Chùm thơ Đỗ Minh Dương: Mượn câu thơ phú trải lòng cùng ai

Vanvn- Nhà thơ Đỗ Minh Dương tên thật Đỗ Minh Dơn, sinh ngày 12.01.1948, tại xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa hiện sống tại Đồng Nai. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Xuất thân là một người lính, Đỗ Minh Dương làm thơ từ rất sớm. Làm thơ, viết báo tại Đồng Nai, ông đã có nhiều đóng góp tích cực trong hoạt động văn học nghệ thuật của tỉnh nhà, và đã xuất bản 12 tập thơ (Hương gió, miền đồi; Thư tình để ngỏ; Chạnh lòng; Tình yêu và định mệnh; Hành trình lục bát; Với miền đất đỏ, Lau trắng phất phơ…)

Nhà thơ Đỗ Minh Dương

Ông đã nhận một số giải thưởng: Giải C Cuộc thi Thơ năm 1975 của Báo Văn Nghệ, Giải C Giải thưởng VHNT năm 2013 của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam; Giải tư Cuộc thi Thơ – Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm 2017 – 2018; Giải nhì Cuộc thi sáng tác “40 năm Đồng Nai hội nhập và phát triển” (Hội VHNT Đồng Nai – 2020). Ngoài ra, đã 4 lần đạt Giải thưởng VHNT Trịnh Hoài Đức của UBND tỉnh Đồng Nai.

Thơ Đỗ Minh Dương mang nỗi yêu thương đau đáu dành cho người lính và đồng đội, là sự chiêm nghiệm cuộc đời lặng lẽ nhưng rất sâu xa. Đối với cuộc sống đời thường, thơ Đỗ Minh Dương là lời cổ vũ nhiệt thành cho sự nghiệp Đổi mới của quê hương, đất nước. Ông có những sáng tạo và thành công với thơ lục bát và thơ Đường luật.

TRẦN THU HẰNG giới thiệu

 

Chuyên đề Văn học Đồng Nai:

>> Truyện ngắn Dương Đức Khánh: Khăn rằn vắt vai

>> Lý Văn Sâm từ nhà văn đường rừng đến hiện thực và cách mạng

>> Chuyên trang Chi hội Nhà văn Việt Nam trên Văn Nghệ Đồng Nai

>> Trao giải Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II

>> Phác thảo về Nguyễn Trí

>> Người viết bền bỉ nhất Đồng Nai: Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải

>> Mưa trên rừng chồi – Truyện ngắn Lê Đăng Kháng

>> Nhà văn Lý Văn Sâm: Người kể chuyện một mình

>> Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Đồng Nai: Một miền văn chương trù phú

>> Nhà văn Hoàng Văn Bổn: Người lực điền trên cánh đồng chữ

>> Văn học Nam Bộ 1932-1945: Một cái nhìn toàn cảnh

 

Thời gian

 

Thời gian mang tờ lịch

Treo lên các bức tường

Thế mà tôi cứ ngỡ

Tờ lịch treo thời gian

 

Một chiều thu nắng cháy

Tóc bạc soi hoa tàn

Tôi giật mình hớt hải

Quay lại tìm thời gian

 

Gặp dòng sông lam lũ

Sóng vọng lời khóc than

Muôn kiếp đời đau khổ

Tan chảy vào mênh mang…

 

Nhặt lên tờ lịch cũ

Nước mắt bỗng tuôn tràn!

 

Đêm buồn đọc Tú Xương

 

Đêm buồn ngồi đọc Tú Xương

Ngỡ vừa gặp Cụ dặm trường tới đây

Vốn người cốt cách thẳng ngay

Ghét xu nịnh, chẳng khoanh tay cúi luồn

 

Nhọc nhằn với nghiệp văn chương

Túi thơ bầu rượu, nửa cương nửa gàn

Một thời nước mất nhà tan

Bấp bênh cái phận, bẽ bàng cái danh

 

Dấn thân vào cuộc đua tranh

Tám khoa thi trượt mà thành Tú Xương

Lạ chi cái thói quan trường

Đại bàng đánh hỏng, ễnh ương hóa rồng

 

Đành về xóm chợ ven sông

Xót thương bà Tú nuôi chồng hụt hơi

Những mong vật đổi, sao dời

Khôn nguôi vận nước, phận người long đong

Giận đời lắm chuyện bất công

Mượn câu thơ phú trải lòng cùng ai…

 

Ngựa hay chưa chạy đường dài(*)

Văn chương còn mãi Tú Tài… hỏng thi.

_______________

 (*): Cụ Tú Xương sinh năm Canh Ngọ, đậu Tú tài năm Giáp Ngọ, mất cuối năm Bính Ngọ, khi đang ở tuổi 36.

 

Trong tiếng chuông ngân

 

Vào chùa nghe tiếng chuông ngân

Buồn vui trăm nẻo, chuyện gần chuyện xa

Tiếng chuông lay thức hồn ta

Tựa vào cửa Phật trông ra cõi Thiền.

 

Cho dù là Phật là Tiên

Cũng đau tiếng khóc tự miền nhân gian

 

Ai mong đến được Niết Bàn

Tôi thương khổ lụy lầm than kiếp người!

 

 Theo anh

Một kỷ niệm với nhà thơ Trinh Đường

 

Tôi có những người anh như định mệnh

Họ thổi vào ngọn lửa thắp hồn tôi.

 

Tôi mang theo như báu vật suốt đời

Kỷ niệm với Trinh Đường – nhà thơ xứ Quảng

Cuộc hành trình dưới trời đầy bom đạn

Qua những vùng ác liệt nhất quê Thanh

 

Đêm Ba Làng pháo hạm dập cầm canh

Mờ sáng bom chần tan hoang xóm nhỏ

Anh viết bài thơ lệ nhòa máu rỏ

Khóc bà mẹ mù lòa đội bánh bán rong!

 

Vượt chặng đường cửa tử núi Cung

Giặc Mỹ hẹn giờ rải bom tọa độ

Không đạp được xe thì cùng dẫn bộ

Lội vào khe Nước Lạnh nhúng thử khăn

 

Chỉ một lần đi tránh điểm cầu Hang

Bất ngờ giặc bom giết đàn bò qua đó

Ra đảo Nghi Sơn được xơi cá mó

Hải Lĩnh mời về no cá biển, rau sam…

 

Anh vẫn đi với dạ sắt gan vàng

Qua cửa Thần Phù vào hang Từ Thức

Lên trận địa Hàm Rồng bị bom vùi ngất

Thăm núi Nhồi thử hóa đá với Vọng Phu…

 

Trong túi không tiền vẫn sống vô tư

Năm tháng trời trăm bài thơ đánh giặc

Anh sống hết mình, hồn nhiên chân thật

Dửng dưng coi cái chết tựa lông hồng

 

Theo Anh suốt mấy tháng ròng

Thú vị hơn mười năm đi học

Anh rút ruột cho tôi tơ vàng sợi ngọc

Chữ nghĩa Thánh hiền, kim cổ đông tây…

 

Cuộc đời Anh lận đận đắng cay

Thấm mãi vào tôi lung linh từng giọt máu!

 

Thanh Hóa 1972

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

Lục bát tặng mình

 

Thời gian như sợi xe nên

Vòng dây số mệnh buộc lên đời người

Gió mây giăng mắc tơ trời

Bánh xa quay tít… luân hồi chúng sinh.

 

Đam mê xe sợi dây tình

Vướng vòng duyên nợ không đành gỡ ra

Não lòng thương nhớ người xa

Cạn duyên mà số đào hoa vẫn còn

 

Cái vòng danh lợi đa đoan

Mồ hôi nước mắt keo son bện thành

Chuông vàng treo chỉ mỏng manh

Tai bay vạ gió tan thành khói sương

 

Lương tâm kết sợi vô thường

Xe dài dây nghĩa dây thương cùng người…

 

Nong đời xanh lá dâu tươi

Thân tằm vương vít rối bời đường tơ

Dành riêng những sợi dại khờ

Đem xe kết mấy vần thơ… tặng mình!

 

Bạn đến

 

Bạn đến như thần đến

Buồn, vui bỗng vỡ òa

Rượu ba trăng ủ kỹ

Uống cùng năm tháng xa…

 

Rượu làm mới bạn cũ

Thơ làm tươi tuổi già

Kể gì ngon hay nhạt

Say tự lòng say ra

 

Chuyện trò vui như tết

Bỗng thấy buồn bao la

Lát nữa rồi tiễn bạn

Lại chỉ còn mình ta!

 

Đồng dao cho mình

 

Từng qua chiến trận

ngỡ còn như  mơ

cớ gì phải sợ

những điều vu vơ :

 

Sợ kẻ mưu mô

kết tình thân thiện

Sợ trái chưa chín

vỏ đã đổi màu

Sợ người buông câu

chẳng nhằm vào cá

Sợ tay ném đá

dấu vào sương thu…

 

Sợ khúc hát ru

trở nên xa lạ

Sợ trời yên ả

tích mây chẳng lành

Sợ mầm chưa xanh

đã già héo úa

Sợ ngày méo mó

lại tròn vào đêm

Sợ người ta quên

những gì đáng nhớ…

 

Nhất điều đáng sợ –

lòng người dửng dưng!

 

Gửi bạn

 

Tôi không phải con chiên của Chúa

Nhưng vẫn mong được nhận phước lành

Cũng không phải tín đồ Phật tử

Lòng nhân từ thương mọi kiếp nhân sinh…

 

Hồn nhiên tôi sống hết mình

Trải những đắng cay, lầm lỗi

Lặng lẽ ươm trồng vun xới

Buồn vui vào gốc của riêng mình…

 

Có thể nào bạn nỡ trách tôi:

Sao lắm lúc si tình quá vậy?

Bởi không yêu đời buồn biết mấy

Lời nguyện cầu đã cứu được ai đâu…

 

Bước chân định mệnh

(Gửi một người em từng sống ở Đồng Nai)

 

Khi em cất tiếng chào đời

Anh đà côi cút dưới trời thương đau

Đường đời, anh trước em sau

Bước chân định mệnh gặp nhau – Biên Hòa

 

Khổ buồn anh đã trải qua

Cớ chi em cũng xót xa nỗi lòng?

Nợ tình một gánh long đong

Đa đoan thì được bế bồng đa đoan

 

Đâu ngờ trăng rụng đầu non

Giữa dòng một bố một con sang đò

Thương nhau cuộn tổ tò vò

Si tình bạc tóc đào hoa vẫn giòn

 

Dại khờ xô đẩy khôn ngoan

Nhọc nhằn cơm áo lo toan phạc phờ

Kiếp tằm nên phải nhả tơ

Ai cần chi những câu thơ nặng tình…

 

Chim khôn chọn được đất lành

Em vào Gia Định, mình đành chia hai

Thuyền anh cột bến Đồng Nai

Quẩn quanh đè nát chông gai đời mình!

 

Nổi chìm một kiếp phù sinh

Bệnh thân – buồn khổ, bệnh tình – xót xa

Ơn Trời ban tặng cho ta

Ái tình say đắm rồi ra… vợ hiền!

 

Phù du của cải bạc tiền

Thì còn cái nghĩa cái duyên bạn bè

Ván đời lụi pháo, tàn xe

Ta về khép cửa lắng nghe lòng mình…

 

ĐỖ MINH DƯƠNG

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.