Bến vắng – nhịp thời gian trong thơ Phùng Quang Thuận

Vanvn- Phùng Quang Thuận, kỳ vọng và gửi gắm điều gì qua những con chữ chắt chiu ắp ủ bao năm? Và, cũng bởi chắt chiu ắp ủ, thơ họ Phùng đầy nhịp dư vị tiệp màu thời gian. Con chữ thơ, khác chi con thuyền luân lạc mang nỗi hoài hương da diết quay về cố thổ Bến vắng. Đó là, tên thi phẩm Bến vắng của họ Phùng chào đời giữa trùng vây Covid-19 trên khắp miền đất nước, do nhà xuất bản Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, quý II, năm 2021.   

Nếu, bạn trông chờ lối mỹ từ phổ biến hiện nay, bạn tìm kiếm một đường hướng cách tân thúc đẩy thơ ca tấn tới thì có lẽ không bắt gặp Phùng Quang Thuận. Còn nếu, bạn tìm đường trở lại quê cũ, tâm can thắt thẻo niềm thương nỗi nhớ chốn xưa thì bạn, đủ lắng và đọng để tĩnh tại cảm nghiệm nhịp thời gian trong thân tâm. Bấy giờ, bạn có thể nhận ra họ Phùng giữa mịt mù hư ảo đời sống như cánh chim phiêu bồng bay giữa khung trời hoài niệm

1. Muôn nẻo đường tình

Tình mẹ

Tâm hồn và thể xác thống nhất như nội dung và hình thức. Chuyển tải tình mẹ và tình quê không cách nào bằng cách thế chân thành. Trở về – âm vang hai tiếng ấy – , an trú trong lòng mẹ và tình mẹ; người thơ họ Phùng vẫn giữ nguyên hình hài ban đầu – chân tâm thuở lọt lòng – . Danh lợi cõi người chỉ là phù phiếm, đáng gì trước lòng mẹ. Rũ bỏ hết để trở về bản nguyên sinh hiện.

Lòng mẹ như biển cả

Con chỉ là hạt sương

Nghìn kiếp không thể trả

Dù con là đế vương…

(Mẹ, tr.4)

Bến vắng – tập thơ của Phùng Quang Thuận

Mẹ, là cội nguồn, là bến bờ giúp con vin lấy không lạc nẻo lầm đường trên bước đường đời buôn ba nơi đất khách quê người. Đêm thanh vắng, bản nguyên tình mẹ trong con trỗi dậy, thức tỉnh lương tri xua tan giấc mộng hư vinh giữ được tình mẹ, mai sau còn lối quay về:

Nửa đêm giữa phồn hoa

Bỗng thương gà nhớ vịt

Nhớ quê nghèo tịch mịch

Nhớ nước mưa ngọt ngào

Nhớ mẹ già tóc bạc

Chờ con giữa vườn rau …

Bất giác chợt bừng tỉnh

(Sài Gòn nửa đêm, tr.5)

Tình mẹ, ngoài sự vĩ đại của đấng sanh thành còn tạo điều kiện giúp con định vị bản thân giữa đời sống. Bóng hình mẹ gắn với bến vắng quê nhà, chỗ neo đậu tâm hồn, nơi con nhận diện được chính mình trong cuộc mưu sinh. Ngày cha mẹ lặng lẽ bỏ trần gian, cũng là ngày con rơi vào vòng đời luân lạc và bơ vơ giữa vận thế đầy vợi

Mẹ đã đến thiên hà bát ngát

Cha về ngàn đỉnh đá xa xôi

Nơi trần thế đàn con linh lạc

Người mỗi phương trôi dạt tơi bời

Đường quê cũ tuổi già ngăn lối

Anh chị em gối mỏi lưng còng

Ngày cuối năm vọng về cố thổ

Nhớ Mẹ Cha ngửa mặt ngó trời

(Ngẩng nhìn trời, tr.14)

Phùng Quang Thuận, không khoa phóng tình mẹ bằng những mỹ từ thống thiết. Họ Phùng, giữ đúng chân tâm, lời ăn tiếng nói hồn hậu của người sông nước miền Tây. Mẹ nhà thơ họ Phùng người làng Hòa Bình, quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Bà họ Lưu, cả đời sống trọn vẹn với ý nguyện: “Phần thịt thì để cho chồng/ Phần xương em gậm, phần lòng cho con” (Ca dao miền Nam). Do vậy,

Phùng Quang Thuận không dám khoa phóng tình mẹ bằng những mỹ từ thống thiết mà chỉ cố giữ bền tính dung dị, giữ chắc chất chân thật của người mẹ. Và, nhờ đó, bóng hình mẹ trong thơ họ Phùng dẫu không mới nhưng đã chạm tới tình mẫu tử phổ quát trong cuộc sống con người.

Tình người

Người em siêu hình nào đó xuất hiện thường xuyên trong thơ Phùng Quang Thuận. Có thể, bóng giai nhân mơ ước! Nhưng, nếu nhìn rộng hơn, bạn đọc sẽ thấy đó là ẩn dụ/biểu tượng sự hồn nhiên đầy và tràn nhựa sống. Thông qua biểu tượng ấy, nhà thơ gửi gắm tình yêu cuộc sống. Tình người cũng là tình mình. Khi nhà thơ gửi tình đến người (tha thể), cũng là lúc thi nhân nhận lại nguồn tình (chủ thể). Chẳng trách, họ Phùng mải mê chìm đắm trong tình người, trải lòng với muôn người muôn nơi, đưa mình hòa vào tha thể. Do vậy, tình người trong chữ nghĩa họ Phùng như phóng thể sinh hiện, bởi lẽ sống căn cơ không thể không sinh tình. Sinh hiện cũng là sinh tình. Nhà thơ hồn nhiên sống với tình. Ấy là, những khi hồn thơ tinh khiết, lời thơ vằng vặc như ánh trăng:

Con đường đỏ hương nồng bay trong gió

Bảo Lộc bình an khoác áo thu vàng

Giữa hoang lạnh ngàn quỳ hoa nở rộ

Tôi ước thành con ong nhỏ lang thang

Thấm đẫm hương dã quỳ trên cánh mỏng

Bay tìm em kể mãi chuyện hoa vàng

(Mùa dã quỳ, tr.31)

Họ Phùng, không trau chuốt hay tìm kiếm tứ thơ độc lạ. Bởi, sự thành thực thuộc bản chất của đất rừng phương Nam, sông nước Cửu Long: hào sảng thay hào hoa, phóng khoáng thay phong lưu. Thơ họ Phùng hiển hiện trên chữ nghĩa như con ong hồn nhiên bay tìm mật ngọt của các loài hoa gọi mời – tình người muôn nơi. Và, họ Phùng, người đàn ông sương gió mải miết dặm trường.

Tình đời cùng nỗi biệt ly

Cõi sống với họ Phùng là chốn ly biệt muôn đời. Giữa người với người chẳng có gì ngoài cách biệt. Tương phùng hôm nay, ẩn chưa xa vắng ngày mai. “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”. Và, “Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn”[1]. Đời tan rồi hợp. Trăng tròn rồi khuyết. Gặp gỡ chẳng có nghĩa lý gì ngoài chia xa. Tình người hôm nay hãy ràng rịt quấn quýt hôm nay – ngày mai – ngày mai nào biết sẽ ra sao! – .Tình đời với họ Phùng chẳng khác gì “ga chiều” đưa tiễn.

Ta đứng sân ga đợi chuyến tàu

Thật tình không biết đợi bao lâu

Chẳng biết bao giờ tàu sẽ đến

Và sẽ đi về những nơi đâu!” 

(Ga chiều, tr.130)

Thi nhân chợt nhân ra bản chất muôn đời. Gặp gỡ rồi ly tan, chỉ trong đêm còn lại, mình đối diện với chính mình. Có lẽ, nữ sĩ Ngân Giang ngày trước với họ Phùng hôm nay chung cùng ám ảnh sân ga. Cõi người ta với tình người, chung quy cũng chỉ là trạm bến dừng chân thoáng chốc:

Tầu về rồi tầu lại đi

Khối vô tình ấy nhớ gì sân ga” 

(Ngân Giang nữ sĩ)

Và, họ Phùng:

Con tàu xưa cũ từ thiên cổ

Sẽ chở ta vào những đêm sâu

Sân ga hờ hững người đưa tiễn

Ly khách bơ vơ lặng cúi đầu” 

(Ga chiều, tr.130)

Con tàu thời gian của họ Phùng chở người vào bóng tối. Hình ảnh ẩn dụ cho bến đời tịch diệt mà hễ một lần chia cách khó mong cơ hội tương phùng. Cảnh tượng biệt ly còn gì lạ lẫm giữa trần thế. Đọc “Ga chiều” của Phùng Quang Thuận, chợt nhớ “Lâm giang tống Hạ Chiêm”, bài thơ của Bạch Cư Dị (772 – 846) tiễn Hạ Chiêm, người bạn già yếu thế vô gia cư:

Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu

Bảy mươi tuổi tác, cửa nhà đâu?

Buồn trông ngọn gió theo thuyền nổi

Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu

(Tản Đà dịch)

Về đâu? Cô độc nỗi tận cùng của cô đơn chỉ có sóng bạc đầu làm bạn với kẻ bạc đầu!

Ngàn năm trước, ngàn năm sau gặp gỡ càng thắm thiết thì ly biệt càng não nề. Mối giao tình xưa nay vẫn rơi vào hố thẳm lo sợ tan vỡ. Ám ảnh tan vỡ gắn liền với ám ảnh thời gian.

Ta tự trăm năm đến chốn này

Mất còn xem nhẹ tựa như mây

Vẫn biết lẽ đời là tan hợp

Vậy mà ly biệt mắt còn cay

(Ga chiều, tr.130)

Cảnh ngộ ấy, khiến ta nhớ:

Adieu jolie Candy
C’est à Orly
Que finissent
Les vacances à Paris

(Adieu jolie Candy, Alain Boublil và Michel Hursel)

Tạm dịch:

(Vĩnh biệt Candy xinh đẹp

Ở Orly

Đã qua rồi

Những kỳ nghỉ ở Paris)

Rồi, chợt dưng lòng nhớ:

Tiễn chân anh tận phi trường

Lỗi đi. Lỗi ở. Mười phương lỗi về

Mù sương phi cảng não nề

Thôi anh ở lại buồn về em mang

Tiễn anh một chén rượu tàn
Một bàn tay nắm một hàng lệ mau
Cuộc cờ thế sự binh đao
Phút giây tái ngộ ngàn sau biết còn

Môi em trong cảnh hao mòn
Một anh đất khách nhớ tròn tháng năm

Trời Tây rẽ bước âm thầm

Ngàn năm mỏi cánh chim bằng tha hương

(Khúc ly đình, Cao Thị Vạn Giả)

Phùng Quang Thuận cũng từng gặp phải cảnh ngộ “Tống biệt hành” như Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa sang sông,
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Hình thức cô đọng ngôn từ không đâu bằng thơ và cũng vì vậy, thơ dễ thấm ngấm vào tiềm thức (subconcious mind); đồng thời, nơi đáy tiềm thức dung chứa sự cô đơn mà rằng, cô đơn là bản diện hiện hữu của con người. Có lẽ, họ Phùng hiểu được điếu ấy nên biết tiết chế không vượt ngoài cảm khái xưa nay.

Tình quê

Từ lúc khai sinh, họ Phùng mang hai dòng máu Hoa – Việt nơi Bến vắng đất mẹ. Rồi, đất mẹ điêu linh, bao chàng trai cô gái “Nụ hôn vừa chạm làn môi/Thì làng quê đã bom rơi đạn cày” (Trống đình làng, Trần Bảo Định). Phùng Quang Thuận rời quê mẹ, không quay lại Trà Ban – nơi cha cất tiếng chào đời – , không trở về Quảng Đông – cội nguồn dòng tộc họ Phùng “phản Thanh phục Minh” – mà anh, khởi hành vào đường đời lưu lạc. Đời lưu lạc dường như chuỗi di truyền từ buổi ly hương vong quốc, cho tới cuộc diện nước Việt hậu bán thế kỷ XX. Kể từ tiếng khóc ban sơ, họ Phùng bắt đầu đưa thân chìm nổi giữa dòng đời. Càng lăn trở giữa đời sống, có lắm khi tha phương xa xứ, trái tim họ Phùng vẫn khôn nguôi nhớ quê mẹ Hòa Bình. Càng nhớ quê mẹ, chữ nghĩa của thi nhân càng sầu muộn, u hoài… và mạch nguồn ấy, chảy từ niềm hoài hương phảng phất Đường thi lăn tăn sóng vỗ chân cầu Bến vắng. Đêm thinh vắng, đâu đó lay lắt hình bóng Phùng thi sĩ xao động lồng bóng Trích Tiên Nhân. Mối cảm hoài từ “tĩnh dạ tứ” đến đêm cao nguyên Kon Tum cùng một riềng mối. Chân du tử như cánh diều bay mà lòng còn buộc chặt cố hương. Bước giang hồ chạnh niềm nhớ quê cũ khiến lòng kẻ lãng du sao tránh khỏi ngậm ngùi. Lạc loài đất khách, tấc dạ mang mang trơ trọi giữa trời đất mịt mờ sương khói. Biết ngó chốn phương nào ngoài nơi chôn nhau cắt rốn. Hình như, ánh trăng họ Phùng vọng nhớ cũng là ánh trăng hơn ngàn năm trước Lý Bạch đã cử đầu.

Chiều chưa tàn mù sương đã vương

Núi xanh xa cũng nhuộm sắc buồn

Phố lạnh đìu hiu chiều tịch mịch

Độc ẩm bên lầu tư cố hương 

(Kon Tum, tr.19)

Có lẽ, nét đìu hiu vắng lặng miền sơn cước đưa tâm hồn du tử trở về miền tịch liêu xóm cũ, thuở bước chân Minh Hương vừa đặt chân đến Đàng Trong, miền duyên hải trơ vơ vắng vẻ trong chiều chạng vạng tối còn hằn trong tâm thức họ Phùng. Nỗi nhớ cố hương của họ Phùng kéo dài đằng đẵng theo thời gian lịch sử, với những vĩ sử đời người trải rộng theo chiều kích không gian địa lý. Thân người bé nhỏ, vậy mà, hồn người chất chứa cả trời quê hương yêu dấu!

Nhớ quê, “Ray rức nhìn sao thức suốt đêm”. Phải chăng số kiếp Minh Hương của họ Phùng cũng là số mệnh lưu vong lạc loài của tộc Việt trải bao lần thiên di về phương Nam suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước. Những mảnh đời lạc loài như cánh chim bay giữa miền giông bão, cùng gặp nhau nơi dải đất nghĩa tình. Chim Việt trời Nam vẫn mãi ngóng trông phương trời cũ. Niềm hoài cựu thúc bách lòng người quay về cố thổ. Lưu dân khai phá đất phương Nam, trong số đó, hẳn có những cánh chim mất tổ vì tranh giật vương quyền. Hễ gió trở chướng, chim Việt liền bùi ngùi nhớ ngày Tết, lòng những rộn ràng lóng ngóng:

Chim thiên di về trong gió chướng

Bãi lầy xa gốc nhãn trơ già

Có phải bao hồn người khai phá

Trở về ăn Tết với quê hương” 

(Bạc Liêu, tr.23)

Chẳng biết thi nhân có chủ đích hay không, nhiều bài thơ viết cho quê nhà mang đậm dấu ấn văn hóa. Có lẽ, họ Phùng muốn tái hiện một cách chân thành và xúc động nét đẹp quê hương mình. Đó cũng là lẽ thường tình. Nơi nào đẹp cho bằng nơi chôn nhau cắt rốn. Nơi “vào cuộc trần ai khóc trước cười” (Làm quan bị cách, Nguyễn Công Trứ) và cũng là, nơi “sống gửi thác về”. Phùng thi sĩ nhắc đến quê hương bằng chất giọng hiền hậu rưng rưng cảm xúc. Kèm theo đó, các lớp văn hóa trên mảnh đất nối liền khúc ruột đến với độc giả, vừa trên phương diện cảm xúc vừa trên phương diện thông tin. Độc giả thử một lần cùng họ Phùng về miền Tây sông Hậu để cảm nghiệm tình người nghĩa đất Cửu Long.

Chúng ta sinh ra trong đồng lúa

Lớn khôn phiêu dạt bốn phương trời

Quê hương bên kia bờ sông Hậu

Mỗi lần về ăn Tết qua sông

Nước phù sa vẩy lên xao động

Lúa mùa xuân chín rộ trên đồng

Những đứa con của người khai phá

Mừng gặp nhau hò hét vang sông

Những đứa con đồng bằng hào phóng

Ra đi bao kẻ lại quay về?!

Như lục bình sinh trong bờ cạn

Nở hoa trôi theo dòng Mekong

Trên trường giang ngậm ngùi cố giả

Phù hoa khoe sắc bờ biển Đông!

(Bên kia bờ sông Hậu, tr.52)

Tình quê trong thơ họ Phùng biểu hiện ở nhận thức nguồn cội và ý thức giữ gìn hồn cốt quê nhà. Dẫu luân lạc, người xa quê càng thêm gìn giữ, để tránh mất gốc lạc bờ. Có vậy, trên bước đường tha phương không thấy xa lạ với chính mình. Giữa cuộc thế xô bồ hôm nay, không ít người vội thấy quê hương nghèo khó đã ngoảnh mặt và đôi khi, đành đoạn chối bỏ mảnh đất khai sinh.

2. Hàn sĩ hay du tử phiêu bồng

Chiếm phần lớn dung lượng tập thơ, Du Tử là “căn cước chữ nghĩa” khẳng định phong cách và cá tính thi sĩ của Phùng Quang Thuận. Trái tim kẻ lãng du chưa bao giờ thôi thổn thức. Nhứt là, trước những cái mới lạ của đời. Bàn chân họ Phùng dong ruổi khắp nơi trên cõi hoàn cầu. Không ít nơi đọng lại trong hồn thi sĩ cảm xúc riêng biệt. Chuyến du hành của Phùng thi sĩ, có thể nói là cuộc truy tìm những điều mới lạ. Nhưng, cõi đời nay, dẫu trải qua muôn triệu năm vẫn không thôi mới mẻ. Thế nên, bàn chân người thơ sẽ còn rong ruổi mải mê.

Về Bảo Lộc nhớ đồi trà bên chợ

Nhớ núi Đại Bình mờ mịt trong mây

Nhớ lũng Nam Phương với ngôi làng nhỏ

Có em K’Hor hào phóng ngực đầy

Trên lối mòn thấp thoáng giữa ngàn cây

Không mặc áo, cười hồn nhiên trong nắng

 (Về Bảo Lộc, tr.30)

Có điều, họ Phùng không nói hoặc chưa nói về những năm tháng nghèo khó sau ngày đất nước hòa bình. Một hàn sĩ ẩn mình nơi mình sinh ra, dạy học trường Bổ túc Văn hóa, Bạc Liêu. Rồi, buông phấn trắng rời bảng đen, tay cày tay cuốc khai hoang làm ruộng; giả từ cánh đồng vỡ hoang, họ Phùng buôn muối lậu thời “ngăn sông cấm chợ” và liệu không xong, chàng hàn sĩ họ Phùng gia nhập “đạo quân nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” chui rút trong rừng U Minh Hạ, lênh đênh trên biển Đông biển Tây… Khi biên giới Tây Nam ngút trời khói lửa chiến tranh, hàn sĩ họ Phùng bỏ cuộc sống bình yên, theo người chú thứ Chín – tức Chín Hoa kiều – xông vào đất giặc Pôn Pốt. Biên giới Tây Nam yên tiếng súng giặc thù, chàng hàn sĩ họ Phùng chuyển sang nghề du lịch và kinh doanh. Dù ở lãnh vực gì hay ở môi trường nào, họ Phùng vẫn giữ được khí chất của người cựu sinh viên Trường Đại học Văn khoa, Viện Đại học Sài Gòn.

Trải qua dâu bể, họ Phùng không như lắm người xem chữ nghĩa như cách chưng diện để trở thành bậc trưởng giả quý phái (Salon littéraire) và lắm kẻ muốn thành tài tử liền giở thói trêu cợt giai nhân. Cái mới lạ với Phùng thi sĩ có phải nét phồn thực. Có lẽ không! Bởi, cảm xúc còn đọng lại trong vài câu ngắn ngủi là tình yêu cuộc sống căng tràn. Thi nhân phát hiện và hòa mình vào cuộc sống đại ngàn hồn nhiên chất phác. Với họ Phùng, cuộc sống phải chân thật dung dị và gần gủi như thế. Giữa người và thiên nhiên không cách biệt, người chan hòa với thiên nhiên núi rừng. Từ đó, cuộc sống toát ra vẻ đẹp phồn thực, phóng khoáng. Du tử ở chỗ phóng khoáng, không phải ở cách thế quý phái, trưởng giả.

Khao khát xê dịch, bàn chân họ Phùng không chôn chặt chốn nào. Tinh thần du tử kết hợp lãng mạn và mong muốn trải nghiệm nhiều trạng thái khác nhau của đời người. Bàn thêm về xê dịch, Tuấn Thừa Sắc hồi nửa đầu thế kỷ XX đã trứ danh khắp miền Bắc Việt. Thế nhưng, với họ Phùng, càng xê dịch lòng người càng nhận ra quê hương trong con người mình. Quê hương càng đi xa càng sáng tỏ, đẹp đẽ. Dẫu xứ người hào nhoáng tân kỳ, nhưng trìu mến đằm thắm quê nhà không gì thay thế được. Đó là, điều khiến cho chân du tử không lạc lối, giữa phồn hoa đô hội. Lúc nào cũng vậy, quê nhà và hình bóng mẹ giúp cho họ Phùng định vị mình trên bước lãng du cùng trời cuối đất.

Ta đến Paris ngày đông giá

Tuyết rơi trên áo khách đường xa

Eiffel không biết ta vừa đến

Dòng Seine không biết ta vừa qua

Ta kẻ lữ hành từ xa lạ

Giữa Khải Hoàn Môn chợt nhớ nhà

Ta lặng ngắm mái nhà trắng xóa

Nhìn tuyết rơi rơi, nhớ Mẹ già” 

(Paris, tr.51).

Trên chuyến du hành, người thơ không khỏi bồi hồi khi đối diện với thời gian. Nhứt là, những phế tích cố đô thuở trước. Nỗi ngậm ngùi thời gian, nỗi thương tiếc thời thế. Ngẫm về sức lăn trở thời gian, họ Phùng bất giác hồi tưởng, suy tư:

Sen tàn trong hồ cạn

Rêu phong phủ đá hoa

Đền các giữa rừng già

Người vật đều hóa đá

 

Cảnh u tịch, huyền bí

Nơi tận địa thiên nhai

Mỹ lệ và hoang phế

Nửa trời, nửa trần ai” 

(Đền Angkor Wat, tr.43)

Có lẽ, khi còn ngồi ghế giảng đường dưới mái trường Đại học Văn khoa, Phùng Quang Thuận đã đọc nhận định về Angkor Wat của Henri Mouhot (nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp giữa TK.XIX), rằng “Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon và được một số Michelangelo thời cổ đại dựng lên – có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang mắc phải.”. Và, hẳn nhiên, người thơ họ Phùng không thể nào quên “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (Thăng Long thành hoài cổ – tuyệt bút – cùa Bà huyện Thanh Quan). Mối u hoài cựu thời đưa hồn người nhập vào vết tích thời gian. Dường như, họ Phùng trải nghiệm thăng trầm cùng quá khứ và nhận ra, biến cố thời đại đã từng xảy đến. Chợt lòng rộn lên lời truy vấn, chẳng biết tạo hóa vì nghĩa lý gì tạo ra cuộc biển dâu, biến đời sống yên bình ngăn nắp thành ngổn ngang chiến địa. Người đời họa theo mấy câu thơ của Ngân Giang nữ sĩ, chắc cũng chung cùng mối cảm hòa ấy chăng. “Thân không trời đất mà mưa gió/ Lòng chẳng binh đao cũng chiến trường”. Phùng thi sĩ điếng lặng trước phế đô và lúc ấy, người thơ hồn phiêu hốt đối diện với nhịp thời gian.

Bãi biển thành nương dâu

Đức vua giờ nơi đâu?

Hàng mãng xà bảy đầu

Còn chờ bao thế kỷ?

(Đền Angkor Wat, tr.43)

Sống tràn xúc cảm, trước ngoại vật nhà thơ dễ gì kềm hãm được sự rung động và đó, nét nổi bật của phong cách lãng mạn. Nếu du tử là thể, thì lãng mạn là dụng. Thơ họ Phùng thường nắm bắt ngoại vật để bộc lộ cảm xúc. Hay nói cách khác, nhà thơ gặp gỡ ngoại vật cho lòng mình tự vang lên tiếng thơ. Lòng dạ người thơ như thứ nhạc cụ vang lên thanh âm mỗi khi bắt gặp thế giới bên ngoài – nhứt là mưa -. Dấu ấn “nước” trong thơ Phùng thi sĩ có nét tương đồng cảm nghiệm “tình thơ” Hồ Dzếnh, lại có nét ẩn ức nếu nhìn theo lối phân tâm vật chất của Gaston Bachelard. Từ con nước Cửu Long đến cơn mưa muôn đời, hợp thành tâm hồn du tử. Và, ta hãy lắng nghe Mưa bong bóng từ tâm tư Hồ Dzếnh:

Trời mưa rồi trời mưa

Sân nhà đầy bong bóng

Hai tôi ngồi mơ mộng

Đếm mãi vẫn đương thừa

(…)

Bong bóng tàn theo mộng

Nhân duyên dần hết mùa

– Ai như Hiền áo trắng

Loáng thoáng qua hơi mưa?” 

(Mưa, tập Quê ngoại, 1943)[2].

Đến mưa rào rào của họ Phùng:

Mưa rào rào qua hàng cau thưa

Nhớ con chim nhỏ của ngày xưa

Đã bay đi mất vừa khô cánh

Quên chút tình người trong gió mưa”

(Mưa Sài Gòn, tr.67)

Và, cuộc lãng du ở đây không phải du lãng trên phương diện địa lý mà là du lãng trong tâm hồn. Mối giao cảm giữa mưa và người khiến thi nhân trải lòng, bước vào nội giới. Cùng với mưa, người thơ nhập vào mưa bay, thu ca, tóc mai, phố cũ, dư hương, mộng liêu trai, … bài thơ của họ Phùng sâu và nặng hơn mưa bong bóng phơn phớt của Hồ Dzếnh buổi đầu chớm nở nụ tình. Cơn mưa bay của họ Phùng cũng gợi nhớ mối tình cũ nhưng mang nhiều hơi hướm chiêm nghiệm và hoài vọng. Ở khía cạnh này, hồn du tử của họ Phùng đậm đà hơn Hồ Dzếnh. Cái tôi trữ tình của Hồ Dzếnh ở thế tĩnh tại. Còn cái tôi trữ tình của họ Phùng trong thế di chuyển. Hồn thơ đã trôi dạt khiến những cuộc tình năm cũ trở thành quá vãng, đưa kỷ vật vào kỷ niệm. “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa”.

Bờ vai nhỏ tương tư vòng tay ấm

Đêm xưa nào tựa cửa ngắm mưa bay

Hơi thở dài thương nhớ sợi tóc mai

Trống ngực đập tim sau hòa tim trước

Giai điệu thu ca đêm ngắn tình dài

Đêm qua mau rồi lạnh một sớm mai

Còn chiếc lá vàng bay ngoài cửa kính.”

(Ngắm mưa, tr.58)

Tự dưng lòng ngập tràn mối cảm hoài “Dạ vũ ký bắc” (Trong lúc mưa đêm viết thư gửi về phương Bắc) của Lý Thương Ẩn:

Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ
Ba Sơn dạ vũ trướng thu trì
Hà đương cộng tiễn tây song chúc
Khước thuyết Ba Sơn dạ vũ thì.                         

Nghĩa là, bạn (em, anh) hỏi khi nào thì trở về, trả lời rằng chưa có ngày về./Ở nơi Ba Sơn này những trận mưa đêm làm ngập tràn ao hồ trong tiết trời thu./Bao giờ chúng ta có thể cùng nhau cắt ngọn nến ở cửa sổ phía tây./Để nói chuyện về lúc mưa đêm ở Ba Sơn này.

Rõ là, tiếng mưa đối với người thơ trăm năm hay ngàn năm trong cõi người ta vẫn là chất xúc tác từ cái ẩm ướt vô cùng của hạt mưa thấm ngấm bao tâm hồn nhạy cảm rất người.

Họ Phùng thường sử dụng ngữ vựng và thi liệu quen thuộc trong thơ ca lãng mạn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhưng giọng thơ chân thành, khiến cho hình ảnh thơ không sáo rỗng. Ngược lại, ở những chỗ nhà thơ muốn phóng đại niềm xúc cảm trước ngoại vật, chạy theo đường cách tân lại khiến thơ có phần ngượng ngập. Cho nên, cái tôi trữ tình trước khi đối diện với ngoại giới, phải đối diện với chính mình. Trong cuộc hý trường chữ nghĩa, lòng mình phải thành thực với chính mình trước đã.

Cấu trúc tập thơ theo lối tuần hoàn. Khởi sinh từ mẹ, trở thành kẻ du tử phiêu lãng giữa đường đời, bắt gặp những cơn mưa số phận, giữa làn mưa nhận ra tình người và tình đời, cuối cùng trở về cũng như quy hồi bản nguyên căn cơ sinh hiện. Hình như, Phùng Quang Thuận muốn gói ghém đưa hết cõi đời vào cõi thơ. Bằng cách tự cảm nghiệm, nhà thơ dẫn bạn đọc vào trong mối cảm nghiệm giao ứng giữa người và đời.

Đặt con người như kiếp, đời, phận, số đối diện với trời đất, vũ trụ. Cảm thức con người vũ trụ là không gian/ môi sinh cho hồn thơ và kẻ tiếp nhận nương náu. Phải thừa nhận, chỉ những ai trải đời nếm mùi tân khổ, kinh qua đủ trạng huống thế thái, mới nhận ra vòng quay lẩn quẩn của sinh hiện. Nhìn từ phía khác, vòng lẩn quẩn ấy cũng là vòng tuần hoàn bất diệt. Nhận ra nguyên lý vĩnh hằng này, sẽ thấy không còn lẩn quẩn nữa.

Thời gian dường ngắn ngủi

Con người thu bé nhỏ

Bóng cọ buồn ngậm ngùi

Ngàn đời soi trăng tỏ” 

(Đền Angkor Wat, tr.43)

Cảm thức con người vũ trụ trong thơ Phùng Quang Thuận hẳn khiến bạn liên tưởng đến âm hưởng Đường thi [3]. Những bài thơ mang hơi hướng Đường thi chính là những bài thơ đặc sắc hơn cả của họ Phùng. Bởi ý và tình cộng hưởng lời thơ nhuần nhị, chất phác tạo thành sáng đẹp trong trẻo. Sự tương hợp này mang lại cho độc giả thi cảm trọn vẹn. Ý trọn vẹn, tình chân thật, lời cô đọng. Chắc vì họ Phùng chẳng màn mỹ từ pháp, chỉ cốt làm sao bộc biểu rõ ràng cảm xúc trong tâm hồn. Họ Phùng, mang cá tính thẳng thắn của người trượng phu sương gió chẳng phải kẻ thi nhân hào hoa phong nhã. Đặt thơ Phùng Quang Thuận trong bối cảnh hôm nay càng thấy đôi dòng chữ như làn nước mát. Giữa thời buổi “chạy đua vũ trang cách tân chữ nghĩa”, thơ Phùng Quang Thuận như hương đồng cỏ nội lặng lẽ góc trời bơ vơ. Nhờ vậy, đôi dòng chữ tự tại rong chơi.

Bước nhẹ tênh qua đèo truông vắng vẻ

Chân tự do không bó buộc dép giày

Đầu phơi trần khỏi ngả nón chào ai

Vui với gió cười ngây ngô trong nắng

Cài hoa rừng nghiêng ngó mây bay

Tâm vô chấp huyền đồng không ái ngại

Như hoang sơ rừng thẳm núi sông dài

Ta là ai cũng không rõ là ai?

Cùng với gió tháng ngày rong chơi mãi…

(Qua đèo, tr.38).

Cảnh đèo truông vắng vẻ khiến bạn đọc không khỏi liên tưởng đến Trung niên thi sĩ với bò vàng đồi sim trái chín[4]. Phong thái tự tại đối diện với trời đất. Con người bỗng dưng hiện diện trong nhiều chiều kích khác nhau. Ấy là, tâm thế con người – con của vũ trụ xác lập mối tương quan với thiên địa. Nhưng, thức với vũ trụ mà cảm thì có điểm khác. Chẳng phải cảm giác buồn bã rũ rượi ngậm ngùi mang mang thiên cổ sầu Đường thi, con người bây giờ đối diện với vũ trụ bằng tâm thế “chơi rỡn”. Cuộc thế mông mênh, trời đất vô cùng, thế gian vô thường, vậy thì “cố chấp” để làm gì. Biết vậy, hãy lấy “cuộc” làm “chơi”, cứ tung tẩy bước ra trời phương ngoại, mải miết vui thú tiếu ngạo giang hồ. Tâm vô chấp có hơi hướm Phật tính, lời truy vấn “ta là ai cũng không rõ là ai” có hơi hướm huyễn mộng Lão Trang. Chưa lạm bàn đến đóng góp của họ Phùng đối với nền thi ca đương thời, nhưng rõ ràng họ Phùng đã thừa hưởng những truyền thống tư tưởng lớn của Đông phương.

Bước chân du tử, sở dĩ du tử bởi niềm thúc bách tìm kiếm tuyệt đích. Niềm thôi thúc siêu hình đẩy chân người tham dự vào cuộc phiêu lưu ngã nghiêng của đời người. Trên chuyến đi tuyệt đích, dường như họ Phùng tìm kiếm bóng hình giai nhân nào đó. Hoặc giả, bóng giai nhân chính là tiếng siêu hình kêu gọi, dồn bước lãng du. Giai nhân có thể chỉ mang nghĩa biểu tượng, đại diện cho khát vọng vô hình trong tâm can. Người em cổ sơ, cách biệt trọn kiếp phải cất bước lần tìm. Em và cuộc du lãng cũng là hành trình lập thành mệnh số.

Tôi vẫn đi

Và đến những nơi mình đã chán…!

Nhưng tôi sẽ

Dừng chân phiêu lãng

ở bất cứ nơi nào

dù hẻo lánh nhất trần gian

và vui sống

những tháng ngày tự mãn

nếu biết ở nơi này

em đến đợi riêng tôi …”

(Phiêu lãng, tr.16).

Dù trải qua nhiều nơi, nhiều hoàn cảnh, song Phùng thi sĩ vẫn chưa tìm được mối tình tuyệt đích của phần số. Nhưng, nghĩa lý cuộc rong ruổi tài tử ở chỗ, đã trải và qua để còn đọng lại cảm niệm về cuộc sinh tồn. Chính điều này xác lập ý nghĩa cho cuộc lãng du của họ Phùng chứ không phải cái tuyệt đích.

Đi bao năm chưa đến miền hoàn hảo

Đợi bạc đầu không gặp lại được nhau

Đường trần gian bụi mờ chân, thiện, mỹ

Cuộc nhân sinh như vó ngựa qua cầu

(Vó câu, tr.17)

Chuyến đi của họ Phùng chẳng phải tìm cái đẹp mà là tìm chân và thiện. Đi tìm cho đời sống chân và thiện là đi tìm cho đời sống một điểm tựa khả dĩ. Điều này, cho thấy họ Phùng vẫn tin và chắc có chân và thiện. Niềm tin đó đáng quý, nhứt là giữa cuộc sống hôm nay. Trong xã hội khan hiếm lòng tin và không thể sáng tạo niềm tin. Niềm tin hay tự tín. Cho nên, niềm tin là bản diện của tâm hồn. Không thể ai cho ai, không thể sáng tạo ra. Niềm tin về chân và thiện là nguyên động lực cho cuộc du lãng tìm kiếm của họ Phùng suốt mấy chục năm qua. Đến nay, cuộc nhân sinh tan biến như vân cẩu, đường trần gian lắm khi bụi mờ che phủ chân thiện nhưng niềm tin của Phùng thi sĩ vẫn còn. Quý chính ở chỗ ấy. Và, cũng vì vậy, niềm tin đó đích thực là Mỹ.

Trên chuyến đi tìm tuyệt đích (Chân – Thiện – Mỹ) có lẽ, họ Phùng có ảnh hưởng từ ý hướng Tuệ Sỹ về cuộc phiêu lưu nhân sinh.

Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc

Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao

Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc

Một lần đi là vĩnh viễn con tàu

Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng

Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu” 

(Cánh chim trời, Tuệ Sỹ) [5].

Chí hướng trượng phu tiếu ngạo giang hồ đã bắt gặp giọt máu phiêu lưu của tu sĩ Phật Đà. Từ đó, Phùng thi nhân đi vào mộng. Phùng Quang Thuận gieo tình, lãng du, nhập mộng…

3. Cảm hứng lãng mạn: cuộc mộng và hý trường

Ẩn ức làm nên siêu tượng nước trong văn học Việt Nam, nhứt là địa hạt thơ ca [6]. Nước biến hình thành nhiều biểu hiện khác nhau: dòng sông, cơn mưa, giọt sương, biển cả, … Mưa có lẽ xuất hiện phổ biến hơn cả. Cơn mưa như phương tiện thuận lợi cho hồn thơ chan hòa lòng thơ vào thế giới. Lãng mạn chính là ở mức độ khai mở cảm xúc thành thi tính, biến ngoại giới thành nội giới. Lối “chuyển cảm” [7] này khá phổ biến trong thơ ca Đông Á. Trước có cụ Tố Như đã nói: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Kiều, Nguyễn Du). Mưa xóa nhòa ranh giới ý thức, đưa người lạc vào tiềm thức. Địa hạt cảm xúc có sức ảnh hưởng, chi phối khơi dựng vết tích thời gian còn hằn trong não tủy. Cơn mưa như chìa khóa mở ra cuộc mộng.

Tháng Chín mưa đêm dòn trên mái

Giọt mưa nao rơi vào mộng đêm này

Trời đất vào thu, ta vào đông

Nên đắp chăn bông lòng lạnh mãi” 

(Mưa tháng Chín, tr.68)

Lãng mạn còn thấy ở đặc điểm dòng âm. Họ Phùng dường như cố ý để cho âm tiết cuối dòng thơ kết thúc bằng âm vị /-j/ (i,y). Đây là, bán nguyên âm đóng vai trò phụ âm cuối, kết thúc âm tiết. Nó là âm lưỡi, vang, không mũi, khiến cho âm tiết là âm nửa mở. Không dàn trải rộng mở mà ngược lại gợi sắc thái lê thê, mỏng manh, kéo dài. Khiến cho dòng thơ dẫu kết thúc nhưng âm thanh của câu thơ còn chuốt chảy vào lòng bạn đọc. Lời thơ đã kết mà tình thơ hẳn còn vang vọng. Đặc trưng âm thanh dòng thơ khiến cho độc giả dễ nhập mộng cùng thi sĩ.

Tháng Chín mưa rào qua cỏ dại

Chuồn chuồn bay thấp nhớ thương ai

Chiếc lá vàng rơi trên cổ mộ

Giọt mưa nào nhẹ rơi trên vai

 (Mưa tháng Chín, tr.68).

Thế nhưng cũng có đôi chỗ, cấu trúc dòng âm bị sẹo lõm vì một từ, rất đáng tiếc. Thơ có nhạc tính. Nhạc hẳn có “tone”, có điệu. Một từ lạc tone coi như cấu trúc âm thanh bị phá vỡ. Tone phải hợp điệu hợp tình. Lời và ý phải cộng hưởng với tone này, tạo ra cấu trúc hài hòa thống nhất. Thơ họ Phùng chính vì như thế chưa đạt đến chỗ toàn bích. Tuy vậy bạn đọc có thể thấy được chất thơ triển vọng trong thế giới chữ nghĩa của Phùng Quang Thuận.

Mưa mùa thu đồi xa xanh cỏ

Ngày âm u phố chợ sa mù

Đàn gọi trăng bên khung cửa nhỏ

Đá chờ chim lặng lẽ thiên thu

Mưa mùa thu trên mồ xanh cỏ

Ta yêu người lung á ngàn thu …

(Mưa thu, tr.71)

Chẳng biết độc giả nghe và nhận ra tinh thần lãng mạn của họ Phùng trong bài thơ trên, khác gì điệu Boston đượm buồn. Tiếng nhạc vang lên từ lời thơ như tâm sự thở than nỗi niềm rười rượi. Để tạo ra lời tâm tình du dương, người thơ họ Phùng đã sử dụng kỹ thuật liền tiếng (legato) đánh rải móc đơn, bằng cách chuốt vỏ ngữ âm của từng tiếng với thanh điệu ở âm vực trung bình hoặc thấp, kết hợp với các âm tiết nửa mở hoặc nửa khép. Chỉ tiếc ở từ “lung á” chệch ra khỏi dòng âm thanh du dương đượm buồn. Bởi “á” vừa có thanh điệu ở âm vực cao, lại âm tiết mở; chẳng khác nào bài thơ đang ở “tone thứ”, bật ngửa qua “tone trưởng”.

Nhờ mưa, người thơ du mộng. Mộng của họ Phùng chính là quy hồi thời gian. Nhưng, thời gian của mộng tưởng không theo đường tuyến tính mà nhập nhòe ranh giới. Bởi nhập nhòe nên mới thành mộng. Mộng quá khứ dìu dặt. Tưởng thời gian phôi phai. Mộng họ Phùng là cuộc mộng tàn rữa, đang phân hủy, lụi mờ. Gồm thâu trong cuộc mộng, cảm hứng lãng mạn và cảm ứng thời tính. Thời tính là bệ đỡ tư duy, cảm ứng thời tính hẳn nhiên phổ biến, nhưng cảm ứng thời tính của họ Phùng thuộc về quá khứ. Điểm tựa thời tính của Phùng thi sĩ là cái nhìn vọng cố. Hiện tại đánh mất nhìn về quá khứ “mờ nhân ảnh”. Cái tôi trữ tình hiện diện ở nơi xa vời cách biệt. Người ta chỉ thực sự hiện diện bên nhau khi không còn nhau nữa.

Em ở đâu hỡi người của mưa sầu

Hãy về đây cùng pha ấm trà nâu

Bộ độc ẩm chỉ thêm vào một chén

Ta kề vai đồng ẩm ngắm mưa ngâu…”  

(Uống trà đêm mưa, tr.69).

Đó là cơn mưa không thể có. Mưa ngâu cũng là mộng tưởng. Cơn mộng ấy, chỉ xác tín: nghìn trùng cách biệt.

Mộng – danh lợi. Càng trầm mình trong đời sống, họ Phùng càng mong mỏi thoát khỏi đời sống. Lao mình trong chốn lợi danh tranh giật, chắc họ Phùng đã ngao ngán lẫn ê chề… Song, vòng trời đất vốn vòng oan nghiệt và nó, vận hành theo quy luật buộc ràng người nơi lợi danh. Họ Phùng, suy cho cùng, sao thoát khỏi “Cái vòng danh lợi cong cong/Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào/Cá trong lờ đỏ mờ con mắt/Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô/Tung tăng như cá trong lờ/Trong không ra được, ngoài ngờ là vui” (Ca dao). Vậy mà, họ Phùng thoát khỏi! Số là, ngoại họ Lưu – một họ quyền cao chức trọng – thuộc chính phủ Sài Gòn. Nội họ Phùng, sống chết cùng phong trào Việt Minh chống Pháp và đồng thời, “chống Mỹ cứu nước” tới ngày đất nước thống nhất. Phùng thi nhân kẹt “giữa hai làn đạn” với:

Nỗi đau ngày một ngấm sâu

Quê hương tôi khóc dưới bầu trời xanh

(Làng tôi, tr.73, Trần Bảo Định)

Sự tàn nhẫn và bi thảm của cuộc chiến đã chia cắt bao gia đình, dòng họ tan đàn xẻ nghé thay cho sum hợp trùng phùng. Vì thế, Phùng thi nhân:

Mai này lên đỉnh đèo mây trắng

Bỏ dưới chân đèo những lợi danh

Lưng gùi, áo vải, cười trong nắng

Đồi dốc, đường nghiêng bước độc hành” 

(Lên núi ca, tr.39).

Rũ mộng thành người hàn sĩ. Phùng thi sĩ tách mình khởi dòng đời bon chen. Tự tại an nhiên trong bước độc hành. Con đường cô độc chăng! Dầu gì, họ Phùng đã bước ra khỏi cuộc mộng, trở lại đời sống thực. Cuộc đời thực có đây trong giây phút hiện tại: mây trắng, đỉnh đèo, áo vải, lưng gùi, nắng trong, đồi dốc, đường nghiêng. Có sự trong trẻo của Hồ Dzếnh, và du dương tiếng sáo thiên thai của Thứ Lễ thuở trước. Nhưng khác ở chỗ, họ Phùng không tao nhã, hào hoa, người thơ trong phong thái hàn sĩ, trong dáng vẻ độc hành, làm người du sĩ ca [8] khoan thai. Nhẹ túi cũng nhẹ gánh, túi rỗng lòng không, con đường trở nên rộng mở thênh thang.

Ăn cơm hàng gánh, ngủ hiên chùa

Mặc áo hồ cừu bằng hữu đưa

Làm thơ xong thả bay theo gió

Vào thiên thu thành nhạc hai mùa

(Thi sĩ, tr.40)

Mộng – vô thường. Lãng mạn khởi từ “cảm”. Cảm tức là “chủ thể hóa” ngoại giới. Vì thế, lãng mạn phải là mộng. Lãng mạn ắt là mộng. Cái mộng tuyệt đích như Trang Chu thiên hạ đều biết. Cho nên, cảm hứng lãng mạn của thi nhân đã biến cõi thế thành cõi mộng. Nói theo Phật lý, mộng: vô thường. Phân tách tiểu mục chỉ nhằm mục đích giúp cho việc thâm nhập cõi thơ họ Phùng được thuận tiện. Kỳ thực, hương thơ chỉ một, vị thơ không hai, chẳng tách rời. Mộng cũng là thiền, cũng là tình, cũng là du tử. Mộng của họ Phùng cũng có nhiều khía cạnh. Trong đó, mộng gắn với thiền. Bởi người thơ nhận ra mộng chẳng khác vô thường. Nhận ra vô thường thì, tan mộng!

Sợi tóc trắng ngậm ngùi gương lược cũ

Gió thời gian đã hơi hướm vô thường

Thân tứ đại rồi cũng về cát bụi

Thần thức tan vào ánh sáng ngàn phương” 

(Gió thời gian, tr.127)

Mộng chỉ để vỡ mộng. Ánh sáng hay vô lượng Phật quang. Thần thức hay năng lượng sống động. Chẳng phân biệt được. Một khi tan mộng, không còn luận giải những lẽ phân biệt ấy nữa. Phùng Quang Thuận “du mộng” rồi tàn mộng. “Thần thức tan vào”, ấy là buông bỏ. Người trong thiên hạ trầm mình nhập mộng, chấp mộng nên khó buông bỏ. Ý thơ chân phương của họ Phùng vì thế đạt đến chỗ thiện lành. Và, có lẽ nhập mộng để rồi vỡ mộng. Vỡ mộng chính là nghĩa lý của hồ mộng. Du mộng để tàn mộng. Kẻ du lãng mộng tưởng đến được chỗ khiến cho mộng tàn, coi như đã cảm thấu nghĩa lý sâu xa của mộng. Coi như cũng đáng một lần mộng tưởng ở đời.

Mộng – hư không. Nói thường nhưng không chấp thường. Nói tới vô thường nhưng không chấp vô thường. Mông là hư không lại khác. Mộng như thế đã tuyệt đối hóa vô thường. Biết rằng hư không nên Phùng thi sĩ quyết rũ bỏ, thả trôi theo dòng Cửu Long. Trở về biển lớn, tức là hư không vậy! Hành động “chở” của người thơ khiến người đọc thơ nhận ra cảm thức mộng ảo. Và, bạn đọc cũng nhận ra tâm thế muốn tuyệt đối hóa vô thường của họ Phùng.

Chín dòng sông mênh mông

Chầm chậm về Biển Đông

Chở hương đồng ra biển

Chở người tình sang sông

Chở bạn bè biền biệt

Chở đời vào giấc mộng

Chở hoa vào biển rộng

Chở chiều vào hư không

(Cửu Long giang, tr.27)

Chỉ là, đứng trước cửa thiền chưa bước vào! Người thơ họ Phùng, vừa chạm nhưng chưa đụng!

4. Giác – tỉnh thức trong giây phút hiện tại

Chất thiền hay khuynh hướng Phật giáo trong thơ họ Phùng không nằm ở chỗ chuyển tải giáo lý uyên thâm Phật môn, mà ở chỗ biểu lộ sự tỉnh thức trong giây phút hiện tại. Ở khía cạnh này, thơ Phùng Quang Thuận gần gũi với “Thử tìm dấu chân trên cát” của Nhất Hạnh[9]. Cảm đời vô thường thành ra ngộ, bỗng dưng thức tỉnh giữa bốn bề đời sống ngổn ngang. Chẳng dùi mài kinh sách, họ Phùng lao thân trầm mình vào kinh khổ của đời. Một hôm giật mình, “đốn ngộ”!

Ta khách hành hương vào vô định

Truy tìm tuyệt đối giữa bình minh

Nhật mộ tần ngần trên cổ độ

Hốt nhiên đốn ngộ cười một mình

(Hành hương, tr.126)

Nụ cười đốn ngộ. Cuộc vô định mông mênh, con người rủi mình tìm cái tuyệt đích ở đời. Lấy đó làm nghĩa lý theo đuổi. Kẻ thế gian biết bao người cuồng vọng, ngưỡng tín ở chỗ cao xa vĩ đại, ước ao lập nên công trạng hiển hách cho hậu thế phải nhớ mấy chữ làm danh. Mải miết truy tầm, lập thành kiếp – đời – phận, lăn trở lộn mèo không biết bao nhiêu lần phong ba, cuối ngày tần ngần mỏi chân lữ khách, “hốt nhiên”! Nụ cười của mình với mình, nụ cười gói trọn tiếng khóc vô thinh, nụ cười “đốn ngộn”. Khiến “ta” nghĩ, cuộc thế này rốt cuộc có đây để làm gì, “ta” tìm kiếm gì trên cõi thế, “ta” kỳ vọng chi “giữa kiếp người, ta chỉ đến rồi đi. Bỗng dưng trời đất sạch làu vọng tưởng. An nhiên!

Sở dĩ sáng bởi vì sau khi “đốn ngộ”, tỉnh thức khỏi mộng ảo phù phiếm của đời, người thơ chất ngất giữa niềm hoan hỉ bất tận. Rũ sạch bám víu hội phù hoa, trở về khu rừng nguyên thủy, nhấc từng bước nhẹ tênh lên đỉnh núi hát bài thiền ca.

Mai này lên đỉnh phù vân đó

Dắt chó đi săn lại chính mình

Chôn lấp tro tình vào nội cỏ

Bỏ ngàn kinh quyển suối u linh

 (Lên núi ca, tr.39)

Từng nghe nói, muốn nhìn thấy trăng phải rời bỏ ngón tay chỉ trăng, muốn sang bờ phải nhờ đến thuyền nhưng muốn lên bờ phải bỏ lại thuyền. Họ Phùng bừng tỉnh như thể mở ra buổi bình minh xán lán. Hoan hỉ rũ bụi đường đời, chôn lấp tro tình, bỏ tất cả kinh điển dưới lòng suối. Đứng trên đỉnh phù vân, người thơ nhìn thấy rõ phù vân. Họ Phùng dẫn bước bạn đọc tìm đến buổi bình minh tỉnh thức.

Mai này lên đỉnh đèo hoang vắng

Tìm lại chơn tâm dẫu muộn màng

Bình minh tựa cửa nhìn sương trắng

Khuya ngắm ngàn sao hội tinh quang

 (Lên núi ca, tr.39)

Người tìm lại chơn tâm, an nhiên hòa mình vào đại ngàn. Bình minh, đêm khuya cùng một thể với hồn người. Dường như họ Phùng đánh mất chủ thể tính. Dẫu nói rằng tìm lại chơn tâm, nhưng không có nghĩa người thơ chấp ngã. Phùng thi sĩ phá bỏ ranh giới phiên biệt, vách ngăn hố thẳm giữa ta và người, giữa ta và trời, giữa chủ thể và tha thể. Mang tâm thế này, người thơ lên đỉnh đèo hoang vắng. Người đi về miền khoáng lâm sơn dã bằng trái tim hoan hỉ dũng mãnh. Đi về phía hư vô, cũng là đi về phía vô lượng vô cùng vô tận, đi về phía tịch diệt cũng là đi về phía vĩnh hằng. Bình minh, khuya tan, dẫu chỉ là khoảnh khắc. Tuần hoàn cũng khoảnh khắc, ấy là bất diệt muôn đời. “Trời đất vô cùng một cuộc chơi!”. Ngẫm, cần gì hư danh phù phiếm, chỉ có ánh trăng núi soi tỏ bốn bề …

Mai này lên đỉnh đèo sương giá

Cuốc đất trồng hoa ướp lá trà

Quên ngày, quên tháng, quên tên họ

Vỗ bầu hát khúc nguyệt minh ca …” 

 

(Lên núi ca, tr.39)

Lời thơ trong sáng, âm hưởng tươi tắn, thanh thoát. “Lên núi ca” là bài thơ hay và sáng trong tập thơ “Bến vắng”. Tuy nhiên, xét ở góc vi mô, từ ngữ có lẽ nên trau chuốt thêm. Cổ nhân từng mất công đứng dưới trăng ngẫm chuyện “thôi xao”, cốt tìm một từ ngữ phù hợp, tạo thành chỉnh thể hình thức trọn vẹn. Thao tác ngôn ngữ triển hạn hai trục: trục kết hợp và trục lựa chọn. Người làm thơ dụng công cơ bản trên hai đường hướng này. Lên núi ca là một bài thơ hay nhưng đôi chỗ còn sượng. Dường như tác giả chưa chú ý lắm đến trường từ vựng cùng quan hệ liên tưởng. Ví như “chó đi săn” vượt ra ngoài trường liên tưởng của phù vân, nội cỏ, u linh,… khiến cho cấu trúc âm thanh và ý tứ chông chênh. Những “vết sẹo” ngôn từ đáng tiếc như vậy làm ảnh hưởng đến chất lượng bài thơ.

Bởi, thiền ngôn của Tuệ Sỹ dày Phật lý. Thơ Tuệ Sỹ dường như hướng người đọc từ chỗ giác rồi ngộ, từ mắt ngó tới chân tâm, thấy rồi hiểu. Trong khi lời thơ của họ Phùng chỉ mới dừng ở giác. Vì sao giác? Vì họ Phùng đã nhập mộng rồi tỉnh mộng. Tình tan mộng tàn, giác ở chỗ ấy. Còn ngộ? Có lẽ chưa bàn vội tới chữ ngộ trong thơ họ Phùng. Do chủ đích người thơ không đặt tới chỗ ấy và vì vậy, không thể gán cho họ Phùng cái không có.

Thời gian đi khấp khiểng

Để rụng phấn rơi hồng

Tơ nắng dài tâm sự

Bồi hồi mộng vẫn không” 

 (Bồi hồi, Tuệ Sỹ) [10]

Với họ Phùng, cảm ứng thiền trở thành vô ngôn:

Như tượng đá bên dòng đời vội vã

Tháng ngày trôi ta lặng lẽ cúi đầu

Con bói cá đứng trên đầu thổ tả

Gần trăm năm … ta có nói chi đâu!

 (Kham nhẫn, tr.139)

Vô ngôn, biết đâu là huyền ngôn!

Tạm kết 

TÌNH-DU-MỘNG-GIÁC. Hương vị, đồng thời cũng là nhịp thời gian trong thơ Phùng Quang Thuận. Vì tình, trở bước lãng du và cũng là, nhập mộng giữa cuộc hý trường, để một sớm mai sực tỉnh. Ấy là, quá trình vận động hồn thơ họ Phùng.

Trong làng chữ nghĩa, hồn thơ hiền hậu chân thành là điều đáng quý ở Phùng Quang Thuận. Có lẽ, vì họ Phùng đến với chữ nghĩa bằng tính khí Nam Bộ – tính khí chất phác, thiện lương – “Nghĩ sao nói vậy”. Không hẳn không biết mỹ từ pháp. Nhưng, trau chuốt mỹ từ làm gì khi lòng đã Chân, tính đã Thiện, chẳng phải đã thành Mỹ rồi sao!

Họ Phùng, hãy giữ nguyên khôi bản diện hiền hậu chân thành; hãy tin và bước vững về phía Chân – Thiện sẽ thủ đắc cái Mỹ thuần khiết. Người thơ không cần băn khoăn về cuộc “chạy đua cách tân” hôm nay. Những bài thơ thể nghiệm của họ Phùng, nhằm đổi mới hình thức thơ, đôi khi đánh mất cá tính và chất thơ đặc thù riêng vốn có được kết tụ từng hạt phù sa sông nước miền Tây sông Hậu. Ngược lại, ở những bài thơ có hình thức quen thuộc, hồn thơ và lời thơ hòa quyện, tương thích cùng bản diện thi sĩ. Sự hòa hợp ấy tạo nên nét chân phương đáng quý. Không nhất thiết vận động về phía mới. Bởi, thời gian đã minh chứng bao nhiêu “cái mới” giờ đã hóa ra cũ kỹ. Mới/cũ chỉ là nghĩa lý thời tính. Hẳn rồi trôi tuột như nước chảy qua cầu. Cho nên, mới cũ cũng chỉ là khái niệm tạm bợ. Chợt nhớ, Phù Dao tiên sinh thuở trước cũng từng có lời bàn [11]. Thơ không có cũ mới, chỉ có thơ hay dở. Khởi tình sinh ý thành lời, hòa hợp được, ấy là toàn bích.

Đọc thơ họ Phùng, sẽ nhận ra thơ ca trăm họ đương thời rủi chạy quay cuồng theo đường cách tân, tìm kiếm liên tục cách thức mỹ từ trau chuốt khuôn diện thể thế sao cho mới mẻ hiện đại đến nỗi… mục rữa tâm hồn. Chữ nghĩa cơ hồ trống rỗng. Phần vì thiếu thành thực, phần lại thừa “xiêm áo”. Có thể lòe mắt người nhất thời nhưng không thể mị hồn người mãi được! Có lẽ, họ Phùng cũng nhận ra điều này, cho nên người chẳng phấn son, làm dáng làm duyên, làm điệu làm cách,… Hồn nhiên từ cốt lõi tự nhiên hóa ra chơn tình và chơn tình ấy, di truyền từ lòng ái quốc ly hương hòa vào cá tính Nam Bộ – lưu dân biệt xứ – lập thành!

Lão đầu bạc về quê đất Bạc

Đi qua cầu nhớ bạn Triều Châu

Nhớ dưới sông cá chốt nổi đầu

Nhớ tha thiết bao người năm cũ

(Về Bạc Liêu, tr.165)

Bến Vắng nghiêng chiều. Ngoài sông, nắng cuối ngày rỉa lưng sóng nhấp nhô đớp chân cầu đợi thuyền viễn xứ quay về!

TRẦN BẢO ĐỊNH

…………………………………..

[1] Câu thơ trong bài Giục giã của Xuân Diệu.

[2] Hồ Dzếnh (1969). Quê ngoại. Hoa Tiên xuất bản. Sài Gòn.

[3] Xem thêm Nguyễn Thị Bích Hải (2007). Thi pháp thơ Đường. Nxb. Thuận Hóa. Huế.

[4] Bài thơ “Anh lùa bò vào đồi sim trái chín” của Bùi Giáng (1962). Mưa nguồn. Trang Phượng xuất bản, Saigon.

[5] Tuệ Sỹ (2002). Giấc mơ Trường Sơn. An Tiêm xuất bản. California.

[6] Nguyễn Thị Thanh Xuân (2009). Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam; trong Nhiều tác giả (2009). Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức (Tuyển tập chuyên khảo do Viện Harvard-Yenching tài trợ). Nxb. Thế Giới. Hà Nội.

[7] Agosta L. (2014). From a Rumor of Empathy to a Scandal of Empathy in Lipps. In: A Rumor of Empathy: Rewriting Empathy in the Context of Philosophy. Palgrave Macmillan, London, pp 53-65.

[8] Du sỹ ca của họ Phùng không phải kiểu du sỹ ca/cuồng sỹ ca trong “đêm nguyệt động”. Phùng thi sĩ không cuồng, bởi vẫn nét hiền hậu, chỉ là kẻ đa tình lãng mạn du mộng.

[9] Nhất Hạnh (2019). Thử tìm dấu chân trên cát (Chơn Không Cao Ngọc Phượng sưu tầm và biên soạn). Nxb. Phụ nữ. Hà Nội.

[10] Tuệ Sỹ (2002). Giấc mơ Trường Sơn. An Tiêm xuất bản. California.

[11] Nguyễn Văn Hạnh (1935). Nói chuyện về thi (thi cũ và thi mới) – Mấy lời đã nói tại Hội khuyến học Nam kỳ ngày 9 Janvier 1935 hồi 9 giờ tối (bài tựa của ông Phan Văn Hùm viết tại Chợ Quán ngày 23/1/1935). Imprimerie de L’Union (57 rue Lucien Mossard), Saigon, tr.iv-v.

Tài liệu tham khảo:

–  Agosta L. (2014). From a Rumor of Empathy to a Scandal of Empathy in Lipps. In: A Rumor of Empathy: Rewriting Empathy in the Context of Philosophy. Palgrave Macmillan, London, pp 53-65.

– Hồ Dzếnh (1969). Quê ngoại. Hoa Tiên tái bản. Sài Gòn.

– Bùi Giáng (1962). Mưa nguồn. Trang Phượng xuất bản, Saigon.

– Nguyễn Thị Bích Hải (2007). Thi pháp thơ Đường. Nxb. Thuận Hóa. Huế.

– Nhất Hạnh (2019). Thử tìm dấu chân trên cát (Chơn Không Cao Ngọc Phượng sưu tầm và biên soạn). Nxb. Phụ nữ. Hà Nội.

– Nguyễn Văn Hạnh (1935). Nói chuyện về thi (thi cũ và thi mới) – Mấy lời đã nói tại Hội khuyến học Nam kỳ ngày  9 Janvier 1935 hồi 9 giờ tối (bài tựa của ông Phan Văn Hùm viết tại Chợ Quán ngày 23/1/1935). Imprimerie de L’Union (57 rue Lucien Mossard), Saigon, tr.iv-v.

–  Tuệ Sỹ (2002). Giấc mơ Trường Sơn. An Tiêm xuất bản. California.

– Phùng Quang Thuận (2021). Bến vắng (thơ). Nxb. Tổng hợp TPHCM.

–   Nguyễn Thị Thanh Xuân (2009). Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam; trong Nhiều tác giả (2009). Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức (Tuyển tập chuyên khảo do Viện Harvard-Yenching tài trợ). Nxb. Thế Giới. Hà Nội.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.