Chuyện “Hoa hậu xứ Mường” & cái danh hão đáng sợ của một số hội viên – Kỳ cuối

Vanvn- Đâu là dấu ấn của người Pháp và người Nga đối với văn hóa Mường Hòa Bình? Những tồn nghi đáng buồn về nhân vật anh hùng Cù Chính Lan. Nỗi đau về sự hòa giải hòa hợp dân tộc ngay trên chính đất nước mình. Sự thiếu vắng lực lượng viết trẻ người Mường. Cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế với Đại tá, nhà thơ Lê Va tiếp tục khai mở nhiều vấn đề thú vị trước khi khép lại với nỗi trăn trở đến xót xa của Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hòa Bình: “Nếu có phép mầu cho tôi chọn một điều ước, tôi ước chưa có Hội VHNT để được làm lại từ đầu. Tôi nghĩ, nhiều lãnh đạo Hội VHNT địa phương có chung suy nghĩ như tôi. Do lịch sử để lại, số hội viên có đến vài trăm nhưng có mấy người thực sự hoạt động và số sáng tác có chất lượng càng ít. Không ít người đến đâu họ cũng xưng danh “văn nghệ sỹ” và khoe tác phẩm này tác phẩm khác, mình nghe mà gai hết cả người. Nguy cơ “kéo chuyên nghiệp xuống phong trào” ở hội địa phương luôn tiềm ẩn. Đã vậy cư xử cho êm với cả 7 chuyên ngành trong Hội quả không dễ dàng. Cái danh hão đối với một số hội viên mới đáng sợ làm sao”!

Đại tá, nhà thơ Lê Va – Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hòa Bình

>> Từ chuyện nhà văn “gàn” đến tình yêu văn hóa Mường Hòa Bình – Kỳ 1

>> Cái nôi văn học sông Đà & bí mật “Đi xa để tìm gần” văn hóa Mường – Kỳ 2

 

Dấu ấn của người Pháp, người Nga & vẻ đẹp tiềm ẩn miền sử thi Mường

 * Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế: Thưa ông, văn hóa Mường những năm sau 1975 thì các thuộc tính đặc trưng hầu như nguyên vẹn sự trầm lặng, sâu sắc. Người Pháp từng nghiên cứu về người Mường tỉ mỉ, kỹ càng. Và người Liên Xô (Nga) đến và rời đi sau khi giúp chúng ta xây dựng con đập lớn nhất Đông Nam Á một thuở…

– Nhà thơ Lê Va: Văn hóa Mường là một nền văn hóa độc đáo do người Mường (người bản địa) tạo ra và duy trì hàng ngàn đời nay. Tuy nhiên so với những dân tộc khác, nền văn hóa khác, khi nghiên cứu văn hóa Mường khó khăn hơn vì, người Mường rất ít văn tự. Sử thi “Đẻ đất Đẻ nước” đồ sộ như thế nhưng cũng chỉ qua truyền miệng. Người nghiên cứu văn hóa Mường chủ yếu phải trực tiếp với đời sống của người Mường.

Khi xâm chiếm xứ Đông Dương, người Pháp đặc biệt chú ý đến dân tộc Mường. Họ cho rằng, người Mường chỉ có ở Việt Nam. Mặt khác, người Pháp ở Việt Nam một trăm năm, họ lập nên nhà nước bảo hộ, họ có các học giả, nhà khoa học, nhà văn đến Hòa Bình, thâm nhập cuộc sống người dân, tiếp xúc các nhà lang để nghiên cứu người Mường, có thể nói là bài bản, kỳ công và họ đã để lại những tác phẩm quý giá mà đến nay rất được trân trọng. Hòa Bình có đường, có khách sạn mang tên Conani (nhà khoa học người Pháp), thời Pháp lại cũng đã đặt tên đường mang tên người Mường tại thành phố Sài Gòn trước đây nay là Thành phố Hồ Chí Minh – đường Quách Điêu…

Người Nga (Liên Xô) đến Hòa Bình để giúp Việt Nam xây dựng công trình nhà máy thủy điện trên sông Đà – nhà máy thủy điện vào hàng lớn nhất Đông Nam Á khi đó và là công trình thế kỷ của Việt Nam. Công việc của người Nga (Liên Xô) ở Hòa Bình rất rõ, rất tập trung. Họ không có người nghiên cứu văn hóa Mường, người Mường như người Pháp. Họ ở tại “Làng Chuyên gia” của họ chứ không ở với dân Mường. Ngày nghỉ, họ có thể ngồi tàu thủy lên chiêm ngưỡng thác Bờ. Cũng có anh Nga nào đó tranh thủ “lẻn” đến nhà công nhân người Việt ở thị xã Hòa Bình để học ăn măng chua nấu thị gà, thịt chó giả cầy và tìm hiểu đôi nét văn hóa của người Kinh chứ không phải người Mường.

* Ngoài dấu ấn là các công trình kiến trúc, “Bức thư gửi người đời sau” thì văn hóa Nga có ảnh hưởng như thế nào với xứ Mường nói chung? Và với cả tâm thế của người dân thành phố Hòa Bình hôm nay?

– Sau quãng thời gian tính bằng năm, hoàn thành công trình thủy điện, số kỹ sư, chuyên gia Liên Xô rời khỏi Hòa Bình. Đến nay không có tác phẩm văn học, nghiên cứu văn hóa… nào của họ về người Mường Hòa Bình.

Còn về “Bức thư gửi thế hệ mai sau” mà dự kiến đến năm 2100 mới mở, theo tôi chỉ là để từ năm 2050 trở đi, lớp người không biết về quá trình xây dựng thủy điện khao khát biết về quá trình ông cha mình đã xây dựng nên công trình này. Còn thực ra nội dung bức thư thì mọi người nay đều biết. Vì trước khi chôn bức thư “gửi thế hệ mai sau” thì những người xây dựng công trình đã tổ chức cuộc mít tinh lớn thông qua nội dung bức thư rồi. Nên nó không thuộc bí mật quốc gia!

Công trình thủy điện hoàn thành, đánh dấu bước đột phá sự phát triển của thị xã Hòa Bình cuối thế kỷ XX; cây cầu hiện đại đầu tiên bắc qua sông Đà vào thời khắc mở đầu thế kỷ XXI như “Dải yếm vắt mây bắc ngang huyền thoại” là bước tăng tốc thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn của TP Hòa Bình. Tuy nhiên đến nay không ít nuối tiếc khi “Làng Chuyên gia Liên Xô” còn đó, nhưng cái ruột thì đã mất tiêu. Từng căn hộ được cho thuê, bán cho người Việt ở. Nếu khi được bàn giao từ những năm đầu tách tỉnh, “Làng Chuyên gia” được giữ lại, bảo quản, tu bổ làm du lịch thì hay biết mấy. Văn hóa Nga còn đấy, người Nga chắc chắn sẽ trở lại Hòa Bình thăm lại nơi họ, cha ông họ đã ở. Và biểu tượng tình hữu nghị Việt – Xô tại Hòa Bình không chỉ sừng sững con đập ngăn sông mà còn ấm áp bởi “Làng Chuyên gia” bên dòng Đà giang thơ mộng!

* Xứ Mường có ưu thế về thổ ngơi, cảnh quan. Đất lành. Ẩm thực Mường ở Hòa Bình ban sơ tuyệt đỉnh. Những món nào đặc trưng nhất cho ẩm thực Mường? Nếu được hầu rượu Nguyễn Tuân thì ông sẽ tiếp món gì, rượu gì?

– Những điều ông nêu và hỏi rất đúng, rất hay và nó tụ lại ở “Đất lành”. Trong “Đất lành” Hòa Bình biết bao điều đáng nói và càng nói càng thấy thiếu, nhất là đối với người đã, đang ở xứ Mường trên 40 năm như tôi. Xin nhắc đến tên một số thứ, rất rất ngắn đó là: Sử thi “Đẻ đất Đẻ nước”; những áng Mo; bốn mường lớn “Bi, Vang, Thàng, Động”; bốn họ lang lớn “Đinh, Quách, Bạch, Hà”; đến: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”… mà nếu chủ tâm tìm hiểu kỹ một chữ trong những thứ trên, tôi thấy có khi cũng phải cả đời người. Do đó, gặp thứ gì hay, ta hãy “chộp” lấy đã. Cỗ lá là đặc sản, thịt gà nấu với măng chua là đặc sản, thịt lợn thả rông chấm muối dổi là đặc sản.

Nếu cụ Nguyễn Tuân sống lại chắc chắn ông sẽ lại có mặt ở Hòa Bình. Tôi không sành rượu nên không lấy việc hầu rượu ông làm trọng. Còn tiếp ông món gì? Tôi sẽ nướng sắn mời ông. Tôi lên nương, tự tay nhổ sắn. Chọn củ sắn vừa bằng chuôi dao, chặt lấy đoạn sắn thẳng, mẩy dài khoảng trên 20 phân. Kẹp chuôi dao vào nách, tôi khoanh lưỡi dao một vòng, bóc tuột vỏ ngoài, vỏ trong củ sắn đến ruột trắng tinh. Dựng củ sắn bên bếp than hồng, xoay củ sắn cho khô đều rồi gói bằng lớp lá chuối hơ qua lửa (cho mềm). Cời than trong bếp lửa ra rồi vùi củ sắn trong đống than rực hồng. Chủ và khách cùng nhâm nhi chén trà đu đưa (một loại trà của người vùng cao), đọc vài bài thơ tâm đắc… khi đống than vùi củ sắn phụt lên những ngọn khỏi nhỏ, ta lấy củ sắn ra, bóc lớp lá quấn ngoài, củ sắntrắng tinh khôi, thơm khắp mấy gian nhà sàn và ngọt và bùi hết chỗ nói. Đó là củ sắn nướng đầu tiên tôi được ăn ở miền núi Hòa Bình cách nay trên 40 năm mà vị bùi, thơm, ngọt đến nao lòng giờ vẫn đọng trong huyết quản.

* Cận kề thủ đô, nên không ít các văn nghệ sĩ tài năng, nổi tiếng chọn Hòa Bình làm nơi sinh dưỡng. Hội VHNT Hòa Bình chắc không bỏ qua những dịp trao đổi kinh nghiệm sáng tác? Đây có phải là yếu tố văn hóa ngoại sinh tích cực? Hòa Bình có không ít những nghệ sĩ tài hoa. Rời quê lập nghiệp, hay bám mường đến cùng. Đơn cử như họa sĩ Trần Đại Thắng – một họa sĩ đồ họa nổi tiếng thành danh cả thương trường lẫn sáng tác. Và họa sĩ Bùi Văn Tuất – trẻ măng tài vẽ sơn dầu, đề tài sinh hoạt và chân dung. Họ là những nghệ sĩ tự do. Nhưng trong phẩm tính văn hóa họ là người Hòa Bình. Ông có khuyến khích họ ra nhập tổ chức Hội VHNT Hòa Bình không? Tại sao lại không làm cho mình giàu có thêm bằng chính vốn liếng của mình nhỉ?

– Hòa Bình rất gần Thủ đô nên sự qua lại của các văn nghệ sỹ từ Thủ đô với Hòa Bình rất thuận tiện. Tuy nhiên từ thuận tiện của việc đi lại đến thuận tiện trong cảm xúc, trong sáng tác là hoàn toàn khác nhau. Ví như cách đây trên 40 năm tôi chân ướt chân ráo lên Hòa Bình mà đi lại thuận tiện như nay, các bạn trẻ có việc phóng xe máy, ô tô xuống xã, xong việc về ngay thành phố, thì làm sao tôi là tôi bây giờ. Các bạn giờ đây được ăn cơm đồ, nhưng làm sao biết vác nước. Các bạn tấm tắc khen xôi nếp dẻo thơm, nhưng làm gì được cầm cây gậy chọc lỗ, ném hạt thóc vào lỗ rồi lấy chân gạt đất lấp kín hạt thóc để chim, chuột khỏi ăn… từ đó mà có “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đấy! Cho nên theo tôi ai đến đất lành Hòa Bình đều quý, nhưng yêu được Hòa Bình, có thành tựu gì ở Hòa Bình còn là cái duyên của mỗi người.

Hai họa sỹ mà ông nhắc tên trên đây, thực tình tôi chưa vinh dự gặp họ. Tôi rất mừng với sự có mặt của họ ở đất Mường Hòa Bình. Nếu họ có tâm gia nhập Hội VHNT tỉnh thì còn gì bằng. Tôi rất mong văn nghệ sỹ ở Hà Nội, kể cả các địa phương khác đến với Hòa Bình cùng chúng tôi viết về người Mường, Thái, Dao, Tày… và Hòa Bình đang là một “miền sử thi” chưa được khám phá. Biết bao đề tài còn đó, nhìn vào đâu tôi cũng thấy tiếc. Tôi luôn mở lòng đón các bạn, không phải bằng bữa ăn, đêm ngủ mà bằng những câu chuyện. Và điều gì xảy ra khi các bạn có duyên với Hòa Bình?

Tặng chiêng Mường cho nhà thơ nổi tiếng Ko Un của Hàn Quốc khi về thăm Hòa Bình

Nỗi đau về sự “hòa giải hòa hợp dân tộc” ngay trên đất nước mình

* Tôi và ông đều đọc “Hoa hậu xứ Mường”, cuốn sách để đời của nhà văn Phượng Vũ. Vậy ông có nhận xét gì cuốn sách đó? Nó có ý nghĩa như thế nào với tỉnh Hòa Bình? Nhất là những trăn trở của hai nhân vật Quách Liêm và Lê-ô-na trước sự kỳ vĩ của văn hóa Mường? Ông có thấy mình giống và khác nhau như thế nào với họ? Những nhân vật văn chương không chỉ thuộc riêng của xứ Mường?

– Mới chỉ với cái tên “Hoa hậu xứ Mường” đã khêu gợi sự tò mò, muốn đọc của nhiều người. Không chỉ thế, có thể nói cho đến nay, “Hoa hậu xứ Mường” vẫn đang là cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất đề cập đến xã hội Mường trong một giai đoạn ngắn của lịch sử. Nguyên mẫu của một gia đình nhà lang ở tại một vùng Mường, từ cai trị dân theo thể chế lang đạo kết hợp lãnh đạo dân theo chính quyền trong thời nhà nước bảo hộ. Quyền uy của nhà lang (chất Mường) được Kinh hóa rồi Tây hóa kết hợp với nhau tạo ra bức tranh của sự tiếp biến văn hóa, tất nhiên chất Mường vẫn đậm đặc.

Chất Mường ở “Hoa hậu xứ Mường” là ở thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là khi chính quyền cách mạng còn trứng nước ở vùng Mường. Với độ lùi đã ngót một thế kỷ, nhìn lại thì bên cạnh những thành công, tiểu thuyết “Hoa hậu xứ Mường” cũng bộc lộ rõ những hạn chế. Đó là cuốn sách văn học mang nặng tính tuyên truyền một chiều, tập trung khai thác mặt tiêu cực của nhà lang, từ sự bóc lột dân, lừng chừng, chống đối cách mạng… Tác giả mượn câu chuyện một gia đình nhà lang để viết thành tiểu thuyết trong tư thế thời cuộc là đánh đổ chế độ lang đạo. Người nghèo đọc “Hoa hậu xứ Mường” có thể rất thích chứ dòng dõi nhà lang, những trí thức Mường họ không công nhận lắm đâu. Tiểu thuyết hiếm hoi viết về người Mường nhưng không thể, chưa thể đại diện cho xã hội Mường ngay chính giai đoạn mà Phượng Vũ đề cập.

Từ ngàn đời nay, với câu “Mường có lang, làng có đạo” tôi đã giải thích ở trên thể hiện sự cai trị (lãnh đạo) dân Mường của nhà lang từ lớn (lang cun) đến nhỏ hơn (các đạo) là mặc nhiên. Vùng nào chưa có lang thì dân bàn nhau đón lang. Nhưng câu như “Dân đói thì tìm đến nhà lang” lại ít được người ta nhắc tới.

Trước, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cán bộ cách mạng lên xây dựng chiến khu, tuyên truyền cách mạng trên đất Hòa Bình đều tìm đến các nhà lang, vì họ mới có kinh tế nuôi cán bộ, mới có tiếng nói với dân, chứ người dân nghèo đói, ăn còn không có lấy gì giúp cán bộ. Những lá thư của cụ Hồ gửi chánh quan lang Đinh Công Phủ, quan lang Đinh Công Huy và của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi ông Đinh Công Niết cũng như những biên lai ghi nhận tiền bạc của nhà lang giúp cán bộ Việt Minh còn đó… Những chi tiết này hoàn toàn không xuất hiện trong “Hoa hậu xứ Mường”.

* Văn học nghệ thuật thiên về tuyên truyền một chiều hoặc có cái nhìn thiên lệch sẽ dễ gây phản cảm và ngộ nhận…

– Nhân đây tôi cũng xin kể câu chuyện có thật mà tôi được nghe tại vùng đồng bào Mường ở Tây Nguyên. Cách đây khoảng chục năm, khi bộ phim “Mường Động” khởi phát trên truyền hình, bà con người Mường ở Ban Mê Thuột háo hức chờ xem và họ đã như bị dội gáo nước lạnh trong mùa băng giá. Những cảnh phản cảm không hề có của nhà lang xuất hiện quá nhiều, quá ác… đã gây phản ứng tiêu cực trong người Mường xa quê. Họ đã tắt ngay vô tuyến. Có bà già còn nói: “Đấy nhé, trên phim mà còn thế, giờ tao mà về, chắc là bị bắt ngay”.

Từ thực thế này làm tôi trăn trở. Nhà nước ta có Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài để làm cái việc hòa giải hòa hợp dân tộc, mà ngay trong nước thấy còn khó khăn. Cũng trong chuyến điền dã Tây Nguyên ấy, sau vài ngày làm thân, tôi được ông Quách Cảnh 60 tuổi người gốc Mường Vang đưa đến nhà người anh họ gần 80 tuổi (đều vào Nam 1954). Ông Quách Cảnh vừa giới thiệu có nhà báo ở Hòa Bình vào, cụ gần 80 tuổi giật mình xua tay “Không, không, tôi sợ lắm”, rồi chạy vào buồng đóng cửa lại.

Đất nước thống nhất trên 45 năm, thời gian hòa bình đã gấp đôi thời gian chia cắt mà còn có những cảnh như trên, thật quá buồn, quá đau. Từ đó, chúng tôi thường xuyên tổ chức các đợt vào thăm bà con người Mường ở Tây Nguyên vừa “Đi xa để tìm gần” vừa lấy văn học nghệ thuật để “hòa giải hòa hợp dân tộc” ngay trên đất nước mình, ngay trong người Mường mình. Quách Liêm và Lê-ô-na trong “Hoa hậu xứ Mường” cũng như tôi và bao người khác nhận ra và ngẩn ngơ với văn hóa Mường, nhưng mỗi người đi vào nền văn hóa ấy một cách khác nhau.

Những điều trăn trở về anh hùng Cù Chính Lan

* Ông từng tham gia tìm mộ anh hùng Cù Chính Lan thì phải? Vậy công việc đó tiến hành đến đâu? Xe tăng Cù Chính Lan hạ gục vẫn đấy, nhưng có văn nghệ sĩ nào ở Hòa Bình chọn hình tượng người anh hùng làm đề tài sáng tác chưa?

– Tôi chưa bao giờ tham gia tìm mộ anh hùng liệt sỹ Cù Chính Lan, nhưng tôi là người xới lên trăn trở này. Ấy cũng là bắt đầu từ cái duyên, duyên của người viết gặp chuyện. Nếu không, tôi cũng như bao người khác, nghĩ anh hùng liệt sỹ Cù Chính Lan đã mồ yên mả đẹp tại Nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Hòa Bình nằm trong khu phố cổ trung tâm TP Hòa Bình. Nào ngờ, giờ đây không biết phần mộ Cù Chính Lan ở đâu?

Chuyện là cách đây trên mười năm, một buổi sáng sớm tôi đi bộ bên sông Đà như trên đã kể. Từ trên đập thủy điện về, tôi gặp một cụ già đứng tần ngần trước cửa Nhà nghỉ Hòa Bình, chào cụ và nghe giọng miền Trung hỏi tôi, mới biết cụ là em ruột của Cù Chính Lan cùng hai em ruột, một cháu ruột đang ở đây để dự khánh thành tượng đài Anh hùng Cù Chính Lan đánh xe tăng Pháp trên đường 6. Tôi mừng như vớ được vàng và lập tức xoắn lấy các cụ. Và cứ thế, câu chuyện về Cù Chính Lan dần sáng tỏ.

Điều trăn trở của tôi là, anh hùng Cù Chính Lan hy sinh khi đã nổi tiếng sau trận đánh xe tăng Pháp trên đường số 6. Anh được về thăm nhà, cả làng đến chúc mừng. Rồi anh anh dũng hy sinh trong trận đánh cũng trên đường 6 cách thị xã Hòa Bình gần 30 km về phía Hà Nội. Sau trận đánh ấy, Hòa Bình giải phóng. Thế mà phần mộ Cù Chính Lan ở đâu không rõ. Khi đầu tư xây tượng đài gần năm tỷ đồng (cách đây chục năm) không ai nghĩ đến tìm mộ anh. Ngay khi gặp thân nhân Cù Chính Lan, tôi đã viết bài “Những điều còn trăn trở về chuyện Anh hùng liệt sỹ Cù Chính Lan” in trên Báo Văn Nghệ Hòa Bình gây ngỡ ngàng đối với không ít người dân Hòa Bình, nhưng từ đó đến nay không thấy cơ quan có trách nhiệm nào chạm đến vấn đề này.

Không những thế, tại bia đá ở khu tượng đài Cù Chính Lan hiện nay vẫn ghi Cù Chính Lan tên thật là Cù Văn Mấu là hoàn toàn sai. Ba cụ em ruột Cù Chính Lan e dè bày tỏ: “Cù Chính Lan tên thật là Cù Chính Lơn, khi đi bộ đội mới đổi là Cù Chính Lan, còn Mấu là tên người làng thường gọi bố chúng tôi”. Điều sai lệch này cũng không ai sửa???.

Ngoài điều trăn trở trên mà tôi đã thể hiện công khai trên báo chí thì ở Hòa Bình không có ai viết về anh hùng Cù Chính Lan, ngoài tên Cù Chính Lan đặt cho đoạn đường 6 chạy qua khu phố chính của TP Hòa Bình và vài trường học trong tỉnh mang tên Cù Chính Lan.

* Không chỉ con người mà Hòa Bình còn có đặc sản cam Cao Phong, mía tím Kỳ Sơn nữa. Vị hương ngọt dịu hẳn đã bay bổng trong thơ văn?

– Cam vàng, mía tím Cao Phong cũng đã ngọt lành lan tỏa trong không ít bài thơ, ca khúc của các Hội viên Hội VHNT tỉnh Hòa Bình, tuy nhiên những tác phẩm tầm vóc thì còn đang ở phía trước! Chúng tôi cũng mong chờ một ngày mát lành, nhà văn đến Kim Bôi đến với Cao Phong biết đâu lại chẳng có thêm những tùy bút tuyệt vời về xứ Mường…

Nhà thơ Lê Va trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế

Sự thiếu vắng các cây bút trẻ người Mường

* Đội ngũ sáng tác trẻ của Hội VHNT Hòa Bình có bao nhiêu nghệ sĩ trong huyết quản họ là văn hóa Mường? Cơ cấu dân số của Hòa Bình, người Mường chiếm đến 60% với tiềm năng văn hóa Mường đồ sộ, gắn kết hữu cơ trong dòng chảy văn hóa Việt. Trách nhiệm cá nhân ông người đứng đầu Hội hay là chính sách hoặc các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ sáng tác trẻ?

– Ông lại đụng vào trăn trở của chúng tôi rồi. Nói chung, hội viên trẻ của Hội đã ít, người “trong huyết quản của họ là văn hóa Mường” càng hiếm, hiện giờ đếm không qua nổi số ngón tay trên một bàn tay. Thông qua các cuộc thi, nhất là cuộc thi “cây bút tuổi hồng”, Báo Văn Nghệ của Hội rồi qua kênh các hội viên, thỉnh thoảng có xuất hiện một vài gương mặt trẻ, nhưng chưa kịp tính chuyện “chăm bẵm” họ thì họ đã vắng bóng.

Nói riêng người trẻ để tâm sáng tác về dân tộc Mường thật là khó. Thiết nghĩ trước hết họ phải là người Mường, sinh ra, lớn lên tại một mường còn đậm bản sắc, đó là điều kiện cần. Còn điều kiện đủ là họ phải có năng khiếu, dám từ bỏ nhiều đam mê khác của tuổi trẻ để dấn thân, quả quyết sống và viết… Từ trước tới nay, có những người không phải là người Mường viết về xứ Mường, đó là những người hiểu, yêu văn hóa Mường, có duyên với xứ Mường. Tuy nhiên họ nghiên cứu về văn hóa Mường nhiều hơn là sáng tác về Mường.

Tuy người trẻ sáng tác về xứ Mường quá hiếm như hiện nay, nhưng chúng tôi cũng hy vọng và chờ đợi sự xuất hiện thêm những người trẻ như chàng trai Bùi Đức Thắng chính gốc người Mường Lạc Sơn viết:

QUA SUỐI

 

Người quê tôi

Khi sinh ra đã uống nước nguồn

Lớn lên trốn mặt trời, ngắm mặt trăng dưới suối

Đi rừng là qua suối

Suối trong mát ôm làng

Róc rách ru một đời

 

Ai qua suối cũng chân trần thô nháp

Sợ làm đau hòn sỏi nhỏ

Con cá, con cua trong khe còn say ngủ

Bước nhẹ thôi

 

Rồi một ngày chẳng biết từ đâu xa xôi

Phố về làng

Thần rừng chẳng giữ nổi cây

Khóc khô một mùa rẫy

Nhựa sống chảy nâu dòng suối

Hòn sỏi nhỏ nghìn năm rêu

Nằm khát dưới mặt trời.

 

Người quê tôi

Giờ đi rừng

Bước qua suối nghe thẹn bàn chân

Bước chậm thôi

Hòn sỏi nhỏ đã đau một đời

Bước nhẹ thôi

Bước nhẹ.

Tiếc như thế, mong thế, nhưng giờ nếu tỉnh giao cho một tỷ đồng để “làm” cho ra một người Mường trẻ viết văn hay làm thơ như Bùi Đức Thắng thì chúng tôi cũng không dám nhận.

“Cái danh hão đối với một số hội viên mới đáng sợ làm sao!”

* Xin lỗi, nếu tôi quá lời. Lê Va phải chăng là kẻ đi “chinh phục” xứ Mường đã bị “khuất phục” bởi chính nền văn hóa mà anh ta muốn “chinh phục”? Giống như nhân vật của nhà văn Phượng Vũ chăng?

– Tôi con nhà nông dân, thành phần bần nông. Gia đình chẳng quen biết ai làm cán bộ. Học xong lớp 10 hệ 10 năm thì nhà nước gọi đi công an. Đào tạo cấp tốc rồi điều lên huyện miền núi cao Đà Bắc trong ngơ ngác muôn trùng chứ đâu dám nghĩ mình là này nọ trong vai kẻ đi chinh phục. Nhận quyết định lên Đà Bắc cũng nghĩ chỉ vài năm kiểu nghĩa vụ xong thì về xuôi, nào ngờ gặp cô giáo trẻ trong cuộc đổi tiền năm 1978 rồi bén duyên, rồi thành vợ chồng và ở miết cho đến nay.

Mấy chục năm làm anh công an, trải qua công an huyện, trại tạm giam, phòng công tác chính trị… rồi đầu tắt mặt tối cùng vợ nuôi con, chứ nào đâu dám nghĩ mình thành nhà báo, nhà văn, nhà thơ. Thời mới lên Chợ Bờ, hết giờ làm việc chẳng biết chơi đâu, sách vở cũng hiếm nên tập tọe viết báo, được in sung sướng vô cùng, thế là viết dần thành ham. Được vào Hội VHNT tỉnh rồi lại từ anh hội viên được bầu vào Ban Chấp hành. Nghỉ hưu công an “bị” anh em ấn cho cái “chủ tịch tỉnh phụ trách văn nghệ” đến nay.

Đại tá, nhà thơ Lê Va về thăm đơn vị cũ

* Nếu phép màu biến ước mong của ông thành hiện thực, thì ông mong ước điều gì cho Hội VHNT Hòa Bình và cả bản thân ông nữa? Thưa ông, với danh xưng hiện tại, thì điều gì quan trọng nhất đối với ông? Điều gì chính, điều gì phụ?

– Nếu có phép mầu cho tôi chọn một điều ước, tôi ước chưa có Hội VHNT để được làm lại từ đầu. Tôi nghĩ, nhiều lãnh đạo Hội VHNT địa phương có chung suy nghĩ như tôi. Do lịch sử để lại, số hội viên có đến vài trăm nhưng có mấy người thực sự hoạt động và số sáng tác có chất lượng càng ít. Không ít người đến đâu họ cũng xưng danh “văn nghệ sỹ” và khoe tác phẩm này tác phẩm khác, mình nghe mà gai hết cả người. Nguy cơ “kéo chuyên nghiệp xuống phong trào” ở hội địa phương luôn tiềm ẩn. Đã vậy cư xử cho êm với cả 7 chuyên ngành trong Hội quả không dễ dàng. Cái danh hão đối với một số hội viên mới đáng sợ làm sao!

Điều quan trọng nhất với tôi bây giờ là sức khỏe. Danh xưng nào cũng chỉ thoảng qua và rồi đều trở thành kỷ niệm. Sỹ quan Công an thì đã cầm sổ hưu gần 10 năm, chủ tịch Hội cũng gần 10 năm. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khi chưa được thì mong ước, được rồi thì thấy sợ, sợ mình viết không ra gì, sợ khi thấy không ít nhà văn cư xử với nhau, với nghệ thuật còn không bằng người bình thường. Không in sách thì nhớ, in rồi, tặng ai có khi phải đắn đo hàng tuần…

Theo tuổi tác, độ ham vui của người ta giảm dần và mình có quyền chọn lọc các cuộc tiếp xúc, cố gắng tránh những cuộc tiếp xúc vô bổ. Bên cạnh sức khỏe quan trọng nhất thì còn niềm vui, niềm vui cũng giúp mình khỏe đấy chứ. Tôi mong muốn rộng cẳng để đi và viết. Viết về những điều mình thấy cần, thấy tâm đắc ở ngay Hòa Bình chứ chẳng phải đâu xa. Ví như tôi quyết tâm tìm tòi và xuất bản tập sách ảnh “Bờ xưa” với mong muốn: Người đã từng biết cảnh quan kỳ thú thác Bờ nay gặp lại sẽ xúc động gặp lại hình ảnh tưởng không bao giờ nhìn thấy nữa! Người chưa biết thác Bờ thì ngỡ ngàng khi dưới sâu hàng trăm mét nước nơi đáy hồ đang trầm tích một danh thắng từng được mệnh danh “Đệ nhất thác” mà hình dung mà nuối tiếc. Và hàng trăm năm sau, khi Nhà máy Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà hoàn thành sứ mệnh của nó, có thể người ta sẽ trả lại tự do cho dòng chảy. Khi đó quần thể đá thác Bờ đã bị phù sa lấp kín. Nhờ tập “Bờ xưa”, người đời sau háo hức mong ngóng những hòn Ngai, hòn Cô tiên, hang Miệng hổ… do nước sông bào khoét phù sa mà tái xuất hiện… Cứ nghĩ đến cảnh tượng ấy là tôi thú vị vô cùng!

Tiếp ý tưởng trên, tôi lại tìm kiếm lịch sử và văn học trung đại của người Mường Hòa Bình – công việc tôi yêu thích và ưu tiên nhất hiện nay! Hy vọng ước mơ này của tôi thành hiện thực!

* Xin cảm ơn nhà thơ, chúc nhà thơ sức khỏe và Hội VHNT Hòa Bình đạt nhiều thành tựu sáng tác để cho văn hóa Hòa Bình thêm sáng tỏa.

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ thực hiện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *