Nẻ ơi! Con đã về rồi – Tản văn dự thi của Châm Võ

Vanvn- Lao Lử Đề những ngày cuối năm, gió mặc sức vi vu với đại ngàn xanh thăm thẳm. Nắng từ phía Nậm Tăm, Noong Hẻo theo gió tràn lên khiến cả thung lũng Lao Lử Đề ngập tràn trong nắng ấm. Giàng Páo đứng trên đỉnh dốc, đầu con đường về bản, hít căng lồng ngực bầu không khí trong lành của quê hương.

Con đường từ trung tâm xã Tả Ngảo (huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) về bản Lao Lử Đề đã được đổ bê tông. Ngày Giàng Páo đi, con đường bé tẹo lẫn khuất trong tán rừng già mà nếu nhìn không kỹ, chỉ thấy một màu xanh hút hút tầm mắt. Rừng già ở Lao Lử Đề còn nhiều, những cây cổ thụ như những cánh tay lực lưỡng ôm trọn vẹn suối Nậm Chản trong lòng.

Mùa xuân, khắp các vạt rừng hoa đào, hoa mận nở rộ, chim chóc kéo nhau về ríu rít cả ngày. Thấp thoáng dưới thảm hoa là những nếp nhà mái đá, mái tôn lặng lẽ tựa lưng vào núi. Trong những nếp nhà ấy, khi người đàn bà nhen bếp lửa đun chảo cám cho đàn lợn thả rông quanh nhà, thì những người đàn ông lại khom lưng bổ củi, cõng nước để chuẩn bị cất mẻ rượu ngô đón mùa mới. Đám trẻ con lang thang ra bìa rừng moi củ dong, củ sắn còn sót lại rồi tấp củi khô đốt lửa nướng ăn chơi. Đẹp nhất vẫn là đám trai bản gái bản, xúng xính áo mới theo nhau xuống huyện đi chợ phiên…

 Nẻ vẫn đợi con về

>> Thể lệ Cuộc thi viết “Về nhà”

Bao lâu rồi mình không được đi chợ phiên? Không được vác khèn tán gái? Không cùng đám bạn vây nhà đứa con gái mà mình thích để giữ không cho trai bản khác đến tìm… Nghĩ đến đó thôi, Giàng Páo lại không muốn nhắc đến nữa. Chắc gì chúng nó chấp nhận một thằng tù tội như mình? Giàng Páo xốc lại ba lô, thả suy nghĩ theo dòng suối trong vắt đang uốn lượn dưới chân đồi rồi phăm phăm đi trên con đường vàng thơm ánh nắng.

Bản Lao Lử Đề hiện ra ngay trước mắt, Giàng Páo lao đi vun vút như con lợn rừng vừa thoát bẫy về với bản, về với mây trời tự do. Chắc tù nẻ (mẹ) đang đồ chõ xôi nếp trên bếp đợi Giàng Páo? Nghe tin Giàng Páo về, chắc tù nẻ vui còn hơn được mùa ngô, mùa lúa. Ngày tù nẻ sang trại giam Nà Tấu thăm Giàng Páo, tù nẻ vừa khóc vừa dặn dò: mất mùa ngô, mùa lúa thì mùa sau trồng lại, mất con nẻ có sống cũng như cái hồn ma thôi. Lời tù nẻ như gió núi quất vào mặt và tim thì bỏng rát như xát muối ớt, như cây nứa cắt đứt ngón tay.

Đến đầu bản, Giàng Páo bỗng dừng lại nhìn những cành gai giắt kín đường. Giàng Páo định vòng xuống suối để về nhà thì từ cái chòi cạnh nương nghệ đen còn lác đác mấy bông hoa trái mùa có người đi ra, mặt bịt kín khẩu trang gọi: Giàng Páo à, mày về rồi đấy à? Nhưng chưa về bản được đâu. Giọng nói quen thuộc của bác Mềnh – trưởng bản khiến Giàng Páo tự tin hơn: “Vâng. Sao lại không cho về bản. Tôi đi lâu quá rồi. Tôi phải về. Tù nẻ tôi đang đợi”. Bác xua tay. Không được. Tết đến nơi rồi, mày cứ vào chòi ở rừng đào cách ly, khai báo y tế, theo dõi sức khỏe đủ bảy ngày mới về được. Yên tâm, bà Vang – nẻ mày vẫn khỏe. Dịch bệnh ngày càng phức tạp, chúng mày đi ra xã hội nhiều thì phải chấp hành để bà con đón tết cho vui vẻ”.

Cũng không khác được. Vì Covid mà bao gia đình phải li tán, bao đứa trẻ phải bơ vơ, bao người còn đang mắc kẹt ở đâu đó. Mình về được đến bản là hạnh phúc lắm rồi. Bảy năm ở tù còn đợi được, thêm bảy ngày thì cũng phải chấp nhận chứ biết làm sao. Cái chòi Giàng Páo ở, nằm giữa nương đào, hướng mặt về bản. Sáng, trưa, chiều Páo vẫn ngồi trong chòi mà hóng khói bếp từ căn nhà tường trình còn lại duy nhất của bản. Thấy khói bay lên là tù nẻ vẫn đợi Giàng Páo về. Tù nẻ như chiếc lá già còn xót lại trên cành sau bao mùa gió thổi. Chỉ mong nẻ vẫn kiên trì, bền bỉ như thế để Giàng Páo có thêm cơ hội chăm sóc nẻ lúc tuổi già. Nghĩ đến tù nẻ, nước mắt Giàng Páo chảy ra tự khi nào… giá như …

Giàng Páo không biết mặt, không có kí ức về tù chí (bố), trừ trong giấc mơ. Hồi còn bé, Giàng Páo hay mơ thấy tù chí cõng nước đổ vào chảo cám cho tù nẻ nhưng không rõ mặt. Tù chí theo người đàn bà khác từ mùa lúa mới đầu tiên nẻ về làm dâu đến giờ cũng chưa từng trở về thì làm sao Giàng Páo biết mặt được. Đang học phổ thông, nghe có người nói gặp chí ở cửa khẩu Tây Trang, thế là Giàng Páo quyết định đi tìm. Đêm trước ngày đi, tù nẻ đặt vào tay Giàng Páo chiếc vòng bạc có khắc hình đôi chim:

– Giàng Páo à, nẻ sống một đời vì con, vì nhà chồng. Giờ chỉ chờ ngày về đất với con mối, con sâu thôi. Con quyết rồi thì con cầm theo, để ông ấy còn tin con là con cháu họ Giàng. Đi thì nhớ đường về bản, nhớ về với nẻ con ơi!

Giàng Páo quay mặt đi không nói. Kiểu gì cũng phải tìm chí về, có chết rồi cũng phải mang hồn ma chí đặt trong nhà để nẻ có về trời người ta không nói nẻ là ma xó, ma rừng bị bỏ rơi.

Đến cửa khẩu Tây Trang, vừa làm thuê vừa nghe ngóng tin tức vừa tìm chí. Nhưng lùng sục khắp nơi cũng chỉ như lúc ở nhà. Cả năm trời bốc vác, làm thuê tìm được chí hay không thì đến mùa lúa mới Giàng Páo cũng phải về thăm nẻ. Không thể để nẻ cô đơn một mình ăn cơm mới được. Nẻ không hỏi, không nhắc đến nhưng cái bụng sẽ không vui. Bốc thêm một chuyến hàng đêm nữa thì về… Chuyến hàng định mệnh đẩy Giàng Páo vào vòng lao lí để rồi suốt từ ngày đi, nẻ có thêm những ưu tư, đau khổ mà mỗi đêm nằm ngủ Giàng Páo lại thấy hình ảnh nẻ ngồi bên bếp đồ chõ xôi nếp đợi Páo về.

Chiều buông, bóng nắng trốn biệt sau những tán cây là sương xuống. Trong làn sương mỏng ngày cuối năm Giàng Páo vẫn thấy cột khói bay lên từ bếp của nẻ. Giàng Páo xiết chặt chiếc vòng bạc trong tay thì thầm: Nẻ ơi! Con đã về rồi.

___________

* Nẻ (tù nẻ): mẹ; Chí (tù chí): bố

CHÂM VÕ (Lai Châu)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *