Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu thuyết Trần Thu Hằng – Kỳ 1

Vanvn- “Phẩm chất nghệ thuật của Chuyện tình ở Hầm Hinh thể hiện ở nhiều bình diện của tác phẩm. Tôi rất thích lời văn giàu chất văn chương – trí thức của Trần Thu Hằng, nhiều câu văn chứa đựng được trọng lượng của tư tưởng. Hẳn nhà văn đã mất rất nhiều công sức tìm hiểu lịch sử, địa lý ở núi Chứa Chan, những hoạt động của Việt Minh vùng Xuân Lộc, Sài Gòn xưa” – nhận định của nhà phê bình Bùi Công Thuấn. 

Nhà văn Trần Thu Hằng

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Chuyện tình ở Hầm Hinh – Tiểu luận của Bùi Công Thuấn

>> Thơ Đàm Chu Văn: Ngọn nguồn nối mạch ca dao

>> “Lửa cháy” ngoài nhà thờ Đức Bà Paris – Truyện ngắn của Khôi Vũ

>> Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Hoàng Văn Bổn

>> Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Còn lại thiên thu một chút tình

>> Bút ký của Hoàng Ngọc Điệp: Sóng gió hồ Trị An

>> Chùm thơ Đỗ Minh Dương: Mượn câu thơ phú trải lòng cùng ai

>> Truyện ngắn Dương Đức Khánh: Khăn rằn vắt vai

>> Lý Văn Sâm từ nhà văn đường rừng đến hiện thực và cách mạng

>> Chuyên trang Chi hội Nhà văn Việt Nam trên Văn Nghệ Đồng Nai

>> Trao giải Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II

 

… Nói xong, bà Thuỳ Mai ngồi thừ người ra, đôi mắt hướng ra cổng bệnh viện, nhưng hình như không nhìn thấy gì cả. Lát sau bà mới nói:

– Năm 1945, cũng vào dịp đầu năm Tây lịch như thế này, tôi đã vô tình gặp lại anh Trần Hồng Dương. Số là từ ngày trở lại trường Gia Long, tôi bị cha mẹ kiểm soát rất chặt. Cha tôi thuê hẳn một chiếc xe ngựa để đưa đón mẹ và tôi mỗi ngày, trước đó thì tôi đi một mình bằng xe kéo. Thỉnh thoảng ông lên xe đi cùng với mẹ con tôi rồi quay trở về nhiệm sở, đồng thời trông coi giờ giấc rất sát sao. Nhưng nơi mẹ tôi bán vải chỉ cách nhà có vài bước chân, đi thêm chừng mười phút nữa là tới nhiệm sở của cha tôi. Còn tôi được tự do suốt quãng đường còn lại. Vốn chỉ cần theo dọc con đường Paul Blanchy[1], nhưng tôi đã cho tiền phu xe để ông ta đưa tôi đi đường vòng, qua những con đường khá dài dọc theo bờ sông Sài Gòn như ra đại lộ Charner[2], có khi còn ra đến đường Quai le Myre de Vilers[3] nơi có nhiều cảnh đẹp được nhiều người Pháp và người Việt trong giới thượng lưu lui tới… rồi mới vòng đến trường.

Vào lúc đó, nhiều bạn học của tôi đã đến trường bằng xe ô tô. Tuy tôi đến trường bằng xe ngựa trông có kém sang trọng hơn, nhưng cũng vào loại hiếm. Thời gian đầu, ngồi trên xe tôi cũng lo cắm cúi học bài, để bù lại những kiến thức đã mất sau cái “scandale ái tình” ấy. Nhưng rồi sau đó, tôi vẫn bị cảnh vật và con người bên ngoài mời gọi, nên khi cha tôi vừa xuống xe xong là tôi vén rèm để quan sát mọi thứ. Phillipe Leroy thân mến! Ký ức trong lòng tôi luôn là những buổi sớm mai đẹp đẽ trên đường phố Sài Gòn đầu năm 1945, luôn luôn như thế, cho dù sau này tôi có phải đi sớm về khuya, phải cải trang như một kẻ bất hợp pháp… Những ngày ấy thật êm đềm, mà sao quá ngắn ngủi đối với một người thiếu nữ. Ngồi trên xe, tôi ngắm nhìn những rặng cây cao su, thời đó còn được trồng rất nhiều ở nội ô, ngắm nhìn người bộ hành – cả người Việt lẫn người Pháp, người Anh, Ấn… Tôi ngắm nhìn mọi vật lâu đến nỗi thuộc lòng cả tên những quán ăn, nhớ mặt những người bán hàng rong và những quầy hàng di động của họ.

Tôi còn nhớ mình luôn ao ước có một chiếc xe đạp để đi học, vì thỉnh thoảng bắt gặp những cô gái mặc áo dài rất đẹp ngồi trên những chiếc xe đạp nhỏ nhắn, trông như làm xiếc. Nhưng anh biết rồi đấy, làm sao cha mẹ tôi đồng ý cho tôi đi xe đạp như thế được, khi mà quan niệm về người phụ nữ của họ vẫn hết sức lạc hậu, đồng thời hai người cũng rất dè chừng, sợ tôi chường mặt ra và vô tình Pierre bắt gặp… Mặc dù bị cha mẹ đe nẹt đến thế nào, tôi vẫn cứ “vén rèm lên”. Đó là câu khẩu hiệu tôi nghe được từ mấy chị Hai Huệ, chị Ba Gái, chị Lan Hương… Họ thường đùa với nhau câu ấy, và sau này khi chơi với họ, tôi mới hiểu đó còn là khẩu hiệu của nữ quyền, không chấp nhận ngồi sau bức màn bưng bít của chính quyền, thần quyền, gia quyền… Các chị bảo với tôi rằng: “Đã có hẳn một tờ báo dành cho nữ quyền, do một người phụ nữ làm chủ bút. Người đó không xa lạ, vì đó chính là con gái của người mang tên ngôi trường chúng ta đang học”. Như tôi đã kể với anh, trường Gia Long bị quân đồng minh chiếm đóng, phá hoại, nên chúng tôi phải qua học ở trường Đồ Chiểu. Tờ Nữ giới chung của bà Sương Nguyệt Anh, con gái ông Đồ Chiểu đã có tiếng từ mấy chục năm trước. Lúc đó, có lẽ mẹ tôi vẫn còn cun cút bưng bô, bưng ống nhổ cho năm bà chị trong gia đình người Hoa đã cưu mang, dạy dỗ bà. Còn cha tôi thì vẫn còn miệt mài với sách vở, bị đánh trượt mấy kỳ thi Nho học đành bỏ ngang để đi học trường Pháp. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng mình sẽ học xong vào cuối năm 1945, và sẽ đi làm cô giáo. Tôi rất giỏi Pháp văn, nhưng sau cú sốc ở chân núi Chứa Chan, sự thần tượng dành cho người Pháp tôi thừa hưởng ở cha tôi không còn nữa. Và đó cũng là lý do mà sau này tôi dạy môn địa lý, Leroy ạ, vì đó là những kiến thức trung thực, không thể tô vẽ hay làm gì khác được. Nhưng mà câu chuyện còn dài lắm…

– Bà nên vào kiểm tra sức khoẻ trước, thưa bà…

Leroy lại nhắc. Bà Thuỳ Mai mỉm cười, giơ tay để vén lại món tóc bạc đang xoà qua mắt. Nhìn bà lúc này không khác gì một bà giáo già cận thị, đuôi mắt cứng đờ, mệt mỏi. Chỉ qua một đêm, bà lại trở về đúng với tuổi tác của mình, sau hơn 48 giờ như bị thôi miên thành một người phụ nữ trẻ trung kỳ lạ. Nhưng Leroy vẫn nhận thấy bà rất đẹp, cái đẹp của một mỹ nhân người Á đông nhỏ nhắn và sắc sảo, thông minh, có vẻ như chưa bao giờ chịu lùi bước trước khó khăn, nghịch cảnh. Gần 30 năm trước, khi được bà dạy học, cậu trai Phillipe Leroy đã cảm nhận được điều đó, nhưng tất nhiên là anh đã không định nghĩa được đến nơi đến chốn như khi anh bước vào độ tuổi này.

– Không sao đâu, Leroy! Những cảm xúc trong lòng tôi vẫn còn nóng bỏng, tôi nghĩ nếu tôi nói với anh lúc này, chúng ta sẽ cùng vui. Nhưng nếu tôi giữ lại trong lòng, một mình tôi sẽ buồn cho đến chết…

Leroy không trả lời, nhưng ánh mắt anh đượm lên nét reo vui, nhờ có ánh mặt trời bắt đầu rọi đến nơi hai người đang ngồi. Trong lòng anh cảm thấy ấm áp vì sự nồng nhiệt đối với cuộc sống của bà Thuỳ Mai đã không hề mất đi, mặc dù khi bà quay trở lại đây thì mọi thứ đã đổi thay. Người tình đã chết, bạn thân đã chết, ngôi nhà cũ cũng không còn. Anh nhận thấy bà cũng có một phần sự nồng nhiệt trong cách sống của người Pháp, mặc dù có thể bà không yêu nước Pháp. Bản thân Leroy cảm thấy mình cũng đang chơi vơi trong tình yêu ấy, vì anh được sinh ra và lớn lên ở nước Pháp, nhưng trong cơ thể của anh có một phần dòng máu người Việt. Nhưng đó là cả một bi kịch lớn trong đời anh, khiến anh luôn cảm thấy mình khác biệt với mọi người.

Một ngày, khá gần dịp tết Nguyên đán của người Việt, tôi bất ngờ nhìn thấy anh Trần Hồng Dương giữa đường phố Sài Gòn. Lúc đó, xe ngựa dừng cho cha tôi xuống, và tôi tranh thủ vén rèm lên để ngó xung quanh. Tự nhiên tôi cảm thấy một điều gì đó rất lạ lùng đang hướng về phía mình, từ bên kia con đường dẫn ra bến chợ trên bờ kênh lấp. Hướng đó dẫn ra bờ kênh đã bị lấp, bày đầy nông sản, vịt gà cả trên đường lẫn trên những con “thuyền chợ”. Nhưng khúc đường bộ rẽ sang toà thị sảnh của Dinh Toàn quyền thì ít có người lai vãng, có chăng chỉ có những cái xe bán bánh rán, cá nướng, khoai nướng… đi vội qua đường để đến với những người khách hàng bình dân mà thôi. Suốt mấy ngày liền tôi có cảm giác ai đó đang theo dõi mình, nên phóng tầm mắt nhìn thật xa, và chăm chú nhìn vào những người đang đi lại trên đường. Quả là có một người đang nhìn tôi. Người ấy đi xe đạp, mặc quần áo cộc và đội nón lệch như một nam sinh viên. Anh ta đạp xe đạp rất chậm, cốt để lẩn vào những người khác đang qua lại. Song con đường tuy lớn mà lại khá vắng vẻ, nên mắt tôi đã chạm ánh mắt anh, lúc anh lén nhìn lên. Ánh mắt này đã nhìn tôi một lần, với dấu ấn sâu đậm không thể nào quên được; nhưng trong một khoảnh khắc tôi không thể nào nhớ ra, và gọi tên được. Đến khi môi tôi bàng hoàng mấp máy không thành tiếng một cái tên, thì anh ta đã đi biến vào một khu nhà phố có nhiều tiệm bán hàng, chẳng mấy chốc thì mất dạng.

Anh ấy là Ba Dương, Trần Hồng Dương!

Tôi cố ngoái lại nhìn con đường rộng thênh thang, và nhìn từng người đang hiển hiện trên con đường ấy, nhưng không còn thấy anh ta nữa. Leroy, không cần kể thì anh cũng biết ngày hôm ấy, trái tim người thiếu nữ mới lớn lúc ấy bất an đến thế nào khi thoáng nhận ra người ấy. Thoáng nhận ra rồi mất hút, thế mới đau lòng. Mấy đêm liền tôi nằm ôn lại câu chuyện đã diễn ra trong đồn dinh ở núi Chứa Chan, giữa Pierre, tôi và anh Trần Hồng Dương. Tôi nhớ mãi dáng người mềm dẻo mà chắc nịch của anh, lúc anh vươn người ra che cho tôi và lãnh trọn một mũi kiếm của Pierre xỉa vào vai. Tôi nhớ gương mặt anh, đôi mắt anh, và cả ngọn đuốc cháy trong đêm ấy… Để rồi đau đáu nhớ đến ánh mắt nhìn theo tôi giữa con đường đông đúc.

Nhiều ngày qua đi. Cái Tết càng đến gần. Bất ngờ tôi lại nhìn thấy anh Trần Hồng Dương trên đường phố, nhưng trong hình hài một anh phu xe với chiếc xe kéo sau lưng. Anh kéo xe chạy phía sau xe ngựa của tôi, đi được một đoạn rồi cũng mất hút, đúng ở chỗ tôi mất dấu anh lần thứ nhất. Leroy! Anh có biết là trái tim đã thúc đẩy tôi làm việc điên rồ như thế nào không? Chiều hôm ấy, lúc học xong và trên đường trở về nhà, tôi đã cho xe dừng lại đúng chỗ tôi nhìn thấy anh Dương lúc sáng. Tôi đưa cho người chạy xe ngựa một ít tiền, bảo ông ấy ghé một quán ăn có tiếng để ăn chiều, và chờ tôi ở đó. Anh biết rằng cha mẹ tôi rất khắt khe trong việc kiểm soát tôi, nên người chạy xe trung thành phải biết đưa đón tôi đúng giờ, bất kể trời mưa hay trời nắng. Ông ta ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi ngay lập tức trả tiền lại: “Tiểu thư, tôi không dám đưa tiểu thư về trễ giờ đâu…” Ông ta nói thế, nhưng tôi đã tụt xuống đất mà không chờ ông ta kê ghế dưới chân, rồi nói: “Tôi ghé thăm một chị bạn, bác đừng lo, cứ chờ tôi ở đó đi nhé!” Tôi dứt khoát băng qua bên kia đường, bước vào một tiệm bán hàng mà lúc sáng tôi nhìn thấy anh Dương rẽ vào. Người đánh xe ngựa đứng đó một lát, có lẽ không lay chuyển được tôi nên ông ta dong ngựa bỏ đi.

Tranh của họa sĩ Uyên Thao

Lần đầu tiên trong đời tôi lom khom bước vào một tiệm bán thuốc Nam nhỏ xíu, thấp tè và tối om như thế này. Nhưng tôi không hề sợ sệt, bởi tôi tin chắc sẽ tìm thấy anh Trần Hồng Dương. Ông thầy lang bước ra từ sau cái tủ thuốc bằng gỗ có rất nhiều ngăn, dò xét nhìn tôi rồi hỏi:

– Quý cô cần gì? Bốc thuốc hay tìm người?

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe câu hỏi đó. Nhìn ông thầy lang mặc chiếc áo cộc màu nâu, đeo cặp kính dày cộp trên mắt, tôi cảm thấy ông ta hơi đặc biệt, khác người. Có vẻ như ông ta đã biết tôi là ai, và tôi trả lời một cách ngây thơ, thật thà:

– Thưa ông, tôi tìm một người tên là Ba Dương.

Nghe nhắc tới Ba Dương, ông ta nhíu mày và nhìn tôi thật kỹ, không chút khách sáo. Tôi nhìn lại ông, sợ sệt vì có cảm giác mình nói sai điều gì đó. Ông ta hỏi tiếp:

– Vì sao cô biết Ba Dương?

Cái cách ông hất hàm hỏi tôi, trong khi mắt kính trễ xuống dưới mũi làm cho tôi đỏ mặt. Hơi khựng lại một chút, rồi tôi trả lời theo trực giác:

– Anh ấy đã từng cứu mạng tôi ở Xuân Lộc.

Trên khuôn mặt lạnh lùng ấy thoáng nở một nụ cười. Ông ta nói:

– Ba Dương đi chở hàng chưa về. Phiền cô vào trong nhà đợi anh ấy một lát, được không cô?

– Dạ được – tôi trả lời không chút đắn đo. Nhưng thưa ông, tôi không có nhiều thời gian…

– Được mà – ông ta cắt lời tôi – Cô cứ ngồi đợi, nếu cần sẽ có người đưa cô về…

Tôi vào ngồi trong phòng khách chật chội, tối om của căn nhà đó, đợi một lát thì có một người phụ nữ trung niên đến gần, bảo tôi đi theo bà. Tôi lập tức đi ngay, không chút đắn đo. Bà ta dắt tôi đi ra cửa sau, đi vòng vèo qua con hẻm nhỏ, đi qua một cái sân đình bỏ hoang để vào một căn nhà khác, cũng bằng cửa hậu. Anh Trần Hồng Dương đã ở đó, trong một căn phòng trông như nơi ở trọ, quần áo khá chỉnh tề đợi tôi.

Nhìn thấy anh, tôi ngỡ ngàng quá đỗi. Trên tay anh là một quyển sách bằng tiếng Pháp, cuốn Les armes et les produits chimiques[4], phía trên cái bàn duy nhất trong phòng cũng là một kệ sách. Ngoài ra, trong phòng chỉ có một chiếc giường nhỏ và một tủ đồ nhỏ xíu. Anh tươi cười cất cuốn sách lên kệ, rồi mời tôi ngồi.

Phải nói là anh rất gầy, cái cằm mới cạo râu còn để lại một vết xước rướm máu. Anh mặc bộ quần áo sinh viên tôi đã thấy từ lần trước, với cổ áo đã sờn rách, và những cạnh trên nút áo cũng đã bong ra. Nước da anh đặc biệt là rất xấu, nó vừa tái vừa bợt bạt như thể anh đang bị bệnh. Chỉ có đôi mắt của anh rất sáng, lấp lánh nụ cười và niềm vui. Anh nhìn tôi như nhìn người quen thân của mình, không có chút gì xa lạ. Tôi bước đến đối diện anh, nhưng không ngồi xuống, mà nói nhỏ:

– Anh Trần Hồng Dương, em hẹn bác đánh xe chờ em ở tiệm ăn Mai Ký ở trên đường Charner, gần sở làm của cha em. Quả tình là em không có thời gian trò chuyện với anh…

Trần Hồng Dương bật cười. Tiếng cười của anh nghe cũng lạ lẫm, mạnh bạo và khoẻ khoắn. Anh nói, giọng nói cũng vạm vỡ hơn người, mang chút âm sắc của người miền xa, tôi nghe thấy rất lạ tai:

– Thuỳ Mai, anh thật là mừng khi thấy em vui, khoẻ như vầy. Em cũng không quên anh, quả tình anh không biết nói gì hơn là biết ơn em nhiều lắm. Nếu em không có thời gian thì để anh đưa em về chỗ tiệm ăn Mai Ký, vừa đi vừa tranh thủ nói chuyện luôn nghe!

Tôi mỉm cười với anh, đó là nụ cười làm duyên và mãn nguyện, vì lời đề nghị đó rất hợp với ý muốn của tôi. Song tôi thắc mắc là tôi với anh phải “vừa đi vừa nói chuyện” bằng cách nào đây? Anh cùng tôi ra ngoài đường theo hẻm tắt, ở đó có một chiếc xe ngựa đang chờ sẵn. Anh đỡ tôi lên xe, rồi ngồi bên cạnh tôi. Cách ngồi của anh thật nhẹ nhàng, và ngay lúc đó tôi cảm nhận được cơ thể sạch sẽ của anh qua làn nước mát của một cái giếng nước thật sâu của nội ô Sài Gòn, như thể cái giếng ấy thông mạch nước với con sông Sài Gòn rộng lớn ngoài kia. Ngay lập tức tôi cảm nhận được điều đó, không cần có một hiểu biết hay kinh nghiệm nào cả. Trái tim tôi đập mạnh, như muốn làm rách toang lồng ngực. Anh ngồi im, nhìn thẳng về phía đầu con ngựa, hai bàn tay chắp hờ trên đầu gối cũng run run…

Chiếc xe ngựa đi chậm rãi trong lúc bóng hoàng hôn đang đổ xuống con đường. Mùa xuân là mùa của những cơn gió, đưa hơi nước mát từ mặt sông lên rải khắp thành phố; và cũng thổi bụi đường tốc lên, làm những tà áo dài bay lên, làm những tàn cây cũng phải lay động… Chúng tôi cứ ngồi bên cạnh nhau, nhưng ở khoảng cách xa nhất có thể trên xe ngựa, và lặng im như thóc, mặc dù anh Trần Hồng Dương bảo rằng sẽ “vừa đi vừa nói chuyện”. Tôi chỉ hơi dám liếc mắt, đủ để nhìn thấy chiếc mũi của anh, vành mũ trên đầu anh, và mảng da ngăm đen, mát rượi trên má anh. Trông anh nghiêm trang, già dặn như một thầy giáo, khác hẳn cái đêm nào đã giải cứu cho tôi trong bộ dạng một người công nhân rách rưới… Một lát sau, tôi nhận thấy anh cũng lén nhìn trộm tôi rồi vội vàng quay đi, nhưng một hơi thở nhẹ đã tố giác anh. Tôi vừa thẹn vì mình đã xăm xăm bước vào con hẻm lạ để tìm anh, vừa muốn nghe anh nói câu chuyện nào đó anh vẫn còn giữ kín trong lòng. Mấp máy môi một hồi, tôi mới nói được một câu:

– Anh Ba Dương! Sao anh lại có mặt ở Sài Gòn? Anh có việc gì quan trọng lắm phải không?

Lúc đó, tôi có cảm giác mình đã quá gần gũi với anh, bằng chứng là tà áo dài của tôi ngả vào đùi anh. Tôi vội thu nó lại, và ngồi khép nép trong khi đôi mắt vẫn mở to nhìn anh. Ba Dương quay mặt lại, gương mặt đã tái nay lại càng tái hơn, môi anh thì xám ngoét, mấy ngón tay lúng búng không rời nhau ra được. Lát sau, anh cố nở nụ cười rồi nói với tôi:

– Tự dưng anh thấy mất bình tĩnh quá. Xin lỗi em nghe! Anh chưa bao giờ được ngồi xe ngựa với một cô nữ sinh áo tím cả.

Tôi bật cười, mà không dám cười lớn. Anh Trần Hồng Dương im lặng nhìn tôi một lát, rồi mới từ tốn cất lời:

– Em biết rồi đó, anh là người của Việt Minh. Anh là đối tượng mà người Pháp và người Nhật đều muốn bắt bỏ tù hết. Vì bọn anh chống lại họ. Em có muốn hỏi lý do vì sao bọn anh phải đem mạng sống của mình ra chống lại họ không?

Tôi im lặng nhìn anh, rất lâu, rồi nhè nhẹ lắc đầu. Tôi hoàn toàn không cần anh giải thích điều đó. Ba Dương đáp lại cái nhìn của tôi một cách điềm đạm, rồi nói tiếp:

– Anh được giao nhiệm vụ gặp một nhà tư sản có cảm tình với cách mạng, để xin ông ta ủng hộ về kinh tài. Và chỉ có em mới giúp anh được việc này. Anh rất xin lỗi vì đã đưa em vào thế khó, nhưng ngoài em ra, không có ai giúp anh trọn vẹn được cả. Em nhận lời giúp anh nghe em!

Tôi lại mở to mắt nhìn anh, trong lúc đầu tôi trống rỗng, không nghĩ được là sẽ nhận lời hay từ chối. Giọng nói của anh cho tôi biết nhiệm vụ gì đó rất hệ trọng, khó khăn, nhưng vẻ mặt, đôi mắt của anh lại thiết tha lạ lùng. Tôi bị cuốn hút theo trạng thái cảm xúc ấy, không rời ra được. Hơn một năm trôi qua sau cái đêm gặp gỡ ở đồn trú dưới chân núi Chứa Chan, dường như tôi cũng chưa khôn ra được bao nhiêu. Sự đổ vỡ trong mối tình với Pierre Fournier chỉ để lại cho tôi một bài học là: Đừng tin vào sự hào nhoáng, giàu có của đối phương, như chiếc nhẫn kim cương người ta xỏ vào ngón tay mình, và người ta cũng kéo tuột nó ra một cách dễ dàng, thô bạo. Tự nhiên tôi trở nên mạnh bạo hẳn lên, tôi chỉ ngón tay lên vai anh và hỏi:

– Vậy cái vết thương trên vai anh, lúc anh chắn mũi kiếm của Pierre…

Bị bất ngờ, Trần Hồng Dương vội túm cổ áo lại, như sợ để lộ thân thể trước mắt tôi. Anh lắc đầu trông rất tội nghiệp:

– Không sao đâu, tiểu thư Thuỳ Mai à… Tôi, à, anh không sao cả. Chỉ có điều thằng Tám, người nhỏ tuổi nhất trong nhóm ấy bị trúng đạn và chết trong đêm hôm đó… Cái vết thương ấy, đâu có đáng gì mà nói tới…

Tôi đã bàng hoàng và ngồi im trong suốt đoạn đường còn lại, khi nghe đến cái chết của Tám. Thực tình tôi không nhớ Tám là ai trong số người đã ám sát (hụt) Pierre đêm hôm đó. Anh Ba Dương cũng im lặng hồi lâu, sau đó anh kể vắn tắt cho tôi nghe về Pierre và về anh. Sau cái đêm bị ám sát hụt, Pierre điên cuồng mở cuộc thanh trừng lớn, nên anh và những người Việt Minh khác phải rút hẳn sang bên kia núi, không còn hoạt động ở quanh đồn trú và các đồn điền gần đó nữa. Để phòng ngừa việc Pierre có thể mượn tay chính quyền để trả thù tôi, Ba Dương đã xin phép cấp trên, sau đó cho viết truyền đơn rải khắp vùng Xuân Lộc, kể tội ác của Pierre với thường dân và công nhân người Việt. Vì vậy, khoảng hai tháng sau thì Pierre bị thuyên chuyển đi nơi khác, và cái đồn trú đó chỉ còn lại người địa phương, không còn chịu sự cai quản của người Pháp nữa. Song anh cũng cho biết là cách đây ít lâu, người Nhật đã chiếm đóng ở đó. Họ cũng bắt bớ những người cộng sản và cả công nhân cao su, mang về đánh đập, tra tấn. Anh Ba Dương nói: “Có thể trong thời gian tới, người Nhật sẽ tìm cách chiếm đóng Nam kỳ. Nếu lực lượng Việt Minh không lớn mạnh được lên thì đất nước này sẽ có thêm một kẻ cai trị mới”. Anh còn cho biết: Nạn đói kéo dài từ năm ngoái (1944) đến nay đã tàn phá xứ Bắc kỳ và lan khắp cả Việt Nam, làm cho người Việt ngày càng khổ hơn…

Tôi vẫn còn nhớ gần như nguyên văn những lời anh Trần Hồng Dương kể về mình: “Anh không thể không nói về bản thân anh, mặc dù anh chẳng có gì đáng tự hào để nói với em cả. Quê anh ở Quảng Trị, nhà có đến 9 người con. Anh sinh năm 1920, trên có 5 người anh chị, dưới có 3 người, nhưng tất cả đều đã mất. Cha mẹ anh cũng mất rồi. Năm 1927, cha mẹ anh nghe nói những đồn điền cao su ở miền Nam mộ phu với nhiều chính sách ưu đãi, lương cao nên đã tìm cách đưa cả gia đình vào đây (lúc đó nhà chỉ còn 5 đứa con, 3 người đã chết, riêng em út vẫn còn nằm trong bụng mẹ). Cha anh dự tính sẽ đi làm công nhân trong vòng 5, 7 năm rồi sẽ có một số vốn để làm ăn sinh sống. Nhưng rồi… (anh thở dài và không thể nói tiếp được nữa). Thực tế hoàn toàn không giống như những lời người đi mộ phu nói…”

Sau đó khoảng một tuần, tôi đã đưa anh Trần Hồng Dương đến nhà chị Năm Quỳnh, gặp cha của chị là ông Tám Thu, chủ tiệm buôn cuốc xẻng lớn nhất miền Nam lúc đó. Bề ngoài, ông chỉ là ông chủ tiệm buôn cuốc xẻng, thứ vật dụng rất tầm thường trong đời sống hàng ngày, nhưng thật không ngờ ông có một nguồn lực tài chính, và cả uy tín ngầm rất lớn. Vì ông ta có nhiều lò rèn rải rác ở Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh… nên không chỉ rất giàu có, ông lại có khả năng rèn thêm về vũ khí thô sơ, chuyên chở vật liệu một cách bán hợp pháp. Cả người Việt lẫn người Pháp đều cần ông. Trần Hồng Dương đặt vấn đề xin ông hỗ trợ tiền mặt để mua lương thực, trang bị cho đồng đội của anh đồ dùng để làm rẫy và một số mã tấu, lưỡi lê để tự vệ. Nhưng đặc biệt là anh đề nghị ông hợp tác đưa người về Trảng Táo, nơi rất gần chân núi Chứa Chan, để làm trái nổ, đạn nổ. Anh nói: “Chúng tôi đã có một xưởng quân khí ở đó, nhưng không có thợ giỏi để chế tạo vũ khí. Ông là một người yêu nước, xin hãy giúp chúng tôi!” Cuộc nói chuyện diễn ra bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp, có tôi và chị Năm Quỳnh cùng tham dự, ở trên sân thượng nhà ông Tám Thu. Hôm ấy nắng vàng rực rỡ cho đến tận chiều muộn. Từ nơi chúng tôi ngồi, có thể nhìn thấy sông Sài Gòn và đại lộ Charles de Coppe[5]. Và từ đó nhìn về nơi có ngôi nhà của gia đình tôi ở khu Chợ Cũ, những cánh diều đang bay lên, uốn lượn giữa một không gian nhuộm vàng như mật.

Ông Tám Thu nhìn tôi, rồi lại nhìn con gái. Ông không đưa ra bất cứ một quyết định nào cho đến khi nghe tôi kể xong câu chuyện của mình ở chân núi Chứa Chan, đã xảy ra trước đó đúng một năm. Ông nói: “Ta đã đọc một số bài báo viết trong dạo đó. Ta cũng đã nghe Năm Quỳnh kể chuyện về con. Ta cũng ngạc nhiên không biết vì sao con có thể tiếp tục đi học, và ngày hôm nay còn ngồi ở đây để cùng với ta nói về một vấn đề rất là đại sự… Ta chỉ có thể nói rằng nếu ta là cha của con, ta sẽ không bao giờ để cho con đi gặp Pierre. Nhưng thôi, mọi sự đã an bài rồi. Ta nhận lời giúp cho những người Việt Minh là vì ta tin con, ta tin họ. Nhưng hãy nhớ điều này, những đứa con gái của ta: Sống trong hoàn cảnh này, đàn bà con gái phải như đàn ông mới sống nổi, biết chưa?”

Anh Trần Hồng Dương sửng sốt nhìn ông chủ Tám Thu, anh không nói một lời nào, nhưng mắt anh sáng lên, và tôi nhìn thấy trọn vẹn buổi chiều vàng trong đôi mắt ấy. Cũng từ đôi mắt ấy, tôi tìm thấy những ánh lửa âm thầm nơi rừng thẳm sông dài, thấy những tia lửa từ xưởng rèn binh khí… cho đến ngọn lửa chất ngất trong những trận chiến không cân sức với người Pháp, người Nhật. Để ghi nhớ sự hợp tác, ông Tám Thu đã bắt tay anh rất chặt, anh cúi rạp mình để cảm ơn ông. Rồi anh vui mừng quay lại, nâng hai bàn tay tôi lên và hôn. Mắt anh nhìn tôi lấp lánh như hai vì sao đang được thắp lên trên bầu trời đầy giông tố… Như vậy đó Lerroy, lúc đó tôi mới bước qua tuổi 18.

Một nữ y tá đến gần, xen giữa cuộc trò chuyện của hai người. Phillipe Leroy không biết họ nói gì, nhưng anh đoán chắc là nhân viên y tế đang nhắc nhở bà Thuỳ Mai phải về phòng bệnh để kiểm tra sức khoẻ. Và có thể bà còn bị khiển trách vì đã tự ý bỏ đi. Bà đứng dậy, giơ tay làm cử chỉ tạm biệt anh. Leroy mỉm cười chào bà, nhìn bà lững thững đi cùng cô y tá vào toà nhà đồ sộ kia. Đúng là chỉ sau một đêm, bà đã trở lại với tuổi thật của mình. Thời gian thật là vĩ đại. Trong một thoáng, Leroy bỗng cảm thấy trái tim mình đang rất kỳ lạ, bất thường. Bởi anh đã “định vị” nó dưới bầu trời nhiệt đới đang chuyển mùa, và bên cạnh những hồi ức dồn dập, nóng bỏng của trái tim một người phụ nữ. Leroy nheo mắt nhìn lên chai nước truyền dịch anh đang cầm, tự nhủ với mình: “Leroy à, cô ấy là cô giáo cũ của mình mà. Cô ấy hơn mình gần 20 tuổi, nhưng đã sống hơn mình mấy cuộc đời cộng lại… Đến giờ thì cô ấy cần sự bình yên hơn bao giờ hết, mình dám cá với bạn điều đó. Tin mình đi!”

TRẦN THU HẰNG

(Còn tiếp)

___________________

 [1] Đường Hai Bà Trưng ngày nay.

 [2] Đường Nguyễn Huệ ngày nay.

 [3] Một đoạn trên đường Tôn Đức Thắng ngày nay.

 [4] Vũ khí và hóa chất (tiếng Pháp)

 [5] Đường Hoàng Diệu ngày nay

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.