“Cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành”

Vanvn- Từ hiện tượng đa tiếp nhận thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng, Hoàng Đăng Khoa trong bài viết “Cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành” đã khẳng định động hướng tất yếu của thơ, là cần phải đổi mới, đổi mới để tồn tại.

Nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa 

Thi đàn Việt Nam một trăm năm qua liên tục chứng kiến những kỳ cuộc tranh luận, thậm chí là luận chiến, dẫn đến phân hóa chia rẽ sâu sắc và mãnh liệt cộng đồng đọc, giữa/về “thơ cũ” và “thơ mới”, “thơ có vần” và “thơ không vần”, “thơ chính trị” và “thơ phi chính trị”, “thơ dòng chữ” và “thơ dòng nghĩa”, “thơ tháp ngà” và “thơ nghĩa địa”, “thơ salon” và “thơ vỉa hè”… Đối với một hiện tượng văn học gây tranh cãi, cần phải xem xét soi sáng nó cả trên chiều đồng đại và lịch đại. Có nghĩa là, một mặt cần “lập biên bản” việc nó đang được/bị đọc như thế nào, mặt khác cần lần giở lại “hồ sơ” xem nó đã từng được/bị đọc ra sao. Khảo sát diễn trình tiếp nhận sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong đời sống lịch sử của một hiện tượng văn học nói chung, tác phẩm văn học nói riêng. H.R.Jauss có lần phát biểu, rằng không thể hiểu được nghệ thuật nếu chỉ nhìn vào tác phẩm, vào hành vi sáng tạo ra nó.

Chẳng hạn, khảo sát lịch sử tiếp nhận thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng sẽ góp phần trong việc đi đến nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện thỏa đáng khách quan những đóng góp của các nhà thơ này vào công cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca dân tộc. Cũng từ kết quả khảo sát thực tiễn tiếp nhận thơ của nhóm nhà thơ kể trên, có thể phóng chiếu một cái nhìn lên ngổn ngang bộn bề thực tại thơ cách tân Việt hiện thời, từ câu chuyện sáng tác cho đến những câu chuyện lý luận, tiếp nhận, nghiên cứu, phê bình, tất cả vì sự tiến hóa phong phú của thi ca.

Từ cuối những năm 80 thế kỉ XX, khi một số thi phẩm “lạ” như Ba sáu bài tình (Lê Đạt – Dương Tường), Nga bin, Người đi tìm mt (Hoàng Hưng), Bóng ch (Lê Đạt), Bến l, Ô mai (Đặng Đình Hưng)… được công bố, chúng lập tức gây nhiều tranh cãi, nhiều chiều hướng tiếp nhận. “Vô nghĩa”, “hũ nút” hay “có nghĩa”, “tạo sinh nghĩa”? “Phá chữ” hay “phu chữ”? “Làm bẩn chữ” hay “dân chủ chữ”, “táo bạo chữ”? “Vong bản” hay “dân tộc”? “Nhai lại bã phương Tây” hay “học hỏi cái mới phương Tây”? “Vác thang hiện thực chạy bộ” hay “vỗ cánh siêu thực bay”? “Cách tân” hay “giết thơ”? “Thơ đến tận cùng” hay “phản thơ”?… Những làn sóng tiếp nhận cứ thế được đẩy về đầu mút của hai thái cực. Nhìn kỹ vào bức tranh thực tiễn tiếp nhận thơ của các nhà thơ này khoảng hơn ba thập kỷ qua, có thể nhận thấy, càng ngày, làn sóng ghi nhận công nhận càng tỏ ra thắng thế.

Đi tìm bản diện của tác phẩm không thể là việc của một người và trong một lúc. Sự cách tân thiếu đồng bộ (giữa nội dung và hình thức), không đồng đều (giữa các câu/ đoạn trong một bài, giữa các bài trong một tập), sự thiếu đồng đều trong tầm đón nhận của người đọc, bối cảnh lịch sử vừa thuận lợi vừa bất lợi khi những tập thơ trình làng, sự mơ hồ đa nghĩa của ngôn từ thơ (nhất là thứ thơ chối từ “biểu nghĩa”)… là những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng đa tiếp nhận thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng.

Tác phẩm khi được công bố thì nó là một sinh thể, độc lập với tác giả, số phận của nó hiện ra theo cách đọc của từng độc giả. Một thời đoạn lịch sử bất kỳ đều là sự chung sống của nhiều thế hệ khác nhau, mà mỗi thế hệ lại có hệ quy chiếu, thị hiếu, năng lực thẩm mỹ, cách kiểu đọc không giống nhau. Do vậy, thật khó để trừu xuất một tiếng nói chung về một tác phẩm. Roman Ingarden có lần đưa ra nhận định, rằng mọi tác phẩm văn học đều dang dở, luôn đòi hỏi sự bổ sung mà không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằng văn bản.

Văn bản thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng từ khi công bố đến nay luôn trong trạng thái động, luôn ở chế độ mở, có độ dày của hơn ba thập kỷ tiếp nhận, độ sâu độ rộng nhờ bối cảnh thế giới phẳng, mọi cánh cửa mở thông ra bên ngoài, khung nhận thức của người đọc dần được nới giãn bởi sự trương nở của các trường phái sáng tác cũng như lý thuyết.

Nguyễn Bỉnh Quân từng cho rằng: “Nhà thơ lớn, tập thơ lớn phải là những miền khí hậu riêng biệt. Ở đó kẻ hợp thì sảng khoái, khỏe khoắn, sung sướng, kẻ không hợp thì bức bối khó chịu, thậm chí sinh bệnh, kẻ chưa quen thì hắt hơi sổ mũi qua loa rồi quen dần và khám phá. Chỉ các miền khí hậu mới lạ mới thực sự mở rộng vương quốc của nghệ thuật, thi ca”(1). Theo ý nghĩa này thì thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng rõ ràng là những “miền khí hậu riêng biệt”, “mới lạ”, bởi đã thu hút mạnh mẽ dư luận công chúng, phân hoá dữ dội thành hai chiều hướng nhìn nhận, đánh giá như đã đề cập.

Nhà thơ Donald Hall có lần nói, rằng các thi sĩ tài hoa nhất sáng tạo những phương cách yêu thơ mới. Với ý nghĩa này, cũng có thể gọi Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng là những thi sĩ tài hoa. Bởi họ đang làm xuất hiện ngày một nhiều những độc giả yêu thơ họ, tìm đến với họ, khai mở những con đường mời vẫy mọi người cùng khám phá những kiến trúc thơ của họ. Sự xuất hiện những công trình bài viết của Thụy Khuê, Đỗ Lai Thuý, Đặng Tiến, Văn Giá, Trần Ngọc Hiếu… cho thấy sự trưởng thành ý thức phê bình và trình độ thẩm định thơ của giới tiếp nhận, nghiên cứu, phê bình văn học. Milan Kundera khẳng quyết: “Tất cả các trào lưu hiện đại đều cùng lúc chiến đấu cho nghệ thuật của mình lẫn chương trình thẩm mỹ của mình”(2). Theo đó, niềm vui của các nhà thơ tiên phong là niềm vui bình phương: niềm vui sáng tạo một bài thơ thách thức cái đọc nhân với niềm vui kiến tạo lớp người đọc mới.

Đây là cách nhà phê bình Văn Giá đọc bài thơ Tâm thc của nhà thơ Dương Tường:

“Bài thơ với một chú dẫn rất dài dưới nhan đề, để trong ngoặc đơn (viết sau trận bom B.52 mở đầu đợt tập kích chiến lược vào Hà Nội mùa Giáng sinh 1972). Bài thơ gồm hai câu, mỗi câu gồm hai chữ được bố trí như sau:

trong im

im trong

Với bài thơ này, việc phóng đại chữ cái o như trên, có thể gợi cho chúng ta nghĩ đến hình thù những vòng khói bom, những vòng tang, những quả bom, những cái đầu, những tiếng kêu, những cái miệng, những khoảng trống rợn ngợp… Đây là cách sắp đặt có khả năng gợi nghĩa. Nếu giả dụ đem thu nhỏ chữ o lại như bình thường thì những khả năng nghĩa như trên sẽ bị thu hẹp hoặc bị triệt tiêu. Và như vậy, có thể gọi đó là một minh chứng cho cái gọi là hình thức có tính tất yếu, nghĩa là nó duy nhất tương hợp với các khả năng nghĩa mà nó gợi ra”(3).

Còn đây là cách nhà phê bình Thụy Khuê đọc bài thơ Ph Li của nhà thơ Lê Đạt:

Vườn nng mt gió bay mùa hoa ci

Bóng lá răm ngày Phả Li đng cay

Hai câu 8 chữ, tổng cộng 16 chữ. Trong 16 chữ này không có chữ nào bóng bẩy, mạ kền, không có chữ sang, chữ diện, toàn những chữ tầm thường mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ ngõ ngách nghèo nàn nào trong chợ chữ. Nhưng nếu thử vài động tác chuyển hoán vị trí của chúng trong hai câu:

Vườn nng mt gió bay mùa hoa ci

Bóng lá răm ngày Phả Li đng cay

thành:

Vườn lá răm gió bay mùa hoa cải

Bóng ngày ph li nng mt đng cay

hay:

– Bóng nng mắt răm gió ngày phả li

Vườn lá bay mùa hoa ci đng cay

– Vườn mt bay mùa hoa ngày ph li

Nng bóng răm gió lá ci đng cay

– Mắt ngày đắng cay bay mùa hoa ci

Ph lại vườn răm bóng lá gió bay

– Ðng cay hoa ci nng gió Ph Li

Vườn răm mùa lá ngày bóng mắt bay

– Ðng cay lá răm nng ngày ph li

Vườn mùa hoa gió bóng ci mt bay

– Ðng ci cay hoa mt ngày mùa nng

Lá vườn ph bóng gió li răm bay

v.v…

Tính theo toán học 16 chữ này có thể hoán vị giai thừa (factoriel) 16 thành một tổng số khổng lồ những câu thơ khác nhau. Khi ấy sự biến hình của 16 chữ có thể trở thành vô tận và như thế hai câu thơ Ph Li trên đây cho ta cái cảm tưởng không chỉ ngắm một vườn cải, vườn răm trong ngày nắng Phả Lại, mà dường như ta đứng trước một không gian ảo: thiên nhiên mang tâm cảm và thị giác con người đang phân thân làm nhiều mảnh, rồi tự xếp lại thành những cảnh khác, những tình huống khác, cứ như thế, như thế… Từng mảnh cảnh và tình tự do tung bay như tranh Chagall dưới sự hướng dẫn của một nhà ảo thuật vô hình: tụ hợp, li tan không ngừng trong khoảnh khắc không gian và thời gian lạc mất và tìm lại trong nhau.

Ðó là sự cách tân mới nhất trong phép tạo hình thơ Lê Đạt”(4).

Dĩ nhiên, không phải bất kỳ sự tìm tòi hình thức nào cũng thành công (cũng như không phải bất kỳ sự thay đổi nào trong thơ cũng mang ý nghĩa cách tân nghệ thuật), nhưng Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng, với việc tự vượt lên những giới hạn thi pháp truyền thống, “tháo cũi chân mây” (chữ của Trần Dần), “cất lời cùng mọi người bước ra khỏi cái tiểu vũ trụ của ngôn ngữ quen thuộc và thường là ít nhiều lỗi thời” (lời của Lê Đạt), tự “đp vn mình ra mà ghép li/ nung chy mình ra mà tìm lõi/ xé toang mình ra mà kết cấu” (thơ của Nguyễn Lương Ngọc), tìm kiếm những lối đi nghệ thuật nhiều khi đầy chông chênh, bất trắc, phiêu lưu, đó phải là kết quả của một sự tự giác nghề nghiệp cao độ. Các nhà thơ này đã dũng mãnh vượt thoát những barie hữu hình và vô hình, dẫu chịu nhiều trở lực. Họ làm lung lay, bất an những quán tính viết và đọc thơ. Và đặc biệt là họ tạo được trường ảnh hưởng. Chẳng phải câu chuyện cách tân thơ vẫn chưa hề nguội tính thời sự hôm nay được khởi nguồn từ lao động chữ của Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng hay sao? Lao động trên địa hạt chữ của nhóm nhà thơ này không thuần tuý là trò chơi, đó thực chất là cuộc đấu tranh để khẳng định sự hiện diện của cái tôi nghệ sĩ trước xu hướng cộng đồng hoá cá nhân và đại chúng hoá thi ca nghệ thuật.

Lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại xác nhận rằng không ai có thể hiểu hoàn toàn đúng về tác phẩm, không có ý kiến phát biểu duy nhất đúng về tác phẩm. Hơn thế, dù động cơ như thế nào, thì đọc “nhầm” là một hiện tượng phổ biến: khen nhầm cũng như chê nhầm. Mà “tác phẩm văn học như là quá trình” (tên một cuốn sách của nhà lý luận văn học Trương Đăng Dung), cứ mở ra theo từng cái đọc. Có nghĩa, nó là cái-đang-là, chứ không phải là cái-đã-là. Vậy nên, thái độ khả dĩ đối với phê bình văn học hiện nay là thái độ đối thoại trong ôn hòa, trong bầu khí quyển dân chủ, lành mạnh, thuần văn học. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử phát biểu: “Phê bình văn học cũng như văn học đều thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn, khoa học về đời sống tinh thần, về chủ thể của con người. Làm khoa học nhân văn thì cách tiếp cận cũng phải nhân văn mới tránh khỏi cọc cạch”(5). Sinh thời, chính nhà thơ Lê Đạt cũng phát biểu: “Một trong những nguyên lý đáng nể nhất của tư duy hiện đại là đã vượt qua thời nguyên lý loại trừ bước sang kỷ nguyên của nguyên lý bổ sung. (…) Nguyên lý bổ sung cung cấp cho vận hành tư duy hiện đại một vế thứ ba (ngoài hai vế đúng/ sai): cái khác. Cách hành xử của nó là đối thoại. Phong thái của nó là cởi mở, dung nhận, thực sự cầu thị, bình đẳng và đoàn kết”(6).

Mỗi thi phẩm là một sáng tạo đơn nhất, không lặp lại. Không thể có một lối đi dành chung cho hai nhà thơ. Cuộc tìm tòi, thử nghiệm để làm mới thơ sẽ không có điểm dừng bởi biên giới của thơ không ngừng được cơi nới. Tuy nhiên, cái mới không thể cất cánh từ chân không, mà bệ phóng của nó phải là căn nền truyền thống dân tộc và sức đẩy của nó phải là những ngọn gió tinh hoa đông tây kim cổ. Thơ Việt cần tỉnh táo, bản lĩnh đi ra thế giới theo cách của mình, phù hợp đời sống Việt, tâm hồn Việt, văn hoá Việt, ngôn ngữ Việt. Những sản phẩm cách tân thành công thì sẽ xuyên qua/ bất chấp các định kiến, can gián, kháng cự để tồn tại. Hãy học theo tinh thần của “phu chữ” Lê Đạt: “Cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành”.

Đổi mới để tồn tại luôn là con đường tất yếu của thơ. Thơ hôm nay đang bung trổ, tràn ra ngoài những định nghĩa, những hệ hình lý luận về thơ đã được đóng khung, quy phạm hóa. Vậy, lí luận về thơ cũng phải hướng đến một tư duy động và mở, vươn lên một tầm cao mới thì mới có thể theo kịp sáng tác, mới có thể khái quát, ôm chứa thực tiễn lịch sử mới của thơ. Một cách thế khả dĩ trong bối cảnh hiện nay là đa dạng hóa lý thuyết về thơ, để cho các lý thuyết khác nhau có cơ hội tương tác, tương liên, đối thoại. Mỗi lý thuyết tương thích, vừa khuôn với một cách thơ, là chìa khóa khả dụng để thông mở vào cách thơ đó. Và như vậy, lúc này, phê bình, như một bất khả cưỡng, cũng phải vươn mình tiến hóa để đi trước, đi cùng, đi kịp thực tiễn sáng tác tràn viền. Cynthia Freeland nói: “Một diễn-giải-hay phải dựa trên nền tảng lý tính và bằng cớ, cũng như phải cung cấp được một sự thấu tỏ phong nhiêu, phức hợp và có tính sáng tỏ vào nghệ phẩm. Đôi khi diễn giải có thể chuyển hóa một kinh nghiệm thưởng lãm nghệ thuật, từ đầy ác cảm thành ra hân hưởng và thấu hiểu”(7). Một khi lý luận về thơ được nới lỏng, một khi phê bình thơ đủ sức nhập cuộc, góc nhìn, hướng nhìn, tầm nhìn được chuyển dịch, thì cả cái viết và cái đọc sẽ được trình hiện dưới một sắc diện mới.

HOÀNG ĐĂNG KHOA

——————–

  1. Dẫn theo Lê Đạt, Đi thoi vi đời & thơ, Nxb Trẻ, 2008, tr.207.
  2. Milan Kundera, Mt cuc gp g, Nguyên Ngọc dịch, Nxb Văn học & Nhã Nam, 2013, tr.169-170.
  3. Văn Giá, Để thơ ca có một hình thc mang tính tt yếu, http://www.thovn.com/luutru/index.php?menu=detail&mid=50&nid=1694
  1. Thụy Khuê, Cu trúc cách ly trong “Ngó li” ca Lê Ðt, http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n0ntn0n31n343tq83a3
  1. Trần Đình Sử, Tuyn tp, 1+2, Nxb Giáo dục, 2005, tr.326.
  2. Lê Đạt, Đi thoi vi đời & thơ, Nxb Trẻ, 2008, tr.10-11.
  3. Cynthia Freeland, Mt đ dn v lý thuyết ngh thut, Như Huy dịch, Nxb Tri thức, 2010, tr.250.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *