Cây ô môi vàm rạch cũ – Truyện ngắn Trần Bảo Định

(Kỷ niệm 200 năm ngày sinh danh nhân Nguyễn Đình Chiểu, 1.7.1822 – 1.7.2022)

1.

– Thưa! Dì Sáu khỏe?

– Chào thầy Hai!

Dì Sáu lui cui xếp vải vụn thành từng bó giẻ để sớm mai kịp gởi chuyến đò về Tham Lương.

– Mời thầy dùng nước!

– Cô Tư, bán Chợ Vải về chưa dì?

– Có chuyện chi không, thầy?

Đâm lo, dì Sáu ngừng tay bó giẻ, hỏi thầy Hai.

Vườn hoang bên kia rạch, lác đác chim về tổ.

– Thầy Hai, ngồi chơi! Nán đợi em nó, chút!

Rồi, dì giãi bày:

– Dạo này, con nước lên xuống thất thường nên xuồng ghe lụy theo con nước.

Ba Huy (người mà dì Sáu gọi là thầy Hai), nhẩm tính thủy trình cô Tư chèo ghe từ kinh Chợ Vải nối rạch Cầu Sấu tới rạch Cầu Ông Lãnh về vàm rạch Cầu Kho(1), nếu thuận con nước, thì cũng phải mất cả mấy canh giờ. “Có lẽ, vì mình không hẹn trước cô Tư, nên… Thôi thì, lần sau vậy!”, Ba Huy ngẫm nghĩ.

– Thưa dì! Con xin phép về!

– Trời còn sớm bửng, thầy nán đợi em nó, chút!

Lấy khoai luộc, dì Sáu mời:

– Thầy Hai, ăn bỏ bụng rồi dìa!

Con ngựa cột gốc cây ô môi cào chưn, hí tiếng kêu chiều muộn. Lật đật, Ba Huy lên yên ngựa. Nắng rỉa trên cành hoa ô môi!

Nhà văn Trần Bảo Định

Đêm Gia Định.

Trống thành, nhịp canh rời rạc buồn.

Thao thức, dì Sáu trăn trở nhớ chồng thương con. Tía con Tư mất sớm, dì cô quả trơ trọi giữa dòng đời không ai cứu giúp, và dì, canh cánh đau nỗi đau của người vợ không sinh được cho chồng một mụn con trai. Mười năm hương lửa, dì “khai hoa nở nhụy” bốn đóa bông nhưng rồi, hai đóa bông trước héo rụng khi vừa chớm nở, chỉ còn lại hai đóa bông tươi thắm(2) sớm hôm thủ thỉ với dì. Mỗi lần, nghe câu hò của vạn chài sông Bình Trị(3): “Đàn ông nông nỗi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”, dì thường mủi lòng tủi thân, tía con Tư vỗ về an ủi:

– Ai nói gì thì nói, mình đừng để tâm. Tui không coi trọng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”(4).

Và, chồng dì nói thêm:

– Gái thì cũng từ máu thịt vợ chồng mình mà ra!

Nghe chồng nói, dì mát ruột nhưng thiệt lòng, dì vẫn áy náy như người có lỗi.

– Sáng trắng rồi đó má!

Khệ nệ, Tư Thiệt vừa bưng nồi cháo thịt vừa nhắc dì Sáu. Đêm qua, bồi hồi nhớ bao chuyện ngày cũ cho tới lúc trời sắp cuối khuya, dì mới chợp mắt.

– Má! Bộ má thức khuya?

Dì Sáu chưa kịp trả lời, Tư Thiệt buông lời trọn lỏn:

– Má nhớ tía?

– Lâu rồi, còn gì nhớ nữa, con!

Gắp thịt ra dĩa, múc cháo vô tộ. Tư Thiệt mời má và cười khúc khích:

– Thấm lâu ngấm sâu, nha má!

Giả lả, dì Sáu cú đầu con gái.

Ngoài vàm rạch, trên gò đất cao, hàng cây ô môi trổ bông đỏ rực trời!

– Tư!

– Gì má?

– Chiều qua, thầy Hai ghé chơi và dường như, muốn gặp con!

Ngạc nhiên, Tư Thiệt lặp lại.

– Muốn gặp con?

Rồi, Tư Thiệt hỏi dồn:

– Má! Thầy Hai có nói gặp con để làm gì không, má?

– Má cũng không biết!

Bến rạch, sóng nước lăn tăn, mũi ghe lắc lư theo nhịp thời gian năm cùng tháng tận.

2.

Thành Gia Định tiễn biệt Tổng trấn Nguyễn – người họ Huỳnh, mang Quốc tính Vua – về cõi tuyệt mù nơi quê nhà và sau đó, tiếp đón Lê Văn Duyệt – người tổng trấn cũ – từ Kinh đô Huế trở về nhậm chức tổng trấn. Kẻ đi người đến không rượu tiễn, chỉ có tiếng kêu than của dân Nam kỳ Lục tỉnh(5) do dịch tả hoành hành và dân chúng nội ngoại thành Gia Định xấc bấc xang bang vì dịch bùng nổ phát tán và lây nhiễm. Dân chết nhiều, Tổng trấn Duyệt rúng động và lịnh tất cả quan lại thành Gia Định tập trung cứu dân. Dì Sáu cản không cho Tư Thiệt đi lễ chùa.

– Tư! Ở nhà đừng đi, con!

– Má! Có gì, má sợ?

– Bây không nghe thấy dịch bịnh lây lan giết người?

Và, dì nói luôn:

– Chợ Vải, sạp vải nơi bây phụ việc còn đóng cửa, huống gì…

Tư Thiệt chặn lời:

– Má! Con nghe thấy dịch bịnh đang lây lan, nhưng má…

Chưa dứt câu, Tư Thiệt ôm má:

– Má! Con đi chùa lễ Phật để cùng mọi người cầu “quốc thái dân an”, cầu xứ sở qua cơn dịch bịnh.

– Bây cố nói lấy được!

Dì lật tẩy con gái, Tư Thiệt vội úp tẩy:

– Má! Tối nay, rằm Vu lan, cũng là dịp con cùng mọi người thả đèn hoa đăng.

Tư Thiệt thuyết phục má:

– Ngọn đèn hoa đăng biểu tượng ánh sáng chân lý và ánh sáng đó phá tan vô minh giúp ước nguyện của con sẽ được chư Phật chứng giám.

Nghe con gái nói, dì cầm lòng không đặng.

– Thôi! Bây muốn đi chùa thì cứ đi!

Rồi, dì nhắc:

– Nhớ về sớm!

Sau đêm rằm Vu lan, Tư Thiệt biếng ăn, có cảm giác đầy bụng, sôi bụng. Dì Sáu lo lắng, không biết Tư Thiệt bị thời khí hay là…, dì không dám nghĩ tới bịnh dịch tả. Mấy ngày đầu, dì nấu lá bưởi, ổi, sả… bắt Tư Thiệt xông nhưng càng xông, Tư Thiệt càng mệt. Đột ngột, Tư Thiệt tiêu chảy, lúc đầu phân còn lỏng nhưng sau đó, chỉ toàn là nước như nước vo gạo, bốc mùi hôi tanh. Hốt hoảng, dì thắp nhang Bàn Thiên vái trời lạy Phật và nhờ thầy coi mạch, hốt thuốc Bắc. Song, Tư Thiệt chẳng những không thuyên giảm mà lại liên tục đi tiêu chảy, ói mửa nước nhiều lần. Cùng lúc đó, đoàn phòng chống dịch tả do Ba Huy đảm trách đã tới xóm Lá mé rạch Cầu Kho – con rạch nối nguồn rạch Cầu Sấu(6) – chảy song hành với đường cái quan(7) rồi quặt cua cặp kho Quản Thảo, thông ra rạch Bến Nghé.

– Dạ! Thưa thầy Hai! Ráng cứu dùm con nhỏ, tui đội ơn thầy Hai!

Quẹt nước mắt, dì Sáu lính quýnh ngồi đứng không yên.

– Dạ! Thưa dì! Dì bình tĩnh, yên tâm.

Ba Huy bước vô buồng Tư Thiệt. Ánh sáng lờ mờ lọt qua khe cửa, Ba Huy nhìn thiếu nữ tuổi độ mười chín đôi mươi(8), thân thể tiều tụy nhưng khuôn mặt đẹp, sáng láng. Ngồi cạnh mép giường, Ba Huy thò tay bắt mạch.

Không gian im ắng. Tiếng gió lay lắt vòm cây ô môi chớm trổ bông.

– Dạ! Nó sao rồi, thầy Hai?

– Dạ…

Ba Huy không nói gì thêm. Hồi lâu, Ba Huy hỏi dì Sáu:

– Chắc là,… bịnh cả tuần nay, hả dì?

Ba Huy hỏi trỏng vì không biết người bịnh thứ mấy, tên gì và quan hệ với chủ nhà thế nào? Dì Sáu hiểu ý:

– Dạ! Thưa thầy Hai! Nó tên Thiệt, thứ tư, con gái út của tui!

Dì Sáu mạnh dạn hỏi Ba Huy:

– Dám hỏi thầy Hai, thầy mần việc gì trong Thành Tổng trấn?

– Dạ! Cháu là thư lại văn hàn ti thuộc quân của Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định.

Nghe nói tới quan quyền, dì Sáu e dè nhưng ngặt nỗi, con Tư đang “thập tử nhất sinh” giữa cơn dịch tả và nó phải được cứu sống. Giả lả, dì nói:

– Thưa thầy Hai! Tui thất lễ quá!

– Dạ! Chẳng có chi, xin dì đừng câu nệ!

Ba Huy nói tiếp:

– Hồi còn ở quê nhà, cháu vừa học chữ vừa học thuốc và cũng nhờ vậy, cháu có thể coi mạch, bốc thuốc trị bịnh.

Ba Huy dặn dì Sáu:

– Lấy rau sam nấu với cỏ sữa tươi cho cô Tư uống hàng ngày và nếu, cô Tư đi ngoài ra máu thì dì bứt vài cọng cỏ mực nấu chung để cầm máu.

Ngày nào, Ba Huy cũng ghé thăm bịnh Tư Thiệt. Hôm nào, Ba Huy ghé trễ, má con dì Sáu lóng ngóng chờ. Riết rồi, Ba Huy thành người thân gia đình dì Sáu, người quen xóm Lá.

– Nay, cô Tư bịnh bớt nhiều rồi đó, dì!

– Má con tui đội ơn thầy Hai!

– Dạ! Dì nói vậy, tổn thọ cháu.

Bẽn lẽn, Tư Thiệt vịn cửa buồng, nói lời cảm ơn Ba Huy. Thấy vậy, Ba Huy bước tới dìu Tư Thiệt ngồi.

– Cô Tư! Không phải thủ lễ. Sức khỏe của cô còn rất yếu, cần nghỉ ngơi tịnh dưỡng.

Và, Ba Huy nói vui:

– Chỉ là, phước chủ may thầy!

Sau đó, Ba Huy dặn Tư Thiệt uống nước gạo lứt rang và giữ cơ thể đủ nước, đường, muối. Ra về, Ba Huy nói lời khích lệ với Tư Thiệt:

– Vài bữa nữa, cô Tư sẽ khỏi bịnh!

Chiếc bát cơm của Nguyễn Đình Chiểu ăn lúc sinh thời

>> Tài năng xuất chúng và nghị lực phi thường của Nguyễn Đình Chiểu

>> Nguyễn Đình Chiểu – Bậc tôn sư của đất phương Nam

>> Hội thảo kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu

>> Tinh thần nghĩa hiệp Lục Vân Tiên thời nay

>> Hấp dẫn di sản văn hóa cụ Đồ Chiểu

>> Các văn bản Nôm quan trọng nhất của Nguyễn Đình Chiểu còn giữ được đầy đủ

>> Người đàn bà nói thơ Lục Vân Tiên trên sông nước Vàm Kỳ Hôn

>> Có một ‘trường văn hóa’ Lục Vân Tiên

>> Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu – điểm nhấn của một hội thảo quốc tế

>> Lục Vân Tiên – một trong những bản quý hiếm đầu tiên

3.

– Tư! Hình như có tiếng vó ngựa, đâu bây ra cổng coi có phải thầy Hai tới không?

Dì Sáu biểu Tư Thiệt. “Tai trời ách nước! May mà dịch bịnh đi qua và mới tức thì đó đã năm tháng rồi, ngày cận tết”, dì Sáu thầm nghĩ. Ngoài cổng, tiếng Tư Thiệt giòn giã, mừng rỡ:

– Mèng ơi! Thưa thầy Hai tới chơi!

– Chào cô Tư!

– Mời thầy Hai vô nhà, ngựa cứ để đó tui cột ở gốc ô môi.

– Không được đâu, cô Tư!

– Sao không được, thầy Hai?

– Lạ hơi, ngựa sẽ đá!

Chợt dưng, Tư Thiệt nhớ lời má ru: “Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi”. Tư Thiệt, mặt ửng hồng và Ba Huy lưỡng lự không biết màu ửng hồng đó là sắc đỏ hoa ô môi hay từ rung cảm của Tư Thiệt.

– Ô môi trổ bông báo hiệu xuân rồi đó, thầy Hai!

Nép mình, Tư Thiệt chỉ tay về phía cây ô môi ở vàm rạch.

– Thầy Hai ở chơi và có chuyện gì muốn nói với con Tư, thầy cứ nói!

Dì Sáu lui ra sau bếp.

– Chiều qua, thầy…

Tư Thiệt ngập ngừng lời.

– Chiều qua, tôi tìm cô Tư để nhờ một việc.

– Việc gì, thầy Hai?

Gia Định, tháng Chạp tiết trời se lạnh khiến người xa quê nhớ gia đình, nhớ cố xứ.

– Nhờ và làm phiền cô Tư lựa mua dùm vải thật tốt, tôi gởi ra Huế làm quà cho vợ con nhân dịp Xuân về Tết đến!

Giọng buồn, Ba Huy vô tình gây xúc động lòng Tư Thiệt.

– Tết sum hợp gia đình, thương thầy Hai… Tội nghiệp!

Thời gian chết lặng, không ai nói với ai thêm lời nào nữa. Tiếng cu gáy gọi bạn trên cành bông ô môi.

– Mời thầy Hai ở lại dùng cơm trưa với má con tui!

Dì Sáu đặt mâm cơm lên ván.

– Má! Sao má không kêu con?

Quay sang Ba Huy, Tư Thiệt nói bằng tất cả sự thiệt lòng như cái tên của cô:

– Việc thầy Hai nhờ, tui lo!

Trước lúc ra về, Ba Huy lấy túi rút nhỏ đựng tiền trao cho Tư Thiệt. Tư Thiệt khăng khăng từ chối:

– Cất túi rút nhỏ đi thầy Hai!

Giằng co tới xế bóng chiều. Thấy vậy, dì Sáu lên tiếng:

– Thôi thì, thầy Hai để túi rút tiền lại đó!

Và, dì không quên nhắc Ba Huy:

– Tết này, thầy Hai không chê nghèo, mời thầy Hai tới nhà ăn tết với má con tui!

Tết Tân Tỵ (1821), Ba Huy ăn Tết cùng gia đình dì Sáu. Và, anh xin dì Sáu cũng như cô Tư, từ nay đừng gọi anh là thầy Hai. Dì Sáu nói: “Sợ thiệt thòi cho thầy Hai!” Ba Huy cười: “Dì thương nói vậy, chớ thiệt thòi cái nỗi gì?” Rồi, anh nói luôn: “Cứ coi như con cháu trong nhà!” Tiếng pháo đại từ thành át tiếng pháo chuột xóm nghèo. Tiếng pháo quê người khiến Ba Huy nhớ da diết tiếng pháo quê nhà. Tiếng pháo với bao hàm ý xua đuổi tà ma, đẩy lùi xui xẻo và tống cựu nghinh tân! Anh nói với dì Sáu và Tư Thiệt rằng, Tết, người Huế trọng lễ Tết hơn là ăn Tết.

– Quê cháu, đón Tết ảnh hưởng phong vị chốn cung đình và du xuân, vui chơi kéo dài tới mùng Bảy tháng Giêng. Hóng chuyện, Tư Thiệt vọt miệng

– Ngoài đó, vui Tết đã nha, thầy Hai!

Biết hớ lời, Tư Thiệt chữa thẹn:

– Ý em lộn! Kêu anh Ba mới phải!

Dì Sáu cười con gái, cả nhà vui. Những ngày Tết êm đềm, ấm cúng trong căn nhà nhiều năm đơn lạnh, thiếu vắng đàn ông. Mùng Ba Tết, dì Sáu cúng Tết nhà và dì nói hết Tết! Bữa cơm hết tết, Ba Huy chậm rãi kể về gia cảnh của anh cho cả nhà nghe:

– Chiều Hai mươi chín Tết năm Nhâm Tý(9), cháu chào đời ở miền đất phù sa do con sông Bồ bồi đắp nên gọi là Bồ Điền và tới năm Nhâm Thân(10), cháu lập gia đình với người phụ nữ(11) cùng làng Bồ Điền. Lúc theo Tả quân Lê Văn Duyệt vô thành Gia Định, thì đứa con trai đầu tuổi đã lên năm.

Thở dài, Ba Huy tặc lưỡi:

– Đã hai cái tết rồi…

Nghẹn lời, Ba Huy rưng rưng mắt! Đang vui trở nên buồn bã, dì Sáu không muốn:

– Cháu ơi! Ngoài kia mưa gió, còn bao cảnh ngộ ngang trái và chia lìa!

Dì Sáu động viên an ủi Ba Huy:

– Rồi, cũng có ngày “châu về Hợp phố”!

Lảng sang chuyện khác, dì huỡn đãi nói:

– Tháng Giêng, mùng Mười, là ngày giỗ tía con Tư; cháu rảnh việc, dì mời cháu ghé dùng bữa!

Và, dì Sáu nói thêm:

– Hôm đó, dì có thỉnh sư Viên Ngộ…

– Sư Viên Ngộ?

Ngạc nhiên, Ba Huy cắt lời, hỏi lại dì Sáu.

– Cháu cũng biết sư thầy?

Đến lượt dì Sáu ngạc nhiên, hỏi lại Ba Huy.

– Dạ! Cháu có biết sư thầy nhân dịp Trai đàn Chẩn tế ở thành Gia Định và nhất là lúc dịch bịnh vừa qua, sư thầy đã nguyện “trì kinh niệm Phật, chung tịch cốc” để cầu siêu cho bá tánh cũng như dân thành Gia Định thoát khỏi cơn tai ách.

– Sư Viên Ngộ là chỗ quen biết gia đình nên năm nào giỗ, sư thầy cũng đến.

– Dạ! Ngày đó, xin phép dì, cháu tới!

 

Bần thần, dì Sáu nhìn bài vị thờ chồng. Nỗi nhớ “gừng cay muối mặn” chợt ùa về, dì khóc! Vợ chồng lấy nhau, nghèo quá, đành đùm túm con cái bỏ xứ đi và rồi, trôi dạt tới xóm Lá, nơi người nghèo khó từ bốn phương tụ về sống trong những căn nhà sàn ọp ẹp lợp lá ven sông rạch quanh kho Quản Thảo. Tía con Tư làm nghề khuân vác lúa gạo ra vào kho, dì tần tảo bán buôn lặt vặt và cũng lắm lúc, khuân vác thay chồng. Nghe nói xóm dì ở bây giờ, xưa gọi là xóm Cầu Khất là do ngày trước, nhiều người nghèo khó tha hương cầu thực.(12) Cuộc sống cực sơn trường nhưng dì không khổ và có thể, chia sẻ phần nào gánh nặng giúp chồng. Từ ngày tía con Tư mất, dì buồn và sức khỏe yếu dần, nay bịnh mai đau. Đời dì, dì coi như đã xong, nhưng rồi đời con? Đêm đêm, dì cầu trời cho dì sống tới ngày con gái xuất giá theo chồng, dì sợ phải bỏ con giữa đường đời bơ vơ không nơi nương tựa. Đôi lúc, dì băn khoăn lo lắng khi bắt gặp Tư Thiệt buồn vẩn vơ, hay thắc tha thắc thỏm trông chờ tiếng vó ngựa… Và, dì cảm nhận mơ hồ Tư Thiệt phải lòng Ba Huy. Rùng mình, dì sợ nghịch cảnh sẽ xảy ra đời con Tư. Bởi, Ba Huy đã yên bề gia thất và vả lại, người ta là quan còn mình là thứ dân. Song, thiệt tình mà nói, dì mến mộ nhân cách Ba Huy ngay trong cơn dịch bịnh giết người. Nếu,… thì dì sẵn lòng cho con Tư “nâng khăn sửa túi” Ba Huy! Con tạo trớ trêu… Ngày mai, dì sợ cái ngày mai… sẽ ra sao với con Tư? “Mình ơi! Mình sống khôn thác thiêng, phù trợ cho con!”

– Má! Má sao vậy má?

– Má có sao đâu con!

– Má không sao mà mặt mày tái mét, gục đầu lên bàn thờ tía.

Dìu dì Sáu ngồi xuống ghế, Tư Thiệt phân bua:

– Má! Con đã nói việc vệ sinh, lau chùi bàn thờ tía, má cứ để cho con làm!

– Má thấy con lu bu nhiều việc.

– Hai ngày nữa, mới tới ngày giỗ tía!

Ôm má, Tư Thiệt cười. Nhìn con, dì thấy con còn thơ ngây quá!

***

Tàn tiệc giỗ, Ba Huy xin phép dì Sáu và sư thầy ra về.

Tư Thiệt lật đật nhét thêm mấy đòn bánh tét và chục bánh ít vô túi xách, vội vã chạy theo Ba Huy.

– Anh Ba! Em gởi thêm cái này!

Liếng thoắng, Tư Thiệt nói đùa:

– Có giỗ thì có quảy nên gọi là giỗ quảy đó nha, anh Ba!

– Bánh trái, dì cho anh nhiều rồi em!

Nhẹ nhàng, Ba Huy từ chối vì anh muốn để lại cho dì Sáu làm quà biếu bà con lối xóm.

– Bánh này, em gói riêng và chỉ dành cho anh!

Tư Thiệt buồn xo. Nghe và thấy vậy, Ba Huy xuống yên ngựa.

– Xin lỗi em! Cho anh xin!

Cười tươi nắng, Tư Thiệt ngó theo bóng người mà cô chịu ơn cứu mạng cho tới khi khuất dạng. Bước những bước chưn sáo, Tư Thiệt đi thẳng ra nhà sau dọn dẹp bếp núc, rửa chén bát.

– Bạch thầy! Chuyện nhà, con đã thưa rõ. Xin thầy cho con lời dạy!

– Mô Phật! Thiện tai! Thiện tai!

Sư Viên Ngộ nói người xưa bảo: “Tướng tùy tâm sinh, tâm tùy mệnh tạo”, con người này, qua tiếp xúc đôi lần, ta thấy có tâm từ bi. Rồi, Sư giải thích: “Người có tâm từ bi sẽ là người hạnh phúc và người hạnh phúc do tâm từ bi sinh ra thì có thể cải tạo được số mệnh”.

– Bạch thầy!…

– Mô Phật! Ta hiểu, thí chủ muốn hỏi chuyện lương duyên của con gái với người ông đã có gia đình? Ta chỉ có thể nói: Về pháp lý, đã có chánh thất thì tất có thứ thất. Về đạo lý, chánh thất có thuận tình đứng ra lập thứ thất cho chồng hay không?

Ngoài vàm rạch, cây ô môi đang kết trái xanh và ngả màu trái chờ ngày chín.

Sư thầy nhắc lời Phật dạy: “Cuộc sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Con người gặp nhau là bởi chữ duyên, sống và yêu nhau bởi chữ nợ”. Trước lúc trở về chùa, Sư thầy nói với dì Sáu: “Tùy duyên!”

Tư Thiệt nghỉ phụ việc ngoài Chợ Vải và lúc nào, cũng nhớ nhung bồn chồn mong gặp Ba Huy. Dì Sáu để ý Tư Thiệt ngày càng mệt mỏi biếng ăn, mất ngủ và thường hay tủm tỉm cười một mình rồi đột nhiên đâm ra lo âu, buồn bã… Có người nhắc khéo dì Sáu coi chừng con Tư nó bị “mắc đàng dưới” do một vong nào đó dưới nước nhập vô. Nhưng, với dì, dì hiểu con gái của dì đang mắc phải tương tư và chỉ có một người làm cho con Tư hết bịnh, đó là Ba Huy! Song, cả tháng nay, Ba Huy không tới thăm dì Sáu và cô Tư. Ngẫm nghĩ, dì Sáu tự hỏi: “Hay là tại dì bộp chộp, thiếu khéo léo khi thuật lại lời sư Viên Ngộ; cũng như dì buộc phải có ý kiến rõ ràng của người vợ chánh thất thì dì mới có thể cho Ba Huy tới lui với con gái của dì, khiến Ba Huy chột dạ, chùn bước mà lánh mặt!?”

***

Mưa đầu mùa Gia Định.

Tiếng vó ngựa nhịp đều theo tiếng mưa rơi.

– Má ơi! Anh Ba tới!

Mừng húm, Tư Thiệt đội mưa chạy ra mở cổng, dắt ngựa vô tận sân.

– Dạ! Thưa dì! Cháu mới tới!

Ngó lơ, dì Sáu ngoái cổ nhìn trời mưa.

– Dạ! Tháng nay, cháu bận việc trong thành và theo quan tổng trấn đi kinh lý, nên…

– Được rồi! Áo quần ướt như chuột lột, coi chừng cảm lạnh.

Dì hối Tư Thiệt:

– Mau lấy đồ cho anh Ba của bây thay!

– Dạ! Thưa dì! Đây là thơ của vợ cháu từ Huế gởi vô nhằm thưa chuyện với dì, với cô Tư!

Khoanh tay, Ba Huy đứng hầu lời dì Sáu.

– Chánh thất Phan viết gì trong đó, vậy cháu?

– Dạ! Thưa dì! Cháu không dám mở thơ!

Tư Thiệt, đứng lấp ló sau màn cửa, nghe ngóng.

Dì Tư nói:

– Dì và con Tư, học lóm thuộc lòng rồi nói miệng, biết chữ đâu mà đọc, cháu!

Ba Huy bối rối. Hồi lâu, dì Sáu cho phép Ba Huy mở thơ và đọc. Trong thơ, Phan chánh thất khẳng định: “Con xem dì như mạ của con và mong dì thương con mà đứng ra tác hợp thêm mối lương duyên cho chồng của con”. Đoạn bàn bạc với Tư Thiệt, Phan chánh thất viết: “Chị em phụ nữ mình có thể không biết chữ, nhưng không thể không biết Đạo phu thê. Chị thuận tình và rất vui, khi biết em chân thành và sẵn lòng làm bờ vai cho hôn phu chị tựa mỗi lần mệt mỏi trên đường đời nơi đất khách quê người. Chị hiểu, ‘gió không đủ thì không dang nổi đôi cánh to’, “chị nhờ em thay chị tạo gió đủ dang đôi cánh to để mang hạnh phúc đến cho người chị thương và cả em nữa!” Cuối thơ, Phan chánh thất: “Chúc mừng em và hôn phu của chị kết tóc xe tơ!” Đọc xong bức thơ, Ba Huy bật khóc và Tư Thiệt, chạy ùa ra khóc.

Lặng lẽ bước tới bàn thờ chồng, dì Sáu thắp nén nhang và mượn khói hương, gởi lời thơ Phan chánh thất đến hương linh tía con Tư.

 

– Má ơi má! Vợ con sanh rồi, má!(13)

Lay dì Sáu dậy, Ba Huy hớn hở báo tin Tư Thiệt vừa sinh con. Gần hai tháng qua, tuổi già sức mòn lực kiệt đã quật ngã dì Sáu nằm liệt giường. Ngày, dì thiêm thiếp chập chờn ngủ. Đêm, dì thức và thường gọi tên, nói chuyện với người chết, như: tía má, người thân, hoặc người này người nọ là bạn bè hay người quen biết trong xóm. Cũng có lúc, dì Sáu tỉnh táo dặn Tư Thiệt đi đứng cẩn thận và nhắc Ba Huy chăm sóc vợ dưỡng thai.

– Đứa nào đó?

– Dạ! Thưa má! Chồng Tư Thiệt!

Dì Sáu cố trở mình ngồi dậy, nhưng không thể.

– Hồi nãy, con nói gì?

– Dạ! Thưa má! Vợ con vừa sanh xong!

Lần tay nắm tay Ba Huy, dì Sáu nở nụ cười.

– Trai hay gái?

– Dạ! Thưa má! Trai!

Đột ngột, dì Sáu chống tay ngồi dậy.

Hoảng hốt, Ba Huy lật đật vịn ôm dì.

– Vậy là, con Tư giỏi hơn má nó!

Cười khan, bàn tay dì Sáu khô gầy vuốt mái tóc Ba Huy.

– Vậy là, chàng rể ngon hơn tía vợ!

Ba Huy đỡ lời:

– Trời Phật thương và cũng là phước đức ông bà, má ơi!

Sợ dì Sáu ngồi lâu mỏi lưng mệt, Ba Huy dợm dìu dì nằm. Ba Huy biết nghề thuốc nên hiểu, với bịnh của dì Sáu, thì không có cách nào tự ngồi dậy được và nếu tự ngồi dậy được, là do niềm vui tột cùng đến 140 bất ngờ khiến người bịnh hưng phấn tạo ra sức khỏe tâm lý.

– Đừng con! Hôm nay, là ngày vui nhứt đời má!

Dì khóc. Những giọt mừng giọt vui nước mắt lăn trên những vết thời gian cắt cứa đời người đàn bà mẹ góa con mồ côi!

– Cháu ngoại má mặt mũi sao? Tiếng khóc lớn nhỏ? Sau đẻ, vợ của con có khỏe không?…

Dì Sáu hỏi dồn dập. Ba Huy liên tục dạ thay lời.

– Chồng con Tư! Cho má dựa thanh giường. Lâu rồi, má chưa được ngồi!

Ba Huy chiều ý dì Sáu.

– Dạ! Con mời má uống nước.

– Này con! Bây tính đặt cháu ngoại của má tên gì?

Ba Huy không biết phải trả lời sao trước câu hỏi bất ngờ của dì Sáu. Lưỡng lự hồi lâu, Ba Huy nói nước đôi:

– Dạ! Thưa má! Họ và chữ lót chắc là thuộc về nội. Riêng tên cháu, con xin ngoại đặt cho.

Trầm ngâm, dì Sáu hỏi:

– Bữa nay, ngày mấy hả con?

– Dạ! Thưa má! Ngày 1 tháng 7 năm 1822.

– Không! Má hỏi ngày ta!

– Dạ! Thưa má! Ngày ta, là ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ.

Mặt mày dì Sáu bỗng sáng rỡ và tự nhiên, dì lanh lợi hoạt bát khác thường. Dì biểu Ba Huy ngồi xích lại gần dì. Trời dịu nắng sau Tết Đoan Ngọ.

– Nam Nhâm, nữ Quý! Cháu nội má, thuộc chiến mã không ở võ trường thì cũng ở văn trường!

Dì Sáu nói tiếp:

– Đời người ngắn mà tham vọng dài. Má muốn cháu ngoại của má chỉ vọng mà không tham để cho, dù phải sống trong bóng đêm vẫn có thể biến đêm hóa ngày!

Thỉnh thoảng dì ho, tiếng ho khàn hơi của người đuối sức. Ba Huy trở bộ dợm đỡ dì nằm, nhưng dì không bằng lòng. Dì nói:

– Từ ngày Ba Huy là con rể, má chưa nói hết những chuyện mà má muốn nói với Ba Huy. Giờ, hãy để cho má nói! Này con! Cháu ngoại má, sanh ngày 13 tháng 5?

– Dạ! Thưa phải đó, má!

– Trời tháng 5 chưa nằm thì sáng! Ngày 13 là ngày Hoàng đạo, vua chúa độc quyền vi hành! Xưa nay, vua chúa thường giành giựt lợi ích về mình, mặc cho thiên hạ chạy trong gió bụi kiếm sống. Trời mau sáng, là trời tạo điều kiện cho thiên hạ cần lao tìm cái ăn.

Dì Sáu cười, tiếng cười mơ ước: “Cháu ngoại, nếu không làm được việc lớn thì ít nhứt cũng làm được việc nhỏ có ích cho đời cho người”. Và, dì hy vọng cháu ngoại dì là cái ao cái đầm nước trong làng.

Gió hè từ rạch thổi về mát mẻ xóm Lá.

– Này con! Má đặt cháu ngoại của má tên Chiểu!

Ba Huy, chợt nhớ lời Vạn thế sư biểu Chu Văn An: “Ngư phủ cổ chiểu long hà tại” (Cá nổi trong ao xưa, rồng ở chốn nào?)

– Dạ! Thưa má! Vợ chồng con nhớ ơn má!

Vợ chồng Ba Huy đầm ấm trong tiếng cười trẻ sơ sinh, và mới đó, bé Hai Chiểu mấp mé sáu tháng tuổi. Ngày nào, dì cũng biểu Tư Thiệt bồng con tới giường cho dì thấy mặt. Có lẽ nhờ vậy, mà sự sống của dì kéo dài tới mùa đông Gia Định. Một hôm, dì Sáu dặn Tư Thiệt đủ điều, trong đó, có điều chung thủy của người vợ thứ thất. Dì nói:

– Con phải coi chánh thất là chị ruột, giữ hòa khí và đừng mặc cảm phận thứ làm cho chồng khó xử!

Dì nhắc lòng chung thủy của người vợ:

– Con chung thủy với con thì con mới chung thủy với chồng. Và, con hãy là chốn bình yên để tía thằng Hai an tâm trú ngụ.

Ôm má, Tư Thiệt khóc:

– Má ơi! Má đừng làm con sợ!

Tư Thiệt ẵm Hai Chiểu đặt nằm lật ngửa bên cạnh dì Sáu.

– Má ơi! Cục cưng cháu ngoại của má nè!

Thân gầy da bọc xương, dì Sáu không đủ sức xoay người nhìn mặt cháu ngoại. Hố mắt dì ngân ngấn nước.

– Lát nữa, chồng con đi làm về, con nói má muốn gặp.

– Dạ! Thưa má! Con đi làm về!

Ba Huy bồng con trên tay.

– Con giao con cho vợ con giữ, rồi vô đây má biểu!

Lạnh se chiều hanh hao chút nắng trên vòm cây.

Yên lặng, Ba Huy lắng nghe dì Sáu kể chuyện quê, chuyện gốc gác ông bà của dì ở rạch Tham Lương. Má nghe nói lại, Phạm Ngạn tướng của quân Tây Sơn bị tướng Trần Công Chương quân Hòa Nghĩa giết chết tại cầu Tham Lương, cách vườn nhà nội của dì áng chừng non cây số. Sau đó, Nguyễn Nhạc ra lịnh quân Tây Sơn giết người Hoa chết vô số kể và đốt phá sạch vùng Tham Lương, trong đó, có vườn nhà nội của dì. Trước cơn biến loạn, cả dòng họ mạnh ai nấy chạy giặc, ly tán khắp nơi. Có người nói, Nguyễn Nhạc vì Phạm Ngạn mà trả thù nhưng dân chúng thời đó nghĩ khác: “Chắc gì, Nhạc vì Ngạn mà trả thù hay do nguyên nhân sâu xa nào đó?” Song, nghĩ hay nói gì, thì dân cũng lãnh đủ mọi điều chết chóc, khổ đau!

Ba Huy chới với khi nghe những lời sâu sắc từ người mù chữ lại vô cùng sáng nghĩa. Anh nghĩ: “Cái gì dân nghi là đúng, Nhạc căm thù Lý Tài phản bội Tây Sơn, và người Hoa xứ Gia Định vừa hỗ trợ vừa hăng hái theo Nguyễn Ánh quyết liệt chống Tây Sơn. Đây có phải nguồn cơn xảy ra thảm sát người Hoa ở Tham Lương, ở Cù Lao Phố hoặc ở những nơi khác?”

Thều thào, dì nói:

– Người đời thường lầm tưởng và chết thảm vì tin cái  “nhân danh”. Ý má, kể lại cho con nghe chuyện cũ nơi quê nhà của má là để con suy ngẫm mà có đối sách và hành động kịp thời, đúng mực, một mai gặp phải cảnh ngộ bẽ bàng và khó xử nơi chốn quan trường: phò vua hay phò nước?

Dì nhấn mạnh:

– Làm người thì phò nước, làm nô bộc thì phò vua. Vua dù mất, nước vẫn mãi trường tồn!

Rịn mồ hôi, Ba Huy liên tưởng tới những hiện tượng rạn nứt và sứt mẻ vua tôi giữa Vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn thành Gia Định. Trầm tư, Ba Huy tự vấn: “phò vua hay phò nước”? Tại sao má nói với mình như vậy? Hay, đó là một loại “di ngôn” má gởi lại cho mình!

Dì Sáu thở hắt hơi.

– Má ơi! Má mệt, nằm nghỉ ngơi nha má!

– Má không mệt đâu con! Được trút nỗi lòng cùng con, má phấn chấn và thấy khỏe ra!

Trìu mến, dì Sáu nhìn Ba Huy.

– Mai này, nếu có điều bất trắc, con dắt cháu ngoại của má về quê nội!

– Má! Má ơi! Xin má đừng nói gở!

Dì Sáu cười khỏa lấp:

– Thì, má nói trước vậy mà!

Rồi, dì nói chữa lại:

– Người già hay lo!

Từ ngày là rể dì Sáu, có lẽ lần đầu Ba Huy nhìn thấy sắc diện của dì thanh thản.

– Rể của má! Người Gia Định có câu: “Làm vườn thì phải khai mương/ Làm trai hai vợ phải thương cho đồng”. Con nhớ lấy! Nắm tay Ba Huy, dì Sáu lắc lắc:

– Thuận hay nghịch cảnh, cảnh nào con cũng đừng phụ bạc chánh thứ thất, cùng phận đàn bà cùng tội nghiệp như nhau!

– Dạ! Con biết rồi má!

Ba Huy lui ra, bóng tà huy bay khắp hiên nhà.

– Mình ơi! Má đi rồi!

Tư Thiệt khóc ngất.

– Má ơi má! Sao má bỏ con? M..á… ơ…i…

Ba Huy khóc, vuốt mắt dì Sáu.

– Trời ơi! Má ơi!

Tiếng trẻ sơ sinh khóc ré, xé không gian thanh tịnh buổi sớm mai xóm Lá.

Ngoài vàm rạch, lác đác ô môi trổ bông đầu mùa báo tin xuân!

TRẦN BẢO ĐỊNH

_______________

  1. Kinh Chợ Vải, đào 1867, lấp 1887 – 1892 (đường Charner, nay là đại lộ Nguyễn Huệ, quận 1)/ Rạch Cầu Sấu (đường de la Somme, nay là đường Hàm Nghi, quận 1)/ Rạch Cầu Ông Lãnh (đường Kitchener, sau Abattoir và nay là đường Nguyễn Thái Học, quận 1)/ Rạch Cầu Kho (đường Blancsubé de Cau Kho, trước 1975 là đường Huỳnh Quang Tiên, nay là đường Hồ Hảo Hớn, quận 1).

      2. Trương Thị Thiệt và Trương Thị Thành (Thà).

  1. Sông Bình Trị thuộc tổng Bình Trị, tục xưng là sông Bà Nghè (Thị Nghè) nay là đoạn từ cầu Thị Nghè đổ ra sông Sài Gòn (Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giáo Dục, tr.33).
  2. Ý rằng: Có một con trai thì vẫn là có, nhưng có mười con gái thì vẫn như không có.
  3. Tháng 6.1820 (nhằm tháng 5 (thiếu), Canh Thìn), dịch tả khởi phát các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường rồi lan đến Gia Định và toàn quốc. Tháng 12 cùng năm, dịch tả lắng và ngưng; số tử vong 206.835 người/ 7 triệu dân và triều đình Huế phát chẩn 73 vạn quan tiền.
  4. Đầu đường Lê Lai và Công viên 23.9, quận 1.
  5. Ngày nay là đường Nguyễn Trãi.
  6. Bà Trương Thị Thiệt, sinh 15.10.1800 tại Tân Triêm, Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là phường Cầu Kho, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà mất ngày 10.12.1848 (ngày Rằm tháng 11 năm Mậu Thìn). Trước đó, phần mộ của bà được di dời từ Tân Triêm về ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, phần mộ của bà Trương Thị Thiệt tại ấp Hữu Đức, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (do Nguyễn Văn Phước, cháu sơ cụ Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Thị Nữ cùng con cháu di dời cải tang).
  7. Ngày 9. 2. 1793.
  8. Năm 1812.
  9. Bà Phan Thị Hữu và bà sinh được hai con: Nguyễn Đình Lân, Nguyễn Thị Phu.
  10. “Dưới đường đi cầu Khất, bỏ chi con trẻ lạc loài…” (Bài Phú cổ Gia Định).
  11. Thứ thất Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Bà sinh bảy người con gồm bốn trai, ba gái: Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888); Nguyễn Thị Thục (1825); Nguyễn Thị Nữ (1827); Nguyễn Thị Thành (mất hồi nhỏ); Nguyễn Đình Tựu (1837 – 1854); Nguyễn Đình Tự (1839 – 1891), vợ là Trần Thị Tư, ở làng Thanh Ba, Cần Giuộc; Nguyễn Đình Huân (1841 – 1862), Nguyễn Đình Huân theo nghĩa quân Trương Định đánh Pháp và hy sinh năm 1862 (Theo Nguyễn Đình Tộc Phổ, bản Gia phả, 1811).

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.