Bão đời – Truyện ngắn của Đoàn Trọng Hải

Vanvn – Chị bước vào nhà. Nửa phần ban ngày, nửa phần ban đêm đảo lộn. Không biết từ bao giờ, chị ở trong trạng thái tinh thần bất ổn như vậy. Nhiều khi ánh nắng của ngày chưa tan chị lại thấy toàn bóng tối. Nhưng lúc bóng đêm phủ kín ngôi nhà, bao trùm cả làng biển và đen ngòm bãi cá ngoài kia thì chị chỉ thấy toàn ánh sáng. Thứ ánh sáng trắng xóa, tung tóe của muôn ngàn con sóng vỡ ra cùng một lúc giữa đại dương mênh mông…Nó sáng chói mắt, đến nổi không cho chị nhìn thấy được gì, chỉ lởn vởn những bóng con tàu, nhưng không có bóng con người.

Nhà văn Đoàn Trọng Hải ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Bãi cá thôi ồn ào, náo nhiệt. Những người làm công việc khuân vác cá từ thuyền lên bờ và giới thương buôn đã tản ra, rời khỏi bãi. Những con thuyền được neo đậu vào bờ, yên nghỉ sau một chuyến ra khơi. Bãi cá giờ đây chỉ còn bóng dáng mấy đứa trẻ con và vài người đàn bà; họ cắp chiếc rỗ nhỏ đi đi lại lại tìm nhặt những con cá hỏng, dập nát mà người ta bỏ lại.

Chị chưa vội về, mặc dầu đã thấm mệt vì thời gian khuân vác cá khá dài. Chị tranh thủ kiếm thêm ít cá hỏng cho bữa cơm hàng ngày. Những thứ cá nát, tôm hỏng người ta vứt bỏ- với chị và những người đàn bà mất chồng nghèo khổ trong làng- lại là một nguồn sống. Số tiền công chủ trả cho những người làm công việc khuân vác như chị, chẳng là bao, tiện tặn lắm mới đủ trang trải, nếu không sẽ rơi vào cảnh thiếu trước hụt sau. Nhưng chị cũng không thể tìm công việc tốt hơn cho cuộc sống. Sống ở làng biển heo hút này. Lại góa chồng. Con còn quá nhỏ. Không trình độ, bằng cấp. Chị làm được gì chứ? Chị đành phải xin làm công việc khuân vác cá, rồi tranh thủ thời gian nhặt thêm ít cá ương cá nát đem về. Những khi nhặt con cá hỏng nát trên tay, lòng chị cũng dập nát không kém.

Trời đột ngột trở gió. Sóng biển tung trắng xóa bãi. Các con thuyền neo đậu trên bến lắc lư. Bọn trẻ nhanh chân chạy lên phía hàng dương. Chị và vài người đàn bà trong làng cũng rời bãi cá. Chỉ một thoáng, nước triều nuốt hết bãi cá.

Người đàn bà đi bên cạnh chị nét mặt đầy vẻ lo lắng: “Chắc bão nữa rồi!” Nhưng chị chẳng nghe thấy tiếng bà nói, chỉ có tiếng gió thét ầm ào từ biển về phía làng. Những cột sóng đen ngòm, dựng đứng, nổ ra vô số khối nước nhảy múa cuồng điên trên những thân tàu. Biển gầm gào kinh sợ với bài bi ca bất tận…

Từ bãi cá quay trở lại làng, những khi biển động bất ngờ thế này, thường hay kéo giật chị lại. Chị đi chậm hơn. Từng bước chân của chị như lún sâu trong cát ướt, cố lắm mới rút ra được mà bước tiếp…

Chị nghe rất rõ tiếng nước biển tràn lên đằng sau lưng. Rồi tiếng sóng vỗ một lúc một lớn bao quanh chị…

***

Gió hú từng hồi thê thiết. Gió càng lúc càng dữ dội. Làng biển co rúm lại phía sau những hàng dương đang cố gồng mình lên che chắn. Nhưng rồi những hàng dương cũng đành bất lực trước trận cuồng phong đang cơn thịnh nộ. Ngôi làng nhỏ heo hút nằm gần biển bị vứt bỏ đi một cách không thương tiếc. Giờ nó còn trơ lại một ngọn đồi cát với những căn nhà đổ nát…

Bão tan. Biển lặng. Người làng đi tránh bão quay trở về làng ai nấy đều mang theo gương mặt hốc hác, u tối. Mùi tanh nồng của tôm cá và cả mùi hôi thối của rác rưởi, của súc vật chết đang phân hủy bốc lên, gây cảm giác buồn nôn đến lạ. Ấy vậy mà bầu không khí vẩn mùi thôi thối, ngai ngái đó chẳng khiến người làng khó chịu. Họ như quên tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh mình. Họ tất tả đi kiếm tìm, nhặt nhạnh những thứ vật dùng còn sót lại sau bão. Họ dựng vội vàng căn lều làm nơi trú tạm. Chống lại những căn nhà bị đổ.

Thế nhưng, họ không bận tâm nhiều đến việc nhà cửa bị bão quật mà rối rít hỏi tên những người trong làng chưa thấy trở về. Những con người bật tăm nơi biển khơi sau bão; họ đang lánh bão nơi nào đó chưa kịp quay về hay trôi dạt giữa biển cả mênh mông làm mồi cho cá dữ? Sự thắc thỏm, lo sợ hiện rõ mồn một trên gương mặt từng người. Dường như ai nấy cũng đều chung tâm trạng. Họ ngẩng mặt lên, lồ lộ đôi mắt đỏ ngầu như nhau, nhìn về phía biển… Có người vội vã bước đi mà không hiểu mình sẽ đi đâu? Cứ thế, họ đi. Đôi chân to bè của người vùng biển mãi bước; rồi dẫm phải vỏ ốc hay vỏ hàu sắc lạnh, bàn chân máu chảy lênh láng cũng chẳng hề biết đến nữa. Bãi cát dài ra, bỏ lại đằng sau loang lổ dấu chân người, có dấu chân hằn vết máu và chẳng mấy chốc nước triều dâng, xóa mất. Có người bỗng nhiên bật cười hơ hớ. Tiếng cười chẳng giống của một con người đang tỉnh hay điên, nhưng họ biết rất rõ rằng: tiếng cười ấy làm cho đôi mắt họ bớt đỏ ngầu hơn, đôi chân họ bước nhanh hơn. Họ phải đi dù chưa biết đến nơi nào còn hơn là họ ở lại làng đối diện cảnh hoang tàn, xơ xác sau bão và tuyệt vọng trong nỗi đợi chờ bóng người thân.

Bao người hớt hải ra đi, khiến chị không thể nán lại. Chị bồng đứa con dại vừa tròn tuổi nhắm hướng biển mà bước tới. “Bão biển đã lấy đi nơi chị ngôi nhà che mưa che nắng; có lẽ không nỡ lấy thêm ở chị người chồng thân yêu” – Chị thầm nghĩ và chị hi vọng sẽ gặp lại được chồng. Con chị rồi cất tiếng khóc mừng cha nó trở về. Thế mà hơn mười ngày, rồi cả tháng trôi qua, chị chờ chồng trong vô vọng. Đã biết bao con thuyền quay về đất liền, nhưng trong số đó không có con thuyền nào đưa chồng chị theo về. Bãi biển thưa vắng dần bóng người. Một vài người trong làng cố ở lại đợi chờ giống chị an ủi nhau bằng ánh mắt cạn dần niềm hi vọng. Cuối cùng, họ thất thểu dìu dắt nhau trở lại làng.

Gió biển thổi tới, tung chiếc khăn trùm, đứa bé giật mình khóc thét.

Chị vẫn đứng lặng trên bãi. Miệng cứ lẩm nhẩm điều gì đó trong vô thức. Bóng dáng chồng chị mơ hồ, rập rờn tan biến theo bọt nước trắng xóa…

***

“Mẹ… Sao mẹ về lâu quá! Con sợ lắm…” Đứa bé chạy ào ra. Nó túm chặt lấy chân chị. Vừa mếu máo nói, vừa thút thít khóc.

Tiếng khóc của con đánh thức chị. Thì ra chị đã về đến nhà rồi. Gió tát thẳng lồng ngực tưng tức tự sớm giờ khiến chị thở hắt từng hơi. Những con sóng loáng thoáng nỗi kinh hoàng trong tâm trí chưa tan hẳn được, có lẽ nó còn gây bão tố suốt cả quãng đời chị.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Đại Giang

Chị bước vào nhà. Nửa phần ban ngày, nửa phần ban đêm đảo lộn. Không biết từ bao giờ, chị ở trong trạng thái tinh thần bất ổn như vậy. Nhiều khi ánh nắng của ngày chưa tan chị lại thấy toàn bóng tối. Nhưng lúc bóng đêm phủ kín ngôi nhà, bao trùm cả làng biển và đen ngòm bãi cá ngoài kia thì chị chỉ thấy toàn ánh sáng. Thứ ánh sáng trắng xóa, tung tóe của muôn ngàn con sóng vỡ ra cùng một lúc giữa đại dương mênh mông…Nó sáng chói mắt, đến nổi không cho chị nhìn thấy được gì, chỉ lởn vởn những bóng con tàu, nhưng không có bóng con người.

Trong thoáng chốc, chị đứng trước bàn thờ chồng. Miệng chị lại lẩm nhẩm một điều gì đó…mà chị đã từng lẩm nhẩm cách đây gần sáu năm ở ngoài bãi biển, đợi chồng trở về trong nỗi tuyệt vọng.

Chị rút lấy nén nhang, châm lửa, một đốm sáng thắp lên.

Bên ngoài cửa sổ bầu trời đêm đông đặc. Không khí khô kín khắp căn nhà, mặc dù gió từ biển vẫn thổi vào lồng lộng…

“Ăn cơm đi mẹ! Con đói …” – đứa bé gắt lên. Chị giật mình. Chị vội cắm nắm nhang vào chiếc lư hương bằng đất nung. Chị quay sang con bé, đưa tay xoa đầu nó. Con bé lúc này tỏ vẻ giận dỗi, nó lắc đầu, hất tay mẹ ra. “Cho mẹ xin lỗi”- chị thều thào-rồi chị cúi xuống dỗ dành con, và dắt lấy nó. Đứa bé thôi giận dỗi. Nó bước bên mẹ, nhưng vẫn còn thin thít khóc…

Đã nhiều lần chị quên bấn việc cơm nước cùng con. Nhưng hôm nay có lẽ là muộn nhất. Mọi hôm, vào thời điểm này, mẹ con chị đà xong bữa.

Nhưng hôm nay con bé bị bỏ đói. Nó loạng choạng theo mẹ. Mặt mũi lem luốc, bê bết bụi đất bụi cát.

Hai mẹ con chị lò dò xuống bếp. Chị quơ mấy que củi nhóm lửa, làm bữa cho con. Bếp lửa vừa bập bùng cháy đã bị gió lồng vào ném tung tóe, tàn lửa bay tới tấp khắp hướng. Chị phải đi tìm đồ che chắn gió và nhóm lại. Cái đốm sáng vừa nhen nhóm lên kia đã tắt lịm. Nhưng không sao, nó sẽ sáng lên từ đôi bàn tay chị.

Ngôi nhà trống trước hở sau quằn quại trong bóng tối và gió biển. Nhưng nó vẫn đứng trên ngọn đồi cát qua những tháng ngày bấp bênh, đầy sóng gió.

“Sao chú Ba không sang giúp mẹ thổi lửa?” – con bé thắc mắc. Lòng chị bỗng ngổn ngang. Trước đây chú Ba hay qua nhà giúp chị thổi bếp. Những khi chị về muộn bếp lửa kia đà cháy lên. Con bé thường đứng nhìn tàn lửa bay cười khúc khích. Ngôi nhà vốn tối tăm, lạnh lẽo khi ấy trở nên ấm áp lạ lùng.

Chị lặng thinh, không thể trả lời cùng con. Chị biết giải thích thế nào đây cho con bé hiểu. Chị biết con bé mến chú Ba. Có thể nó đang mong muốn chú Ba sang lắm! Gần cả năm rồi, chú Ba chưa sang đây. Con bé hỏi là phải rồi. Nó không phải hỏi chị một cách ngẫu nhiên đâu, chắc là nó nhớ.

Chú Ba là người trong làng, tốt bụng, giúp mẹ con chị vượt qua khó khăn cuộc sống từ sau khi bão dữ đi qua làng. Con người đó trạc tuổi chị, cao lớn, vạm vỡ với thân hình quen thuộc của người vùng biển. Những khi nhìn thấy dáng đi của chú từ xa, chị liền tưởng đó là bóng dáng của chồng mình.

Cánh đàn bà ở làng biển này, ai cũng thèm khát một người đàn ông có thân hình như thế. Nó không đơn thuần chỉ là nổi thèm khát xác thịt mà còn là nơi để họ tựa vào, cùng nhau chống chọi, đương đầu với sóng gió những khi làng biển động. Sống ở làng biển heo hút, bão giật thường xuyên, thiếu vắng người đàn ông giống như ngôi nhà mất đi cái cột chính.

Từ hôm biết chồng chị không thể quay trở về, chú Ba thường sang giúp đỡ chị. Chú động viên chị vượt qua nỗi đau. Chị không thể để cho nỗi đau mất chồng quật ngã mình như cơn bão vừa qua quật ngã ngôi làng.

Ngôi làng rồi hồi sinh trở lại. Chị rồi cũng sẽ có cuộc sống tươi đẹp ở phía trước. Chú bảo: chị nên tin vào điều đó.

Con người phải biết bước qua nỗi đau. Chị cố mà bước qua nó. Nhưng sao mà khó đến thế! Bao năm, chị vẫn là chị. Chẳng có sự thay đổi gì. Đôi lúc, chị rùng mình không dám nghĩ đến cuộc sống phía tương lai ra sao. Chị phó mặc cho số phận, đơn giản với nếp nghĩ: “Sống được ngày nào hay ngày đó. Bước được bước nào hay bước đó.”

Rồi có những đêm, không ngủ được, chị ngồi thừ người nghĩ ngợi mung lung. Nhìn con ngủ say, lòng chị thắt lại. Và chẳng hiểu vì sao chị quả quyết với chính mình: “Mình phải sống! Dù thế nào mình cũng gắng sức đi hết quãng đời. Mình không thể bỏ nó. Nó cần có mình biết bao! Nó không thể sống thiếu mình!”

Bầu bạn cùng chị lúc này thường là những giọt nước ấm nóng sôi lên ở trên mắt. Chị không dám đoán chắc cuộc sống của hai mẹ con chị rồi sẽ ra sao. Nhưng ít ra, lúc này đây, chị không hề có tâm trạng chán nản hay tuyệt vọng. Chị khóc, không phải vì buồn tủi hay bi quan, mà là khóc vì mình không thể không khóc.

Cái ý nghĩ không thể tách rời khỏi con đem đến cho chị nghị lực sống. Nó thôi thúc chị bước qua những ám ảnh của bão tố cuộc đời. Thế là chị quyết định ở lại làng biển, bỏ ý định đi nơi khác tìm kế sinh nhai.

Chị làm công việc khuân vác cá ở bãi cá. Công việc này đối với chị tuy nặng nhọc nhưng chị cũng phải gắng. Nó giúp mẹ con chị sống tạm bợ qua ngày. Vả lại, chú Ba cũng làm việc ở đây. Phần nặng nhọc thường hay rước thay cho chị, nỗi vất vả vơi bớt đi. Hơn thế nữa, là không biết từ khi nào, chị nhận thấy chú Ba đã âm thầm mang đến bên chị một niềm vui mới để sống. Trong tận cùng của sự đau khổ, nhọc nhằn, chị vẫn tìm thấy được niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nơi cuộc sống từ đứa con thơ và sự hiện diện của chú Ba.

Thế nhưng cuộc đời con người đâu dễ bình lặng như họ mong muốn. Bão tố chưa kịp tan thì bão đời đã thổi tới. Sự xuất hiện của chú Ba giúp cuộc sống mẹ con chị vơi bớt khó khăn, lại vô tình đem đến cho chị những sóng gió mới. Thứ sóng gió âm ỉ trong sâu thẳm tâm hồn chị tạo thành những cơn bão lòng quật nát tâm trí chị. Nó chẳng một ngày nào để chị bình yên cả. Nó cứ mãi khiến chị nhớ đến cái lần mà chị khép cẩn thận cửa buồng tắm, nhốt mình trong đó hàng giờ, ngắm từng đường cong trên cơ thể và đưa tay ấn nhè nhẹ vào những chỗ mềm mại, nghe hơi thở hổn hển chạy dọc khắp thân người. Chị đã phải nhanh chóng vục mặt vào thau nước lạnh ngắt, cố cắt đi cái thứ cảm giác khao khát rừng rực ấy. Và ngay khoảnh khắc đó, chị đối diện với một nỗi bất lực hiện hình. Chị biết mình chẳng thể nào dập tắt được sự ham muốn trần thế ấy. Rồi thấy mình nhục nhã. Thấy mình mang tội với chồng. Xấu hổ cùng con. Và chị quằn quại, đau đớn đến tột cùng. Mắt chị đờ đẫn, tóc chị rối bù, tuôn xuống trùm hết mặt thau, bết hẳn trên nền đất.

Sau lần đó, nhiều đêm ánh đèn leo lét ma mị giường ngủ chị. Chị hay mơ thấy chồng nằm cạnh bên mình. Vòng tay chồng rắn chắc ôm xiết lấy chị. Hơi ấm lan tỏa toàn thân thể, nóng bừng nơi ngực và vùng bụng dưới của chị. Chị thủ thỉ với chồng bao nhiêu thứ chuyện… Rồi khi đứa bé trở mình, rúc vào nách chị, đưa đôi bàn tay mềm mại ôm lấy chị, chị choàng tỉnh giấc, tất cả mọi thứ đều vụt tan biến… Trên giường chỉ còn có hai mẹ con. Đứa bé ngáy ngủ đều đều. Còn chị thì nằm lặng im trong bóng tối, kéo chăn che kín mặt, độc thoại bằng nước mắt.

Chú Ba vẫn vậy, thỉnh thoảng đến nhà chị chơi cùng con bé. Nhưng chú bắt đầu ngờ ngợ nhận ra: có một điều gì đó đang thay đổi ở chị. Rồi chú hiểu, từ đó, chú rất ít sang bên nhà chị.

Mùi cá kho hăng hoắc bốc lên. Nó thoang thoảng mùi mồ hôi của chồng, của chú Ba và cả của chị. Cái mùi quen thuộc đó như đã đóng cặn trong tâm trí chị.

Chị nhấc nồi cá kho xuống, đi lấy chén bát. Mẹ con ngồi xó ró nơi góc bếp dùng bữa. Con bé cầm chén, và lấy và để cơm trắng trong lúc mẹ nó chưa kịp cho phần thức ăn vào. Giờ chị cũng nghe cảm giác của cái đói tràn tới, nhưng chưa buồn ăn. Hai bóng người lờ nhờ in trên vách, lúc ngả lúc nghiêng theo ánh lửa chập chờn. Biển ngoài kia nhàu nhĩ khúc ca buồn thê thiết…

***

Trời sáng trắng từ lâu, chị biết thế, và gượng ngồi dậy. Đầu chị lúc này nặng trình trịch. Đôi mắt còn nhắm híp lại, chẳng buồn mở. Chị phỏng đoán mình đà có dấu hiệu của bệnh tật, mấy thứ bệnh linh tinh trong người chị trước kia chắc đến thời kì phát tác. Điều mà chị lo lắng nhất nó đã tới, cách đến của nó cũng thật bất ngờ như sóng dữ ập vào làng biển gần sáu năm về trước. Vị giác chị xuất hiện trạng thái lạ, chất đăng đắng lan khắp khoang miệng và lên tận đầu lưỡi, gây cảm giác buồn nôn không thể cưỡng lại được. Thế mà trong chốc lát chị đã quên mất đi cái vị đăng đắng đó. Có một nỗi đắng chát lớn hơn, ngập tràn trong mọi ngõ ngách tâm hồn và đè nặng lên thân thể chị.

Tiếng í ới của con bé, tiếng gọi và tiếng cười sang sảng của người đàn ông ở phía hàng dương, trước ngôi nhà văng vẳng bên tai chị. Chị đoán rằng: con bé và chú Ba đang chơi đùa với nhau. Gần một năm trời, con bé mới được cười đùa, vui vẻ. Chị ao ước hôm nào nó cũng có được niềm vui như thế. Tuổi thơ con chị thiếu vắng bóng dáng người cha nên nó rất cần tiếng cười nói nơi chú Ba. Chị hiểu thế! Nhưng chị biết làm gì hơn ngoài việc mong đợi một điều gì đó, ấm áp như nắng mai ngoài kia, nó sẽ đến bên chị và đứa trẻ. Điều mà chị đang chờ đợi vốn mong manh giống như bọt sóng tan biến giữa biển khơi.

Chị ra nơi cửa sổ, hình ảnh đầu ngày đập vào mắt chị là đứa trẻ thơ và người đàn ông vạm vỡ đang nghịch cát, chạy nhảy tung tăng dưới hàng dương xanh rì. Những cây dương bị bão quật gãy đổ, giờ ngọn đã vút lên nền trời xanh thẳm. Bão đời còn mãi thổi, nhưng chị sẽ như hàng dương kia đương đầu với cuộc sống mới…

ĐOÀN TRỌNG HẢI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *