Cài hoa vào quá khứ của nhà văn

Vanvn- Nổi bật nhất trong 5 cuốn tiểu thuyết cuối đời của nhà văn Nguyễn Khoa Đăng là “Nước mắt một thời”. Hồi ấy tôi đã đọc nó còn ở dạng bản thảo. Truyện dựng lại thời cải cách ruộng đất sôi động ở miền Bắc. Tôi đặc biệt thích thú về những chi tiết trong tác phẩm, nó cực kỳ ấn tượng, rõ là người trong cuộc mới có được những chi tiết đắt giá như thế...

Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng (1941 – 2022)

 

>> Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Khoa Đăng

>> Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng: Viết giữa những cơn đau

>> Nguyễn Khoa Đăng: Nhà văn khóc với nhà nghèo!

 

Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh ngày 01.9.1941, quê quán Hòa Bình, Vũ Thư Thái Bình. Ông từng có thời gian dạy học ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Sau hòa bình ông chuyển về công tác tại Hội Văn học nghệ thuật Kiên Giang và thành phố Hồ Chí Minh. Ông sáng tác văn học rất sớm, ngay từ khi đi dạy học ở Thái Bình, càng có tuổi ông càng viết khỏe với nhiều thể loại như thơ, văn xuôi, kịch bản phim… thể loại nào ông cũng thành công, để lại nhiều dấu ấn  trên văn đàn.

Cuộc đời nhà văn Nguyễn Khoa Đăng có nhiều cái lạ. Hồi dạy học ở Thái Bình, sở trường là văn học, nhưng ông lại xin sang dạy toán và sinh vật cũng vì qúa ngưỡng vọng đến “nàng văn”, chỉ sợ không đủ tài hiểu thấu lòng nàng, sợ nàng buồn, nên chỉ “kính nhi viễn chi”. Rồi khi vào Kiên Giang, đang làm Phó chủ tịch Hội Văn nghệ thì được chủ tịch tỉnh chỉ định ông tham gia Hội thẩm đoàn, làm luật sư bào chữa tại tòa hình sự, mặc dù ông không qua ngành luật. Chỉ tại người ta thấy ông nói năng khúc triết, mạch lạc, lập luận logic, hiểu sâu về luật pháp. Cả hai việc trái nghề trên ông đều tỏ ra xuất sắc, dạy sinh vật thì chuyển những phần quan trọng sang văn vần ra làm cho học sinh dễ nhớ, thêm yêu thích môn học; làm “thầy cãi” có khi đem cả thơ Hồ Xuân Hương ra làm lập luận bào chữa. Ông “luật sư” bất đắc dĩ này đã dự 216 phiên tòa hình sự, bào chữa thành công cho rất nhiều thân chủ, phần đông họ là những người nghèo, được ông giúp đỡ một cách vô tư, làm cho dân Kiên Giang yêu mến và biết ơn.

Lúc trẻ thì ông nổi tiếng bởi thơ thiếu nhi, nhất là bài thơ “Em đi giữa biển vàng”. Bài thơ nhí nhảnh, hồn nhiên hợp với lứa tuổi thiếu nhi: “Em đi giữa biển vàng/ Nghe mênh mang trên đồng lúa hát/ Hương lúa chín thoang thoảng bay/ Hương lúa trĩu trong lòng tay/ Như đựng đầy mưa gió nắng/ Như mang nặng giọt mồ hôi/ Của bao người nuôi lúa lớn lúa ơi…” Bài thơ in trên báo Tiền Phong năm 1966 nổi tiếng đến nỗi nhiều người cứ nhầm ông với thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, ông bèn đổi tên thật Nguyễn Đăng Khoa thành Nguyễn Khoa Đăng. Bài thơ trên  được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ nhạc, các em nhỏ yêu thích, được phát liên tục trên đài phát thanh, trên truyền hình, đặc biệt là trong chương trình “Giai điệu tự hào” được hội đồng bình luận hết lời khen ngợi, đánh giá rất cao. Năm 2000 bài hát được bình chọn trong top 50 bài hát viết cho thiếu nhi hay nhất thế kỷ XX.

Khi về già ông lại nổi tiếng bởi giữ chuyên mục “Gỡ rối tơ lòng” dành cho lớp trẻ trên tạp chí. Lúc đã ngoài 70 tuổi ông lại là diễn viên thứ chính xuất hiện liên tục trong bộ phim truyền hình “Lấy chồng Hàn” dài đến 30 tập. Phần đông các nhà văn viết khỏe lúc còn trẻ hoặc giai đoạn trung niên, Nguyễn Khoa Đăng lại viết khỏe, cho ra đời 2 kịch bản phim nhựa là “Giai điệu xanh” và “Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc” (Xí nghiệp phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh sản xuất) phim được công chiếu, đình đám một thời cùng 5 cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông ở tuổi ngoài 70, trong lúc bệnh gout, rồi di chứng bệnh đột quỵ… hành hạ làm ông khốn khổ. Trong 5 cuốn tiểu thuyết cuối đời của ông, lại chủ yếu viết về quê hương ông, thời cải cách ruộng đất, tranh chấp đất đai… đúng như ông đã tự bình luận; “Nhà văn cớ sao phải đi ra khỏi nhà mình, khỏi thôn xóm, huyện xã, thị trấn, thị xã… mình đang ở, thậm chí gắn bó với nó từ thuở lọt lòng, cứ phải đi theo tổ chức… mới gọi là đi thực tế? Tôi tâm đắc với câu “Hãy giẫm nát mảnh đất dưới chân mình, đề tài ở đó”. Bởi quan niệm như vậy ông đã “giẫm nát” mảnh đất quê hương ông, viết nên những tác phẩm có giá trị thực tiễn, đầy hình tượng nghệ thuật như “Ngõ tre rì rào”, “Khúc tâm tình bi tráng”, “Nước mắt một thời”.

Nhà văn Bút Ngữ dẫn lại bài của Nhà giáo Biên Linh viết về “Ngõ Tre rì rào” đăng trên báo Bình Phước như sau : “Cuốn sách gần 200 trang đưa người đọc về với cuộc sống của người dân một làng quê Bắc bộ những năm chống Mỹ cứu nước, với những con người hiền lành nhân hậu, sống yêu thương trong đạo lý làm người…bắt đầu từ những sự kiện có thật trong gia đình mình, quê mình để khái quát thành câu chuyện của bao số phận, hiện thực bi thương của đất nước của dân tộc trong chặng đường lịch sử đã qua. Nhà văn đã lần theo dòng chảy của những năm tháng chống Mỹ, tựa vào sự kiện lịch sử, sự thật của cuộc sống và dồn những tình cảm xót thương của mình để viết nên những trang văn thật ám ảnh và da diết… Tiểu thuyết “Ngõ tre rì rào” là một khúc tâm tình bi tráng. Tác phẩm không dừng lại ở mức độ phản ánh hiện thực, mà đã chuyển tải sự thực lịch đến với người đọc bằng cảm xúc máu thịt, bằng tài năng nghệ thuật của người cầm bút, đã nâng giá trị  của tác phẩm đến với ý nghĩa và giá trị lớn hơn. Đó là làm sống lại lịch sử, sống dậy những tâm hồn, những lẽ sống cao đẹp. Quả là lịch sử đã đi qua, nhưng văn chương còn mãi mãi”.

Nổi bật nhất trong 5 cuốn tiểu thuyết cuối đời của nhà văn Nguyễn Khoa Đăng là “Nước mắt một thời”. Hồi ấy tôi đã đọc nó còn ở dạng bản thảo. Truyện dựng lại thời cải cách ruộng đất sôi động ở miền Bắc. Tôi đặc biệt thích thú về những chi tiết trong tác phẩm, nó cực kỳ ấn tượng, rõ là người trong cuộc mới có được những chi tiết đắt giá như thế. Nói chung đọc cuốn tiểu thuyết này dễ bị ám ảnh bởi chi tiết được tác giả chắt lọc, làm người đọc nhớ, vừa đau đớn vừa thương cảm cho các nhân vật bị sự ấu trĩ một thời gây ra. Cuốn tiểu thuyết không nhằm tố cáo ai mà chỉ muốn chúng ta nhìn vào đó để rút kinh nghiệm, đừng để lặp lại một lần nào nữa, đó cũng là mong mỏi rất nhân văn của tác giả. Cuốn tiểu thuyết được độc giả đón nhận, truyền tay nhau đọc, nhất là ở quê hương Thái Bình của ông.

Đã có Vũ Thị Thu Trang, học viên cao học Văn học Việt Nam K11 lấy tiểu thuyết “Nước mắt một thời” của nhà văn làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Trong luận văn của mình Vũ Thị Thu Trang viết: “Người ta gọi Nguyễn Khoa Đăng “Xứng đáng là một nhà văn anh hùng, khi cầm bút ghi lại những năm tháng đau thương mà sôi động của đất nước”. Với bản lĩnh và phí phách của những nhà văn xác định vai trò thư ký thời đại, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đã dũng cảm ghi lại cái thời đầy bùn, máu, nước mắt của dân tộc. Vượt khỏi giá trị văn chương, “Nước mắt một thời” còn góp phần minh họa cho lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp qua những bài học xương máu của dân tộc. Bao nhiêu đăng cay, bao nhiêu uất nghẹn, bao nhiêu sợ hãi, bao nhiêu căm thù đều được thể hiện trên trang giấy. Nhưng “Nước mắt một thời” không rơi vào khuynh hướng bôi đen, phủ nhận lịch sử. Tình yêu, sự thủy chung, sự bao dung và lòng nhân ái đã làm cho độc giả nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm để mà đi theo, để mà hy vọng. Độc giả khóc khi nước mắt một thời. Nhưng khóc bằng tinh thần lạc quan và tư duy cách mạng. Đó là tính nhân văn sâu sắc của tác phẩm”.

Còn trong bài “Công án thiền với “Nước mắt một thời”, Tiến sỹ Lê Thanh Hải (Khoa Triết và Xã hội học – Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan) nhận định: “Nước mắt một thời”… xứng đáng được đưa vào danh sách các tác phẩm cần đọc thêm trong chương trình bình giảng văn học để học sinh tiếp nhận kỹ năng sáng tác. Với tôi, cuốn truyện “Nước mắt một thời” chắc chắn sẽ là bài tập đọc bắt buộc cho sinh viên ngành Việt Nam học, đặc biệt là sinh viên người nước ngoài hay gốc Việt tìm hiểu về Việt Nam. Có rất nhiều điểm tương đồng giữa tác phẩm văn học của Nguyễn Khoa Đăng và những công trình khoa học nghiên cứu chính trị xã hội của triết gia Hannah Arendt, người nổi tiếng với các phân tích về hành vi tội phạm khi người ta lên đồng tập thể”. Nổi tiếng như thế nên tiểu thuyết “Nước mắt một thời” đã hai lần dịch sang tiếng Pháp, được hai Nhà xuất bản ở Paris ấn hành.

Quả là “Nước mắt một thời” đã trở thành “đẹp hơn nước mắt” cho chúng ta hôm nay. Kỷ lục của nhà văn là cuốn  “Cài hoa vào quá khứ” (Nhà xuất bản Thanh Niên) tái bản đến 13 lần, có lần in đến 5000 cuốn. Có truyện đã được đưa vào sách giáo khoa lớp 9. Đến nay ông đã xuất bản 22 tác phẩm gồm tập truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim…

NGUYỄN NGỌC

Văn Nghệ số 40/2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.