẹ tôi không hề chịu thay đổi, vì cha tôi không chấp nhận được sự thật là người Pháp đã phải rời đi khỏi đất nước này, không còn chút ảnh hưởng nào; còn mẹ tôi, dù không có hiểu biết cũng không có chính kiến rõ ràng, nhưng bà tỏ ra khổ sở khi không còn thuận lợi trong việc buôn bán, làm giàu như trước kia nữa. Những ông chủ người Pháp đã ra đi từ lâu, những người đồng nhiệm sở cũng lần lượt tìm đường sang Pháp, mang theo vợ con họ, và cả một lối sống xa hoa kiểu quý tộc mà gia đình tôi đã quen thấy hàng ngày. Nói cách khác là cha tôi đã bị cô lập khi người Nhật chiếm đóng Sài Gòn, nay ông tiếp tục tự cô lập trước những biến chuyển của thời cuộc. Ngoài ra, ông cũng bị ảnh hưởng tâm lý rất nặng nề khi cha mẹ, anh em lần lượt bỏ đi hết. Họ sang Pháp. Vì vậy, cha mẹ tôi nghĩ rằng chỉ có một con đường duy nhất là sang Pháp để tìm lại cuộc sống, hạnh phúc trong vầng hào quang xưa cũ…

Những ngày ấy, tôi hầu như bị nhốt ở trong nhà, vì cha tôi nghe ngóng tình hình và cho rằng chiến sự sẽ nổ ra, sẽ có cảnh bắn giết, tàn sát lẫn nhau. Trong khi đội Thanh niên Tiền phong tổ chức rất nhiều cuộc biểu tình lớn nhỏ, tin vua Bảo Đại thoái vị cũng bay tới, thì cha tôi cố thủ trong nhà, và lệnh cho hai mẹ con tôi phải sẵn sàng xuống hầm bất cứ lúc nào… Ông không hề hay biết tôi giấu khẩu súng lục ở dưới đó, trong lúc chờ đợi anh Trần Hồng Dương trở về từng giờ, từng phút một. Và qua thái độ của cha tôi trong từng bữa cơm, tôi có thể đoán được tình hình ngoài đường phố như thế nào. Vào đúng ngày 25/8, cha tôi thở dài nói với mẹ tôi:

– Hoàng đế Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị. Tôi đoán chắc chắn đức ngài sẽ sang Pháp…

Câu nói lấp lửng của cha khiến tôi lo thon thót, vì nhận thấy ý tứ của câu nói đó khẳng định là không còn lý do nào cho cha tôi níu giữ cuộc sống ở đây. Đã nghe anh Trần Hồng Dương, chị Năm Quỳnh, chị Hai Huệ và nhiều khác nói về cuộc cách mạng, tôi hiểu cha tôi thuộc về mẫu người “bảo thủ”, không hòa nhập được với cuộc sống mới. Còn tôi, tất nhiên đã là người “cấp tiến” bởi tôi đã dám cởi bỏ những điều xưa cũ để đến với tương lai, không chỉ cho riêng mình mà cho toàn dân tộc. Nhưng rồi tôi run rẩy nhận ra, những điều xưa cũ vẫn còn nằm ngay trong trái tim tôi, đó là cha mẹ tôi, là tình yêu và những hy vọng rất lạ lùng của họ… Cho nên bên ngoài đoàn người đi hò reo vui vẻ đến thế nào, tinh thần kiến thiết dâng cao đến thế nào, mà trong nhà tôi lặng ngắt, cha tôi thậm chí còn không muốn nhìn mẹ con tôi…

Tôi đã không có can đảm nói chuyện với cha về sự “cấp tiến” của mình, cho đến 6 ngày sau nữa, chính anh Trần Hồng Dương đã đến. Buổi sáng hôm ấy tôi nghe tiếng quát hét ở phòng đọc sách của cha, rồi nghe mẹ tôi réo tên tôi một cách tức giận. Tôi đã không hiểu chuyện gì cho đến khi chạy vào thư phòng và bất ngờ nhận ra người đang ngồi đối diện với cha tôi nơi chiếc bàn lớn chính là anh – người con trai đã cùng tôi ước hẹn một cách bí mật. Mặt cha tôi xám lại như chàm đổ, mắt ông đang hướng về anh với vẻ bàng hoàng, và sợ hãi. Mẹ tôi đứng sau lưng cha tôi, mặt bà lại đỏ bừng, mắt long lên như bị kích động. Anh ngồi im lặng, hơi cúi đầu như một bức tượng để chịu đựng sự đón tiếp đầy nộ khí đó. Anh vốn đã rất gầy, và nay còn gầy hơn, làn da cũng tái mét, xám xanh, tóc thì cắt ngắn; anh mặc chiếc áo trắng và quần âu như một sinh viên trường thuốc, trông gọn gàng và lịch sự, nhưng già hơn tuổi. Vừa nhìn thấy anh, tôi buột miệng gọi tên anh:

– Anh Trần Hồng Dương!

Cha tôi đứng bật dậy, nhìn tôi như thể muốn cầu cứu tôi điều gì hệ trọng lắm. Ông nói trong cơn xúc động thái quá, tiếng này vấp với tiếng kia.

– Thuỳ Mai! Con nói cho cha biết người này là ai? Xuất thân từ đâu, làm công việc gì?…

– Dạ… dạ… Thưa cha… – Nhận được ánh mắt khích lệ của anh, tôi mới vững tâm trả lời: Dạ, thưa cha! Đây là anh Trần Hồng Dương, là người đã cứu con ở đồn trú gần chân núi Chứa Chan dưới Xuân Lộc… Anh ấy là một người cách mạng, một người Việt Minh…

Cha tôi nổi giận nói to:

– Không, nhà này không có quan hệ gì tới chánh trị hết. Cha muốn con trả lời là không quen biết gì, không liên can gì tới người này cả, biết chưa? Xin lỗi, anh đã vào nhầm nơi, và tìm nhầm người rồi, tôi rất tiếc là phải tiễn anh…

– Dạ không, thưa cha… – Đến lượt tôi lắp bắp – Nếu mà không có anh ấy cứu, thì bây giờ con đã…

Mẹ tôi ôm ghì lấy tôi, kéo về phía sau như thể bà sợ tôi chạy ra với anh ấy. Anh Trần Hồng Dương im lặng, trong khi tôi đã nước mắt vòng quanh, run rẩy vì không biết nói gì trong lúc rất mừng vui khi được gặp lại anh. Bao nhiêu là cảm xúc lẫn lộn trong lòng tôi, nhưng tất cả không vượt qua được nỗi sợ làm phật lòng cha mẹ. Tôi nhìn anh, và anh cũng nhìn tôi, rồi anh nhanh chóng hướng cái nhìn sang cha tôi. Anh đứng lên, lễ độ nhưng cũng rất quyết liệt, anh nói:

– Thưa ông ký lục, hôm nay tôi cố ý đến trình diện ông và bà, cha mẹ của Thuỳ Mai vì tôi rất ngưỡng mộ ông bà đã chăm sóc và cho Thuỳ Mai một nền học vấn đầy đủ, tiến bộ. Song vì vậy, tôi cũng cảm thấy thất vọng vì ông bà đã không hiểu được vấn đề cốt lõi của đời sống, tuy ăn ở theo nếp mới mà tinh thần vẫn theo cái cũ. Bây giờ đã là thời đại mới, Thuỳ Mai đã đủ tuổi trưởng thành để tự quyết định cuộc đời mình. Nếu không ủng hộ, thì lý ra ông bà cũng phải tôn trọng suy nghĩ và hành động của cô ấy… (Hướng cái nhìn về phía tôi, ánh mắt anh buồn bã hẳn đi) – Thuỳ Mai! Hôm nay anh đến đây vì lời hứa với em, anh rất mừng bởi thấy em vẫn được bình an vô sự. Nhưng xin em đừng vì lý do thời đại đổi mới mà làm tổn thương đến cha mẹ, gia đình. Anh không dám nhân danh bản thân mình để cho em và cha mẹ phải buồn, và hãy nhớ là anh luôn tôn trọng mọi suy nghĩ và hành động của em…

Nói rồi, anh bước ra khỏi chỗ ngồi, cúi đầu thật thấp trước mặt cha tôi. Anh nói như đang làm một nghi lễ trang nghiêm:

– Tôi xin cáo từ ông, bà…

Rồi anh quay gót. Lúc ấy, bằng tất cả sự ngây thơ và hồn nhiên của một cô gái trẻ đang yêu, tôi sợ đến run người, vội vùng ra khỏi vòng tay mẹ và kêu to lên:

– Khoan đã, anh Hồng Dương! Chờ em với…

Nói rồi, tôi vội vàng chạy vào nhà trong, nơi tôi đang giấu khẩu súng dưới hầm bí mật. Tôi lao xuống hầm, chẳng cần ai giúp đỡ cả, và ôm cái hộp đựng khẩu súng ngắn vào lòng, nhảy vọt lên trên. Cha mẹ tôi chạy theo tôi, thất kinh trước hành động của con gái, ông bà trố mắt nhìn cái hộp tôi đang kẹp trước bụng. Tôi vội lách người ra phòng khách thật nhanh, vì không muốn cái hộp lọt vào tay cha mẹ tôi. Với tất cả niềm tin vào bản thân và tình yêu dành cho anh, tôi đặt nó vào tay anh Trần Hồng Dương, rồi nói với anh thật nhanh bằng giọng đứt quãng vì hồi hộp và quá sức:

– Anh! Đây là món quà của em, mừng anh quay trở về. Anh cứ đi đi, để em thưa chuyện với cha mẹ em sau…

Nhưng anh ấy chưa kịp tỏ thái độ gì thì cha tôi đã bước sấn tới. Ông tước cái hộp trên tay anh, mắt ông trừng trừng nhìn anh trong khi tay ông bứt đứt sợi dây niêm phong cái hộp mà tôi đã kỳ công trang trí, nâng niu và ngắm nghía nó hàng ngày. Cha tôi đã xé toạc nó ra, nhưng khi nhận ra đó là một khẩu súng ngắn thì thái độ của ông từ chỗ hung hăng trở nên hoảng hốt. Ông quay nhìn tôi, nhìn mẹ tôi, rồi vội vàng đặt cái hộp có chứa khẩu súng xuống bàn, lật đật bỏ đi.

Đó là hoạt cảnh đã diễn ra tại nhà tôi sáng hôm đó, mở đầu cho cuộc sống biến động của gia đình tôi sau những ngày âm thầm đứng bên lề những biến cố của quê hương, đất nước. Anh Trần Hồng Dương đã cầm khẩu súng lên, ngắm nghía nó rồi xúc động nói với mẹ và tôi:

– Xin ông bà tha lỗi cho chúng tôi – là tôi và Thùy Mai. Chúng tôi đã gặp gỡ, đã dành rất nhiều tình cảm và sự thông hiểu cho nhau. Khẩu súng này thực ra là một vật vô tri, nó rất an toàn nếu không có đạn và không ai lên nòng để bắn vào ai đó. Tôi không nghĩ Thùy Mai tặng nó cho tôi với mục đích đó, mà ngược lại, cô ấy muốn có sự an toàn cho tất cả mọi người. Tôi xin hết lòng bảo vệ gia đình và cô ấy, bằng tất cả trách nhiệm và tình yêu… chỉ xin nói với bà rằng… song thân và gia đình tôi đã bị giết, đã ly tán hết… Nhưng tôi không đơn độc giữa đời, vì tôi còn có tổ chức, có đồng đội, những người cùng chung lý tưởng…

– Anh thôi đi! – Mẹ tôi đột ngột hét lên, nghe chói tai và giật mình – Ai cho anh đến đây để giảng giải những điều kỳ cục đó với con gái tôi? Anh tưởng rằng chúng tôi sẽ biết ơn anh sao? Nếu không có anh, nếu không có những người như anh, thì cuộc sống gia đình này đâu đến nỗi bị xào xáo, chuyện làm ăn của tôi đâu đến nỗi ngưng trệ như thế này? Anh cứ đi mà bảo vệ cho lý tưởng, cho chính nghĩa của anh, những thứ cao siêu ở trong đầu anh… Nhưng đừng có đụng vào gia đình tôi, vào con gái tôi. Hiểu chưa?!

– Mẹ ơi! – Tôi run rẩy gọi mẹ trong cảm giác hổ thẹn. Nhưng bà mẹ của tôi, hàng ngày có vẻ yếu mềm, rắc rối và lắm điều, thì hôm nay bà tỏ ra hết sức cương quyết khi nắm lấy tay tôi lôi xềnh xệch ra khỏi phòng, không quên để lại cái nhìn sắc lẻm cho vị khách không mời mà đến ấy…

Vậy đó Leroy! Tôi đã làm cho cha mẹ tôi chết khiếp vì đã “qua lại” với Việt Minh từ lâu mà cả hai người đều không biết. Sự xuất hiện của anh Trần Hồng Dương không những không thay đổi được tình hình, mà trái lại, còn khiến ông bà thêm âu lo, sợ hãi trước thời cuộc. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào hiểu được việc cha mẹ tôi nhất định không biến chuyển. Vốn đã u sầu vì không thể cưỡng lại được làn sóng cách mạng đang tràn đến mọi ngõ ngách của Sài Gòn – thành phố gia đình tôi đang sống, ông bà lại thêm cay cú vì đứa con gái duy nhất cũng “thay lòng đổi dạ”. Cha tôi khóc mà nói rằng: “Con chẳng hiểu gì cha hết!” Còn mẹ tôi đã đánh tôi. Bà tát vào mặt tôi và hét lên trong cơn điên giận: “Mày từ hôn với thằng sĩ quan người Pháp chưa đủ làm cha mẹ mày đẹp mặt sao, bây giờ lại hẹn hò với một thằng cộng sản? Sao mày không lấy khẩu súng ấy mà bắn thẳng vào cha mẹ mày đi?!” Tôi đã phải quỳ xuống, chắp tay lạy mẹ mà khóc rằng: “Con không phải như thế, mẹ ơi! Anh ấy cũng không phải như thế…” Cha tôi không đụng vào tôi, nhưng ông uống rượu rất nhiều rồi đánh mẹ tôi một trận liệt giường, vì cái tội (tôi nghe ông rít lên dù cửa buồng của hai người đóng kín): “Mày đã không biết dạy con gái mày, mày là con đàn bà thối tha nhất cái đất nước An Nam…”

Mẹ tôi nằm trên giường, toàn thân bầm tím, trong lúc cha tôi u uất uống rượu rồi ngủ trong phòng đọc sách. Tôi chạy qua chạy lại phục dịch cho hai người, nhưng cả hai đều từ chối. Trong hoàn cảnh đó, tôi cảm thấy đau khổ, ân hận thiếu điều muốn buông xuôi tất cả… Nếu như không có chuyện vài ngày sau tôi nhận được một bức thư của anh Trần Hồng Dương. Chị Hai Huệ mang thư đến cho tôi, cùng với vẻ mặt u buồn đáng sợ. Tôi đã hỏi chị là theo Đội Thanh niên Tiền phong vui như thế, mọi người đi làm cách mạng vui như thế, sao chị lại buồn? Chị đã trả lời tôi:

– Là vì chị lo cho em, em gái bé bỏng của chị. Chị đã không làm việc anh Ba Dương nhờ cậy, đó là giúp em hiểu nhiều hơn về cuộc đấu tranh của chúng ta, giúp em có bản lĩnh vững vàng hơn trước muôn vàn thử thách của đời sống. Chị đã sai khi nghĩ rằng vì em có đủ sức thoát khỏi Pierre, là em có thể làm được bất cứ điều gì em muốn…

Lúc đó tôi chưa hiểu lắm những điều chị nói, nhưng thấy chị rươm rướm nước mắt, tôi liền khóc òa lên, kể lại tình cảnh gia đình, cha mẹ mình kể từ lúc anh Trần Hồng Dương xuất hiện. Tôi ước gì tôi có thể làm lại giây phút đó, để tránh cho song thân khỏi đau khổ, giày vò. Tôi cũng ước gì cha mẹ có thể hiểu được tôi, và chấp nhận được sự đổi thay của thời cuộc. Và chấp nhận anh Trần Hồng Dương… Chị Hai Huệ lắng nghe tôi nói, và nhìn tôi bằng đôi mắt đăm đắm như đang cố giấu một điều gì đó. Rồi chị nói một câu vắn tắt trước khi ra về:

– Đời sống là luôn phải lựa chọn, em ạ. Đôi khi để có một thứ thực sự có ý nghĩa đối với mình, thì mình phải từ bỏ nhiều thứ khác. Đó là điều chị cảm nhận được qua mấy năm tham gia phong trào, làm việc chung với anh Trần Hồng Dương, và bây giờ thấy điều đó qua câu chuyện của em…

TRẦN THU HẰNG

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.