Cánh giang bay lẻ dọc đường thơ – Tiểu luận Đặng Huy Giang

Vanvn- Cách nay khoảng 30 năm, nhớ có lần nhà thơ Trúc Thông bảo tôi: “Nguyễn Tấn Việt có bài thơ “Cánh giang bay lẻ” rất lạ ở cả ý lẫn tứ. Đó cũng có thể là tuyên ngôn thơ của Nguyễn Tấn Việt, bản chất con người thơ Nguyễn Tấn Việt”. Một người làm thơ lâu năm, luôn sẵn sàng “tử về thơ”, có bản lĩnh đến mức chầm chậm tới mình*, có can đảm đến mức ma ra tông*, những mong thành một ngọn đèn xanh* trong thơ như Trúc Thông mà nói về đồng nghiệp như thế, bạn thơ như thế, thì hỏi làm sao tôi không tin cậy cho được.

Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt

Đến năm 2000, khi đọc chùm thơ hai bài “Làng tôi năm 2000” và “Ở nước nào cũng thế” của Nguyễn Tấn Việt được giải A trong cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ 1998 – 2000, thì tôi càng tin cậy nhà thơ người Hà Đông và hiểu thêm nhà thơ người Hà Đông này hơn. Tôi không biết giữa “Ở nước nào cũng thế” trước đó đăng báo có khác “Ở nước nào cũng gió” sau này khi cho in trong “Những người sống trong mây” không? Nhưng “Ở nước nào cũng gió”, là một tứ thơ lạ. Cốt lõi của “Ở nước nào cũng gió” đọng lại ở ba câu có sắc màu triết lý và có tầm khái quát cao:

Ở nước nào cũng gió

Cây thưa thì ồn ào

Rừng dày thì im lặng…

Và 3 câu này được lặp lại 2 lần khi mở và khép lại tứ thơ.

Ngoài ba câu trên, “Ở nước nào cũng gió” còn có nhiều câu thơ đáng nhớ khác, thuộc diện sâu sắc, khó quên: Bồ câu mải bay đôi/ Gà tức nhau tiếng gáy/ Đỏ môi kẻ tặng hoa/ Mài dao người tím mặt; Vôi bạc hay nói nhân/ Vách nhà hay nói chữ; Tuổi thấp thì học bay/ Tuổi cao thì học đứng; Số đông thuộc quốc ca/ Số nhiều quên quốc nhục

Theo tôi, nếu không là người từng trải, ưa ngẫm nghĩ…khó có thể sở hữu được những câu thơ nặng lòng đến thế!

Ở hai câu khác: Còn một ô cửa cuối cùng tôi khép kín/ Giấu ban mai một chút nắng riêng mình trong “Những ô cửa sổ”, tôi lờ mờ nhận ra trái tim và tâm hồn  Nguyễn Tấn Việt – người đã từng Đốt nỗi lòng làm ngọn đuốc thâu canh (“Vòng vây giọt lệ”) còn có một cái gì đấy thật bí ẩn, thiêng liêng và ông muốn gìn giữ nó thật cẩn trọng, như chỉ để cho riêng mình. Ấy là khoảnh khắc ông muốn vô ngã để làm nên cái ngã của mình, như cách muốn lấy im lặngđể tiếng với xung quanh.

Thi sĩ Nguyễn Quang Thiều quả có lý khi đưa nguyên cả hai bài thơ “Tôi gọi tôi về” và “Giấc ngủ con người” làm trích dẫn trong bài “Thơ Nguyễn Tấn Việt –  quyền lực của sự im lặng”. Rồi Nguyễn Quang Thiều còn kính tặng Nguyễn Tấn Việt bài thơ “Những cánh bướm” thật hay, trong đó đó có hai câu thật chí lý như để dành riêng cho thi sĩ đàn anh của ông:

Chúng mang vẻ đẹp của đời sống đi khắp thế gian

Mà không để lại một tiếng động nhỏ.

Ở “Tôi gọi tôi về”, Nguyễn Tấn Việt nhấn nháy cái bi kịch quá sức khi phải làm người khác, cái bi kịch tôi bay quá xa tôi trong cõi người, kiếp người. Bốn câu thơ dưới đây cho thấy nỗi buồn thẳm sâu nhân thế, cũng như sự bất lực của nỗi làm người trong một chiều kích rộng – dài – cao – sâu và phảng phất đâu đó là tâm trạng của một người phải tha hương ngay trên chính quê hương mình:

Nỗi buồn không nhà trọ

Niềm vui không cố hương

Vuông là thế và tròn là thế

Quơ vào trời chỉ nắm ánh trăng suông…

Câu quơ vào trời chỉ nắm ánh trăng suông thật ấn tượng và thật thi sĩ. Cấp độ của “Tôi gọi tôi về” được mở bằng: Đêm đêm tôi phải gọi tôi về được nâng lên ở câu kết: Nên đêm đêm tôi đứng gọi tôi về. Tôi phải gọi tôi về có thể mới là ý nghĩ, nhưng tôi đứng gọi tôi về là hành động cụ thể. Từ ý nghĩ đến hành động – đó là quá trình chuyển động, dẫn dắt của 12 câu thơ. Và sự quá sức khi bay quá xa tôiquá sông quê…quá bờ tre và tất nhiên là quá thói quen nữa.

Ở “Giấc ngủ con người”, Nguyễn Tấn Việt thật tinh tế về mặt mỹ cảm. Ông đã cảm nhận được, phát hiện ra được và chỉ ra được cái khác thường trong cái bình thường qua một người ngủ ngồi mà nhiều người làm thơ dễ bỏ qua:

Tay buông lỏng

Như vừa buông một cánh chim bay

Bờ mi khép vào gương mặt mở

Giấc ngủ sâu – nước lặng hồ mây

Anh ngủ ngồi – thai nhi trong bụng mẹ…

Với Nguyễn Tấn Việt, người đang ngủ ngồi ấy đang làm cái việc lồng một khoảng đêm vào ngày một cách thoải mái, vô tư. Không chỉ bằng thị giác mà bằng cả khứu giác nữa, Nguyễn Tấn Việt đã phát hiện ra vẻ đẹp của giấc ngủ và hương thơm giấc ngủ một con người. Cho nên nói theo cách nói của nhà thơ Hoàng Đức Lương (Việt Nam, thế kỷ 15) thì thơ là “màu sắc ngoài mọi màu sắc, không thể ngắm bằng con mắt thông thường; là mùi vị ở ngoài mùi vị thông thường; chỉ có chính nhà thơ mới có khả năng nhìn ra màu sắc ấy và nghiệm thấy mùi vị ấy”, đến nay vẫn còn thuyết phục.

Nguyễn Quang Thiều cho rằng hai câu: “Nếu không yêu mặt đất/ Trên trời mây không bay trong “Những người sống trong mây” là nguyên lý cho mọi sáng tạo”. Điều đó ngỡ phi lý mà vẫn có lý, có xuất phát từ tấm lòng của một thi sỹ đích thực trước vạn vật với tình yêu thương. Nhưng khi đọc hai câu thơ này, tôi lại nghĩ thêm rằng: Xét đến tận cùng, về mặt bản thể, con người và vũ trụ (cả thiên nhiên nữa)  vốn hợp nhất, vốn là một. Và tôi nhớ đến ý một câu thơ của một tác giả nước ngoài được viết trước công nguyên, tiếc không còn nhớ tên: Bạn đừng nghĩ khi ngắt một ngọn cỏ trên mặt đất/ Mà những đám mây trên trời không đau. Một sự gặp gỡ rất ngẫu nhiên giữa nhà thơ xưa và nhà thơ nay, ngẫm đi ngẫm lại thấy thật thú vị và không khỏi giật mình. Thậm chí còn thấy thảng thốt nữa.

Nhưng thơ Nguyễn Tấn Việt không chỉ có thế. Trong “Những người sống trong mây”, độc giả có thể đánh dấu khuyên vào nhiều câu thơ khác, nhiều bài thơ khác  trong “Hoa trắng mùa đông”, “Nỗi niềm”, “Hoa giả”, “Bên lề đường”, “Con người ta lạ thế”, “Người vô vàn”…

Đây là ví dụ thứ nhất: Cùng đi hết lòng nhau/ Cùng gập ghềnh đồi núi/ Hoa xưa còn nguyên mới/ Người nay thành người xưa…/ Ta, hồng còn nguyên gió/ Mình, thắm còn nguyên hoa.

Đây là ví dụ thứ hai: Tôi dỗ núi đừng đá/ Tôi dỗ rừng đừng cây/ Và gió ơi đừng vàng/ Và đá ơn đừng đổ mồ hôi/ Và người ơi, hãy tập quên tiếng khóc/ Tất cả đều nghe tôi/ Không đá/ Không vàng/ Thế mà khi tôi xanh quá/ Nào ai dỗ nổi tôi đâu.

Đây là ví dụ thứ ba: Một chút hoa giả được/ Phải làm hoa không mùa/ Hương sắc giả làm hoa/ Cho vơi đi giấc lá/ Một lần hoa đêm xưa/ Cho vơi đi nỗi gió/ Lạnh đoạn đời không hoa/ Đời còn chơi hoa giả/ Thì hoa thật còn hoa.

Đây là ví dụ thứ tư: Hóa ra ngàn cuộc hành trình/ Đều đuổi theo làn khói mỏng/ Chung quy cả thế gian này/ Ai không đuổi hình bắt bóng.

Đây là ví dụ thứ năm: Khi có em em chỉ là một nửa/ Khi không em em hóa vô vàn.

Nhà thơ – nhà phê bình Đặng Huy Giang

Trong nỗi nhớ làng xưa, người cũ: Đêm hai nghìn sáng bừng nước mắt/ Giọt lệ lăn về đâu (“Làng tôi năm 2000”), với Nguyễn Tấn Việt, đức tin trong ông  không bao giờ thay đổi. Ông luôn tin vào con người:

Từ bến quê hoa cỏ

Qua sông suối xa xôi

Ai gọi ngoài bốn bể

Ai vọng đến năm trời

Chỉ có con người thôi

Chỉ có ở con người

Chỉ có con người thôi.

(“Chỉ có ở con người”)

Mấy câu: Chỉ có con người thôi/ Chỉ có ở người thôi/ Chỉ có còn người thôi như những tiếng vọng, vừa ngân nga, vừa ám ảnh không dứt. Ấy cũng là sự gửi gắm đến thống thiết vào con người.

Trở lại với “Cánh giang bay lẻ”. Trong khi đi tìm hiểu con giang cụ thể là con gì, tôi chợt nhớ đến một câu trong ca từ bài hát “Xa khơi” nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ rất gợi và có phần tâm trạng: Con giang chiều gọi bạn đường khơi. Một người am hiểu nói với tôi: Giang là một loài chim lớn như đại bàng, thường bay một mình ven biển…Có lẽ hình ảnh con giang trở thành hình tượng, biểu tượng nghệ thuật ở xứ ta hơi hiếm.

Với tôi, Nguyễn Tấn Việt chính là một cánh giang bay lẻ dọc đường thơ.

Phố Khuất Duy Tiến, cuối tháng 8.2021

ĐẶNG HUY GIANG

___________

* Tên ba tập thơ đã xuất bản của Trúc Thông.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *