Chàng thợ gốm – Truyện thiếu nhi của Trần Thu Hằng – Kỳ 3

Vanvn- Đệ đã là người cùng một nhà, thì ta không giấu đệ làm gì. Chính thằng Nguyễn Bảo ấy đã dẫn quân về thành Gia Định, bao vây và giết chết cha ta. Cha ta chính là quan phủ Lê Học mà đệ vừa nhắc đến đó. Không những thế, hắn còn truy sát ta để lập công lớn, hòng thăng quan tiến chức, định làm “Khai quốc công thần” cho bọn nguỵ quân. Phen này ta quyết không tha cho hắn…

 

Chuyên đề Văn học thiếu nhi:

>> Nguyễn Huy Tưởng – Người truyền lửa cho văn học thiếu nhi hôm nay

>> Cho em giọt nắng thần tiên

>> Các nhà văn nói gì khi viết về đề tài thiếu nhi?

>> Vườn trưa – Truyện ngắn thiếu nhi của Đào Phạm Thùy Trang

>> Chùm thơ thiếu nhi của Đặng Huy Giang

>> Chàng thợ gốm – Truyện thiếu nhi của Trần Thu Hằng – Kỳ 2

>> Chùm thơ thiếu nhi của Đào Đức Tuấn

>> Chàng thợ gốm – Truyện thiếu nhi của Trần Thu Hằng – Kỳ 1

>> Một vấn đề rất khẩn thiết: Văn học nhi đồng

>> Chùm thơ thiếu nhi của Khang Quốc Ngọc

>> Ba cây chỉ có một quả – Truyện ngắn thiếu nhi của Lê Toán

 

KỲ 3: TRẠNG GỐM

 

VI.

Thấy Quý bình yên trở về, ông Bảy lại chia tay ông Mạnh, tiếp tục cuộc sống khách thương hồ. Quý lao vào công việc làm gốm như trước kia. Nhờ có đôi tay khéo léo, lành nghề cùng với sự cố gắng, chăm chỉ mà chàng đã dần dần gây dựng lại lò gốm lớn nhất vùng Biên Trấn. Chàng chuộc lại được toà nhà cũ cùng những lò gốm của mình, bởi người chủ sau này không yêu nghề mà việc làm ăn càng ngày càng lụn bại, cuối cùng lại phải giao tất cả lại cho Quý. Họ còn nói: “Tôi thật nể phục chú. Bởi vì tôi không chịu học nghề đến nơi đến chốn, không cố gắng hàng ngày nên tôi bị thất bại là đáng đời tôi. Biết đâu sau này tôi sẽ noi gương chú, làm lại từ đầu! Không biết chú có giúp tôi học nghề thêm được không?” Thế là hai bên vui vẻ giao ước với nhau phải cố gắng nhiều… nhiều hơn nữa. Chàng lại mua cho ông Bảy một con thuyền lớn, giúp ông chọn những người giúp việc trung thành. Đồng thời chàng âm thầm nhờ người đi tìm Hồng ở khắp nơi. Có lần ông Bảy nói rằng có lẽ con gái ông đã chết, vì nếu còn ân oán với Trọng, còn nhớ thương cha, nhất định Hồng đã trở về đây rồi. Nhưng Quý vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày cha con họ được đoàn tụ. Chàng tin rằng Hồng không phải là người tham lam và hư đốn như Trọng, nàng chắc chắn sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc đời.

Nhà văn Trần Thu Hằng ở Đồng Nai

Ông Mạnh chỉ sống được khoảng bốn năm sau khi Trọng bỏ đi. Trước khi mất ông đã gọi Quý đến, và lại ngỏ lời xin lỗi chàng:

– Càng thấy con vất vả cha càng ân hận, vì ngày xưa thường mắng chửi con. Ta tuy là cha mà không giữ phép công bằng, đã quá nuông chiều thằng Trọng, để con phải thiệt thòi. Cha chết đi cũng chẳng có gì để lại cho con, nhưng thấy con được như ngày nay cha cũng vui lòng mà nhắm mắt. Còn lại một mình con hãy sống vui vẻ, và nghĩ rằng cha lúc nào cũng ở bên con. Những lúc gặp khó khăn, con cũng đừng ngã lòng nghe con…

Nói rồi, ông trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay Quý. Từ đây Quý không còn cha mẹ trên cõi đời này. Chàng nghe thấy tiếng rít khoái trá đến cực độ của nữ thần Bóng tối ngoài cửa. Có lẽ mụ đã chực chờ từ lâu lắm rồi. Vì thế Quý quyết không buông xác cha ra, chàng không thể để mụ cướp mất trái tim người cha yêu thương nhất đời mình.

Ông Bảy cũng kịp đến khi ông Mạnh vừa nhắm mắt. Ông khuyên can Quý không nên nghĩ quẩn như thế, phải tẩn liệm cho cha và làm lễ mai táng đàng hoàng.

Chàng khóc:

– Con sẽ dâng trái tim con cho mụ ấy, để cha con được sống lại…

Ông Bảy hết sức kinh ngạc khi nghe Quý nói: “Con sẽ dâng trái tim con cho mụ ấy…” Ông thầm nghĩ có lẽ vì quá đau buồn mà Quý đâm ra nói nhảm. Ông dỗ dành Quý:

– Con ơi! Lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Người chết lại trở về với đất. Con đừng như thế này tội nghiệp cha con lắm.

Rồi ông kể cho Quý nghe một điều bí mật mà cha chàng đã không bao giờ kể. Trong một đêm cũng như đêm này mười mấy năm trước, cha chàng đã nghe tiếng gió thét gào ngoài mặt sông. Ông đã định buông xuôi để chúng cuốn ông vào cõi chết, vì đối với ông lúc ấy, Trọng đã bỏ đi mang theo tất cả những dự định tốt đẹp của đời ông. Song lúc mở mắt ra, ông nhìn thấy Quý, đứa con trai nhỏ của mình đang nằm gục bên chiếc bàn xoay, xung quanh là những chiếc bình dị dạng do chính tay nó làm ra. Tình yêu với đất, với lửa sống dậy trong ông, ông định làm tặng cho con một chiếc bình cuối cùng, để nó nghĩ rằng sự cố gắng của nó cuối cùng cũng có chút kết quả. Đó chính là chiếc bình tươi rói màu đất mà Quý nhìn thấy sau giấc mơ ngắn ngủi. Người cha đã chứng kiến sự vui mừng của Quý, và rất hiểu ý định dùng chiếc bình để chứng minh với cha sự cố gắng của mình. Nhưng chàng đã không dám mang lên cho cha xem. Chính sự trung thực cùng lòng hiếu thảo của Quý đã khiến ông nghĩ lại. Ông phải quyết tâm hồi phục để giúp con chí thú với nghề gốm nhiều hơn, để khỏi phải hổ thẹn trước vong linh của các vị tổ tiên.

Khi ông Bảy kể xong câu chuyện, gió bên ngoài cũng ngừng thổi. Thay vào đó là những ánh ban mai tươi sáng hiện ra, cùng bài ca của những thiên thần bé nhỏ: “Hỡi chàng Lý Quý, con trai người thợ gốm! Hãy trả trái tim tràn đầy tình yêu của cha mình cho thần Đất. Thần là người sẽ gìn giữ nó thay chàng. Để đến khi nào chàng nhắm mắt xuôi tay giống như cha, trái tim chàng sẽ được gắn kết với trái tim cha mình. Ngọn lửa mà chàng nhen lên mỗi ngày sẽ góp phần xua đi bóng tối và cái lạnh, và chúng ta sẽ cùng chiến đấu với nữ thần Bóng tối, đuổi mụ trở về chốn tận cùng trong hang tối. Chàng hãy dồn sức mạnh của đôi tay cho trái tim chàng, hãy can đảm gấp đôi gấp ba lần cho những người mà chàng yêu thương…”

Những chú chim rừng cũng bay về, và đồng thanh hót: “Quý ca! Quý ca!” Thế là sự đau buồn trong lòng Quý dịu lại. Chàng đi mở tất cả những cánh cửa, để lễ an táng cha chàng được tràn đầy ánh sáng.

Vài ngày sau, khi cha đã được yên nghỉ trong lòng đất, Quý lại tìm về với niềm vui của tuổi thơ. Chàng một mình leo lên núi Bửu Phong lúc tinh mơ, và đu mình trên những sợi dây leo thật chắc, chàng mỉm cười nhìn dòng sông mênh mông cuộn chảy. Chính chàng đã đi trên dòng sông ấy và đã thấy được vẻ đẹp chân thật của nó. Thật là không có gì sánh bằng sức mạnh của con sông. Nó đã tưới đẫm cho vùng đất xanh tươi chàng đang sống, bằng dòng nước ngọt ngào và ấm áp.

Quý hú lên mấy tiếng thật to. Thế là rùng rùng – cả ngọn núi chuyển động. Bầy dê thân yêu xuất hiện, chồm cả hai chân trước lên vai, lên tay Quý. Thì ra chúng đã không quên người bạn đã cùng dãi dầu mưa nắng suốt tuổi thơ với chúng. Quý nhận ra tất cả, và mỉm cười vuốt ve con cái của chúng – những chú dê con vừa nhìn Quý vừa cãi cọ inh ỏi xem chàng là ai. Chúng tranh nhau kêu be be váng cả tai. Quý báo tin cho bầy dê biết rằng cha mình đã mất, và ông đã dặn dò lại những gì. Cả bầy dê cùng quay đầu về phía ngôi nhà của Quý, nơi bến sông thuở trước, Quý vẫn thường dắt chúng đi ăn cỏ, uống nước; để tiễn biệt người chủ nhân từ của mình. Theo lời kể của con dê đầu đàn thì ngày xưa, khi bọn cướp tràn vào làng, cha Quý đã đánh nhau với chúng để cả bầy dê chạy thoát vào hẻm núi đá, còn mẹ Quý vì ngăn không cho chúng đốt nhà mà phải thiệt mạng… Sau đó, hai bên chia tay nhau một cách bịn rịn. Con dê đầu đàn nói với Quý: “Chú hãy lên đây với chúng tôi. Bây giờ chúng tôi đã trở thành dê núi rồi, nhưng vẫn nhớ chú và mọi người lắm. Cho chúng tôi hỏi thăm chó Mực và mèo Bạch, cả anh ngựa Ô nữa nhé!”

VII.        

Ông Mạnh mất được hơn một trăm ngày thì Trọng tìm về. Chàng ta ôm lấy nấm mồ của cha khóc lóc vật vã, tỏ ra ăn năn hối lỗi rất thảm thiết. Tuy rất giận anh, song Quý cũng tìm cách an ủi chàng. Khi đã nguôi cơn xúc động, Trọng thổn thức nói với em:

– Anh là một thằng con không ra gì, chắc là cha giận anh lắm. Nhưng em ơi! Anh có nỗi khổ tâm của riêng mình, bây giờ anh chỉ còn có một mình em, em phải tin anh. Em mà không tin anh nữa thì anh chỉ còn cách đâm đầu xuống sông mà thôi, Quý ơi!

– Thôi, thôi, đừng nói như vậy. Em cũng chỉ còn một mình anh thôi. Anh có nỗi khổ gì thì hãy nói với em để em tìm cách giúp anh. Miễn là đừng làm gì thất đức thôi.

– Thật hả? Em tin anh hả? – Trọng vội nín khóc, níu áo em kể lể – Em biết không? Chung quy cũng là thằng công tử Nguyễn Bảo ấy. Chính hắn chỉ vẽ cho cha mướn thuyền, giả người của triều đình vào Hà Tiên để cứu anh. Nhưng chính hắn cũng là người âm mưu cướp đoạt gia sản nhà mình. Lần em đi tìm Hồng, hắn đã mò đến đòi tố cáo anh ra quan phủ. Người ta mà biết anh trốn án lưu đày thì chỉ có nước mọt gông thôi. Anh sợ quá nên mới ép cha lấy tiền đưa cho hắn, hòng bịt miệng hắn. Vậy mà lòng tham không đáy, hắn cứ liên tục ép bức khiến anh sợ quá trốn đi luôn. Nghe đâu bây giờ hắn đã ra hàng giặc, làm quan cho ngụy triều. Bởi thế anh càng không dám ra mặt, sợ dính líu với phản tặc thì khó mà thoát tội tùng xẻo. Anh đã phải sống trốn tránh năm năm nay, màn trời chiếu đất, trốn chui trốn lủi, khổ nhục lắm Quý ơi! Nếu sớm biết như vậy thì cha đừng tìm cách cứu anh làm gì, cứ để anh vùi thây ở đất Hà Tiên cho rồi…

Những lời ấy làm mủi lòng Quý. Chàng nói rằng anh hãy bình tĩnh, trước mắt cứ ẩn mình trong toà nhà rộng của chàng. Còn công tử Nguyễn Bảo, nếu thật sự hắn đã ra làm quan cho ngụy triều thì không còn sợ bị hắn tố cáo nữa. Chàng sẽ tìm cách xin quan phủ tha tội cho Trọng. Vì không ai có thể suốt đời sống chui nhủi ngoài vòng pháp luật được.

Nghe Quý nói đã chuộc lại được toàn bộ gia sản, nghề gốm lại đang rất khấm khá, Trọng bỗng thay đổi thái độ. Chàng nói: “Quý ạ! Chú chẳng thể nào xin quan phủ tha cho tôi được. Thà chú trói tôi mang nộp quan để lĩnh thưởng thì hơn. Còn đã muốn để cho tôi một con đường sống, thì phải chia lại cho tôi một nửa gia sản mà cha để lại, để tôi có cái mà làm ăn sinh sống. Còn chuyện sống trốn tránh, thay tên đổi họ thì chú khỏi lo. Tôi đã sống như vậy bao nhiêu năm rồi. Tại số mệnh của tôi không tốt, nên cứ mắc hết tai nọ đến nạn kia. Đâu được may mắn giàu sang như chú. Ngày ấy nếu tôi không bỏ lên đô thành thì chú đâu có cơ hội mở lò, tậu nhà được như bây giờ. Tôi nói như vậy bởi vì tôi muốn có anh có em. Có chút vốn trong tay chắc chắn tôi sẽ sống đàng hoàng hơn…”

Nghe anh nói, Quý bỗng hiểu Trọng vẫn ngang ngược và tham lam như ngày nào. Nhưng chuyện trước đây không rõ thực hư thế nào, cha cũng đã mất rồi, không nên vì thế mà tranh cãi làm gì. Vả lại, chàng vẫn luôn mong mỏi anh mình quên đi kiếp sống giang hồ mà làm lại cuộc đời. Chàng nói:

– Hai anh em mình đều chưa có vợ con gì, thì cứ cùng ở cùng làm với nhau, cần gì phải chia chác? Vả lại em không yên tâm để anh quyết định một mình bất cứ chuyện gì, nên cứ từ từ…

– Từ từ là thế nào? – Trọng liền cướp lời Quý. Người đời có câu: “Quyền huynh thế phụ”, vậy mà tôi lỡ mắc tội thì chú không còn tôn trọng tôi nữa. Ngày chú còn nhỏ, ai làm bình, nắn nồi để nuôi chú? Chú đừng quên ngày ấy chú suốt ngày chạy rông với bầy dê bẩn thỉu, chẳng làm nên tích sự gì…

Sau khi buông lời trách móc. Trọng đùng đùng bỏ đi. Quý đã suy nghĩ rất nhiều, càng lúc càng thấy đau lòng vì anh chàng không chịu hiểu thiện ý của chàng. Mình phải làm sao đây?

Vài ngày sau, Trọng lại về. Lần này, chàng ta tỏ vẻ biết điều hơn, đã ngỏ lời xin lỗi em rồi thủ thỉ tâm tình:

– Lần trước em đi tìm Hồng mà không được phải không? Nghĩ lại, anh thấy mình tệ quá. Anh phải đi tìm nàng, cưới nàng làm vợ để bù đắp cho nàng bao nhiêu là mất mát trước đây. Thôi thì em hãy cho anh ít tiền lộ phí, để anh đi. Đằng nào anh cũng là tội nhân rồi, có sống chết cũng không quan trọng nữa. Nhưng tội nghiệp Hồng…

Quý gật đầu, chàng hiểu. Thấy chàng suy nghĩ đến đau cả đầu, mèo Bạch lân la góp chuyện. Chẳng ngờ Quý lại hỏi ngay:

– Tôi sẽ đi tìm Hồng một lần nữa. Mèo Bạch có muốn đi cùng tôi không?

– Hử? Chú nghĩ gì mà lạ vậy? Chú đi rồi lấy ai trông lò gốm, lấy ai chăm sóc mộ của ông bà? Chú đừng nói là mọi việc lại giao cho cái thằng đầu trộm đuôi cướp đó nghe không.

– Đừng nói vậy mà mèo Bạch. Anh em tôi chỉ có hai người. Môi hở thì răng lạnh. Tôi không muốn anh tôi chịu khổ, mặc dù anh ấy có tâm địa không tốt thật, nhưng tôi nỡ lòng nào nhìn anh suốt đời sống như một kẻ giang hồ, không có gia đình, không người thân thích được…

Nói rồi, Quý đi chuẩn bị hành trang. Mèo Bạch vội loan báo tin này cho chó Mực:

– Anh Mực này! Lời anh nói đã trở thành sự thật rồi đó. Lần này thì chú Quý hỏi tôi có thích đi với chú hay không đó.

Đang rờ rẫm chuẩn bị khoanh đuôi nằm xuống, chó Mực liền nhảy cỡn lên, hối hả bảo mèo:

– Đến lúc rồi, đi thôi. Để tôi ra báo tin cho ngựa Ô biết…

Thế là lấy lại sức lực của thời trai tráng, chó Mực liền phóng đi.

Trước khi ra đi, Quý nói với Trọng:

– Anh nói đúng, cha mất rồi thì anh có khác gì cha. Anh lại còn có Hồng, phải chăm lo cho nàng. Còn em chỉ có một thân một mình nên sống sao chẳng được. Vậy nên từ nay anh ở lại đây, trông coi lò gốm và chăm sóc mộ phần mẹ cha cho tử tế. Cũng từ nay, anh mang thân phận của em, anh là chàng Lý Quý. Hai anh em ta khá giống nhau nên chẳng ai để ý đâu. Vả lại em cũng suốt ngày đầu tắt mặt tối, chẳng giao du với ai nên anh không phải sợ gì hết. Em trao lại tất cả gia sản và bí quyết nghề gốm cho anh, để anh có thể suốt đời tận hưởng phú quý. Nhưng kèm theo là một điều kiện, anh phải thề thì em mới yên lòng mà lên đường được.

Nghe Quý nói, mắt Trọng sáng rỡ lên. Chàng ôm lấy người em trai, nước mắt vãi ra như mưa:

– Quý ơi! Sao mà em tốt thế? Anh thật là có phước lớn khi có người em như em. Em hãy yên tâm, anh sẽ làm tròn bổn phận của người con trưởng để em ra đi cho thoả chí tang bồng. Em bắt anh thề với em một lời, chứ một trăm lời anh cũng thề. Em hãy cứ tin anh…

– Vậy được. Quý nói tiếp – Từ nay anh phải sống như mọi người bình thường khác, phải chí thú làm ăn, không được tham lam, không được hại người. Nơi đây có nấm mộ của cha của mẹ, anh phải lo hương khói cho đàng hoàng và không được động tâm bỏ đi nơi khác. Đây là cơ hội cuối cùng cho anh làm lại cuộc đời, anh có hiểu không?

– Anh hiểu, anh hiểu lắm chứ. Nếu anh không làm được những điều em nói, thì thề có trời cao đất dày, anh sẽ bị sét đánh chết tươi, muôn kiếp không được làm người…

Thấy Trọng thề thốt như vậy, Quý vội ngăn lại:

– Anh à, em đâu cần anh thề độc như vậy. Chỉ cần anh hiểu ra đạo làm người và cố gắng làm theo, thì em sẽ làm mọi việc giúp cho anh. Chuyến này em đi tìm Hồng, và cũng là để mở mang thêm đầu óc. Trái đất xoay vần, chắc chắn anh em ta sẽ được may mắn chung hưởng hạnh phúc cùng nhau…

*** 

Đoàn lữ hành đi xuyên qua rừng Nai, bắt đầu cuộc hành trình về miền ngược, vì Quý nghĩ đã đi hết vùng đồng bằng mà không gặp Hồng, thì có lẽ nàng đang lưu lạc ở những vùng người dân tộc thiểu số. Trong tâm trí chàng, Hồng không thể nào chết được. Chàng vẫn nhớ mãi nụ cười duyên dáng cùng cái vẫy tay lưu luyến của nàng. Vẻ đẹp hồn nhiên ấy không thể mất đi được. Và lý do mà Quý chưa lấy người con gái nào làm vợ, cũng là chàng muốn tìm người thật giống như Hồng. Tuy không có căn cứ gì cả, nhưng chàng vẫn tin tưởng là mình sẽ tìm được nàng.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

Ngày ngày, Quý ngồi trên lưng ngựa Ô, còn mèo Bạch ngồi trên lưng chó Mực. Song đôi khi bực bội vì chó Mực bước đi lừng khừng chậm chạp, mèo nhảy phắt lên lưng ngựa Ô, ngồi gọn trong lòng Quý. Thường thì mèo khá xông xáo trong những trò sục sạo các hốc đá, bụi cây, nhưng chỉ bắt được vài ba con chuột nhắt hay rắn mối cho riêng mình, còn cái ăn cho chủ thì chó Mực phải ra tay. Chỉ một loáng, chó Mực đã bắt được một con thỏ to hay một con gà rừng mang về. Quý đào củ, hái cây rừng và chia phần rất công bằng. Thường thì sau một ngày mệt nhọc, đoàn lữ hành lại quây quần bên đống lửa được Quý nhen lên, cùng nhau ăn uống, nghỉ ngơi và kể đủ mọi chuyện vui trên đời. Quý và những người bạn thân yêu lại được sống những ngày vui vẻ như trước đây.

Vừa chầm chậm rảo bước trên những con đường mòn nhỏ hẹp, ngựa Ô vừa nói với Quý: “Chú xem, những bông hoa dại dưới chân chúng ta kìa. Thật là đẹp. Đẹp hơn cây cỏ nơi bến sông nhà mình…” Khi cả đoàn băng qua một con suối nhỏ, ngựa Ô lại nhắc Quý chú ý đến những hòn đá trắng nằm trong làn nước trong veo. Đến các buôn làng, ngựa Ô thường hấp háy mắt nhìn họa tiết của các ngôi nhà và trên y phục của người dân. Nó rất biết ý chủ, vì Quý rất thích ngắm nhìn những thứ ấy. Chàng thường vẽ lại tất cả bằng những mẩu than chì vào quyển sổ riêng của mình. Tất cả sổ sách, ghi chép trước đây Quý đều để lại cho Trọng, nhưng chàng luôn tự nhủ sẽ có lúc chàng tiếp tục làm nghề thợ gốm. Vì vậy Quý vẫn luôn chăm chỉ ghi chép lại những hình khắc, lộng, những hoa văn, hình vẽ lạ mắt. Chàng tự nhủ nếu anh Trọng được nhìn thấy những vẻ đẹp mới mẻ này, chắc chắn anh ấy sẽ tiếc những năm tháng đã qua. Không biết cuộc đời có cho hai anh em một cơ hội được sống gần nhau, cùng chăm lo công việc không nhỉ?

Đi đến đâu Quý cũng giúp cho người dân những việc nho nhỏ, như đào giếng, trồng khoai, tỉa bắp, dựng lều. Ngựa Ô gánh vác những trọng trách như thồ đá, chở gỗ. Vì vậy, đi đến đâu Quý và những người bạn cũng được mọi người yêu thương kính trọng. Họ muốn giữ chân chàng ở lại thật lâu, nhưng Quý lễ phép chối từ, vì chưa tìm được Hồng thì chàng chưa thể dừng chân được.

Một hôm, trong lúc đang băng qua một khu rừng rậm có rất nhiều bụi gai cao ngất, đan chằng chịt như một bức tường thành. Vừa đi Quý phải vừa phát bớt gai. Bỗng có một toán người chạy đến. Họ ăn mặc giống người ở đồng bằng, nhưng lại mang theo vũ khí. Một người trong số họ bị thương ở vai, máu chảy rất nhiều, được ba người kia vừa dìu vừa chạy. Có lẽ họ đang trốn chạy ai đó, quần áo tả tơi, kiệt sức. Nhìn thấy Quý, họ vội dìu kẻ bị thương chạy hướng khác một cách hoảng hốt. Thấy vậy, Quý liền bảo ngựa Ô chạy theo xem có chuyện gì.

Toán người rút kiếm ra chuẩn bị ứng phó với kẻ lạ mặt, nhưng Quý ôn tồn nói:

– Xin đừng ngại, tôi chỉ là một thường dân, thấy quý vị đang gặp hoàn cảnh ngặt nghèo thì hỏi thăm, xem có giúp được gì không?

Sau một thoáng nghi ngại, họ thu kiếm lại, và nói thật nhanh:

– Không giấu gì anh, chúng tôi là nghĩa quân đang bị quan quân ngụy triều truy sát. Chủ tướng của chúng tôi đang bị thương nặng. Chúng tôi chết không sao, nhưng nếu chủ tướng mà chết thì kể như nghĩa quân sẽ tan rã, bọn ngụy triều sẽ ức hiếp, làm khổ muôn dân. Sẵn anh có ngựa ở đây, phiền anh đưa chủ tướng của chúng tôi đi trốn…

– Được – Quý trả lời ngay – Chàng nhảy phắt xuống để đỡ chủ tướng của nghĩa quân ngồi lên lưng ngựa Ô. Tình thế thật cấp bách, chàng nói vội vào tai nó : – Này ngựa Ô, hãy đưa vị này đến nơi an toàn. Ta và mọi người sẽ lần theo dấu vết của cậu.

Ngựa Ô gật đầu rồi biến mất sau rừng gai.

– Kìa, sao anh lại ở đây? Nguy hiểm lắm – Mọi người quát bảo Quý.

– Không sao, tôi phải ở lại cùng quý vị. Thêm một người biết đâu sẽ có ích hơn nhiều đấy.

Lát sau, quân của ngụy triều ập đến rất nhanh. Thật là không cân sức, phía nghĩa quân, kể thêm Quý chỉ có bốn người, nhưng đối phương phải có đến bốn năm chục người. Một cuộc hỗn chiến xảy ra trong rừng gai. Đến lúc ấy mọi người mới biết là Quý cũng biết võ nghệ; đây là lần đầu tiên chàng dùng đến những món võ mình đã học. Chàng chiến đấu dũng cảm không thua một nghĩa quân nào, mặc dù trong tay không có vũ khí. Chó Mực và mèo Bạch cũng nhảy bên này, chồm bên kia rất điệu nghệ, thậm chí còn xông vào cắn tay kẻ nào định chém Quý, chủ nhân của chúng. Nhưng cuối cùng, họ đã không địch lại được với bọn nguỵ quân khát máu, tất cả đều bị chúng bắt trói.

– Đâu rồi, chủ tướng của chúng bay đâu? Khai mau, không ta giết! – Viên tướng của chúng quát lên, khiến Quý ngờ ngợ hình như người này rất quen với chàng.

– Không bao giờ, một nghĩa quân khẳng khái trả lời – Chúng ta thà chết chứ không bao giờ lừa thầy phản bạn như ngươi.

– Á à, dám mỉa mai ta sao? – Viên tướng lồng lộn quát lên, vung roi quất vào những người tù binh – Ta sẽ không tha cho chúng bay đâu!

“Chết rồi!” Quý bỗng chột dạ. Chàng đã nhận ra Nguyễn Bảo, người đã từng kết huynh đệ rất thân thiết với chàng cho đến ngày Trọng bỏ nhà đi lần thứ hai. Phen này nếu nhận ra Quý không biết hắn ta sẽ bày trò gì đây, nhất là Lý Trọng, anh chàng, còn đang sống ở quê nhà, đội tên chàng…

Nghĩ vậy, Quý cứ cúi gằm mặt xuống. Nhưng Nguyễn Bảo không bỏ sót một cử động nào của những tù binh. Hắn đưa tay kéo mặt chàng lên, và ngay lập tức nhận ra chàng.

– Ồ, Lý Quý! “Cố nhân” đây mà. Sao đệ lại chui vào nơi rừng thiêng nước độc để làm gì? Thì ra người đang quản lý lò gốm ông Mạnh chính là Lý Trọng đó sao? Gớm, anh em của đệ kín tiếng thật. Tại sao đệ lại đi theo bọn người phản loạn này? Đệ thật là dại dột! Đáng thương thay!

Quý không thèm đáp lời Nguyễn Bảo. Chàng thầm nghĩ. Vậy là mình đã hành động đúng, mình không phải hổ thẹn khi giúp nghĩa quân. Quá tức tối, Nguyễn Bảo ra lệnh đưa tù nhân về doanh trại. Ở đây, hắn hết dụ dỗ ngon ngọt lại dọa nạt Quý. Hắn hứa sẽ tiến cử chàng cho “vua” của hắn. Chàng là người có tài, chắc chắn là sẽ được hưởng nhiều vinh hoa phú quý nếu chàng chịu khai ra nơi chủ tướng đang ở, và chịu theo hắn.

– Tôi không biết – Quý đáp trước sau như một. Tôi chỉ là một anh thợ gốm nghèo, nên chẳng mơ đến vinh hoa phú quý làm gì…

Lại nói đến cặp đồng minh chó Mực và mèo Bạch. Khi lâm trận thì hăng hái vậy, nhưng đến khi chủ nhân bị bắt, chúng vội lủi ngay vào bụi gai, lấm lét nhìn ra. Nhận ra Nguyễn Bảo, chó Mực liền nhe nanh định xông ra, nhưng mèo Bạch ngăn lại: “Đừng mạo hiểm, hắn chỉ cần hắt hơi một cái cũng đủ cho bọn tay chân bao vây kín khu rừng này, và giết anh rồi. Cứ để chúng dẫn chú Quý và mấy người kia về doanh trại, ta sẽ tìm cách cứu chú ấy sau. Chúng sẽ không dám giết chú ấy ngay đâu…”

Phân công chó Mực đánh hơi đi tìm ngựa Ô về để giải cứu cho chủ, mèo Bạch ở lại thám thính mọi ngõ ngách trong doanh trại của Nguyễn Bảo. Chứng kiến cảnh Nguyễn Bảo đe doạ rồi lại ve vãn mong Quý khai ra sự thật, nhưng bị Quý một mực cự tuyệt, mèo Bạch rất phấn chấn. Từ trên xà nhà thật cao, nó khích lệ chủ nhân: “Meo, meo! Tôi đây chú Quý ơi! Chú đừng nản lòng, đừng nghe lời ngon ngọt của hắn. Chúng tôi sẽ tìm cách cứu chú và các anh em… Meo, meo…”. Nghe tiếng mèo kêu, Nguyễn Bảo nổi xung, hắn ra lệnh thủ hạ bắt lấy con mèo láo xược. Song đố cách gì mà bắt được! Và đố mà biết được điều gì đang chờ đợi kẻ bất trung bất nghĩa như hắn.

Đúng như vậy, chỉ năm ngày sau, ngựa Ô và chó Mực đã trở lại, cùng với hơn năm mươi nghĩa quân nai nịt gọn gàng. Trong đêm, họ đột nhập vào doanh trại nguỵ quân, khiến chúng trở tay không kịp. Nhờ có mèo Bạch dẫn đường, Quý và các nghĩa quân nhanh chóng được giải cứu. Họ quay sang truy tìm Nguyễn Bảo và thủ hạ của hắn. Tuy nhiên, khi mới được báo động, hắn đã nhanh chóng xa chạy cao bay, để cho hơn ba trăm quân lính bị bắt sống. Nghĩa quân đã lập được công lớn, hạ được doanh trại giặc, thu được rất nhiều vũ khí và lương khô. Quý cùng những con vật trung thành của mình được đưa về ra mắt vị chủ tướng hôm ấy.

Gặp lại Quý, ông ta vui mừng mở tiệc khao quân, và khen ngợi chàng:

– Đúng là làm nên sự nghiệp lớn nhờ gặp được người hiền. Nếu không có quý nhân ngày hôm ấy thì chẳng những ta bị mất mạng, mà nghĩa quân cũng tan đàn xẻ nghé, cầm chắc sự thất bại. Ta cùng anh em tụ nghĩa đã ba năm, vì căm ghét bọn cường hào ác bá, sâu dân mọt nước cõng rắn về cắn gà nhà, nên đã quyết tâm tôn phò vua Quang Trung tài giỏi anh minh. Nhưng bọn nguỵ triều vẫn luôn thừa cơ phản loạn. Đây lại là vùng trọng yếu nên giang sơn khó tụ về một mối, dân tình còn phải chịu bao nhiêu nỗi lầm than. Hôm nay nhờ có mối cơ duyên ngàn năm có một mà ta đây được đệ cứu sống, thật là phúc lớn. Vậy chúng ta nên kết làm huynh đệ, sống chết có nhau. Ta là Lê Hữu, nhiều tuổi hơn, làm anh, đệ thấy có được không?

Sau một hồi ngần ngại, Quý đã nhận lời Lê Hữu, vì chàng thấy vị chủ tướng này có vầng trán rộng, đôi mắt sáng và giọng nói rất thành thực. Lê Hữu rất vui mừng nói với chàng.

– Tuy kết nghĩa là huynh đệ, nhưng ơn cứu mạng của đệ, huynh không bao giờ quên. Đệ lại có những con vật trung thành, thông minh, dũng cảm như vậy, nên từ nay đệ sẽ giúp ta huấn luyện nghĩa quân. Đệ thấy thế nào? Phần đệ, đệ có muốn ta làm gì cho đệ không?

– Thưa không. Đệ xin hết lòng hoàn thành công việc được giao. Nhưng gia đình đệ vốn làm nghề thợ gốm. Đệ còn một người anh hiện đang sống trong vùng thương cảng ở Trấn Biên. Vốn trước đây anh của đệ mắc tội, được Nguyễn Bảo bày mưu cứu thoát, chính hắn là người dẫn đệ đi gặp quan phủ, nên cũng có nhiều ân oán với hắn. Nay hắn đã biết rõ tung tích của đệ, e rằng anh của đệ khó lòng được sống yên ổn. Vậy nên đệ tha thiết mong đại huynh giúp đỡ cho anh của đệ…

Nghe nhắc đến Nguyễn Bảo, Lê Hữu chợt tím mặt, không kiềm chế được đã đập bàn nói:

– Đệ đã là người cùng một nhà, thì ta không giấu đệ làm gì. Chính thằng Nguyễn Bảo ấy đã dẫn quân về thành Gia Định, bao vây và giết chết cha ta. Cha ta chính là quan phủ Lê Học mà đệ vừa nhắc đến đó. Không những thế, hắn còn truy sát ta để lập công lớn, hòng thăng quan tiến chức, định làm “Khai quốc công thần” cho bọn nguỵ quân. Phen này ta quyết không tha cho hắn. Đệ hãy yên tâm. Ta đã liên lạc được với quân đội của vua Quang Trung, không chóng thì chày ta sẽ trở về hỏi tội tất cả những kẻ bất trung bất nghĩa như Nguyễn Bảo, trả lại cuộc sống bình yên cho dân lành…

TRẦN THU HẰNG

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.